Hôm nay mình có một bệnh nhân Vảy nến thể ban đỏ (EP) và cũng ở giai đoạn nặng nhất. Mình cũng không chắc là chữa được, và mình cũng thẳng thắn chia sẻ với bạn đó như vậy. Tuy nhiên nếu thấy khó mà không xông vào thì cũng không phải tính cách của các bác sĩ ở Túy Y Đường, chỉ là cần nói rõ ràng trước để bệnh nhân cũng đừng trách móc nếu y thuật còn chưa tinh.
Bệnh vảy nến chia làm 8 thể (Plaque, Guttate, Inverse, Pustular, Erythrodermic, Psoriatic arthritis, Nail, Scalp), Ngoài ra còn có các loại bệnh vẩy nến phụ, chúng xuất hiện khác nhau tùy thuộc vào vị trí của cơ thể.
Đây là một bệnh lý da liễu tự miễn, cho đến thời điểm hiện tại thì Tây y chưa tìm ra phương pháp chữa được tận gốc căn bệnh này. Đối với các bệnh lý da liễu mình vô cùng hâm mộ 2 đại sư cận đại là Triệu Bỉnh Nam và Chu Nhân Khang. Để biết độ khủng của 2 cụ thì các bạn hình dung, ở độ tuổi của mình, hai lão sư đã có một bộ sưu tập chữa khỏi vảy nến lên đến hơn 90 người mỗi cụ. Trong 60 năm hành nghề thì con số này to như một ngọn núi Thái sơn đối với bất kỳ một người bác sĩ nào.
Cũng nhờ những kiến thức các cụ mà mình cũng may mắn chữa được một vài ca vảy nến nhẹ, tuy nhiên số lượng bệnh nhân chưa nhiều nên cũng chưa nói được gì, nhưng hôm nay thì thực sự biết mình đang gặp phải trùm cuối.
Đây là bài luận về phương pháp chữa Vảy nến Ban Đỏ của Đại sư Triệu Bỉnh Nam do 2 học giả Phổ Tư Kỳ và Tôn Lệ Uẩn viết, nhân dịp có bệnh nhân nên mình dịch lại, mục đích chính là ôn lại kiến thức cho bản thân, mục đích phụ là chia sẻ cho các bác sĩ yêu thích Đông y thêm kiến thức, cũng như hiểu cách làm việc của Túy Y Đường.
Giai đoạn khởi phát: Huyết phận uẩn nhiệt
Giáo sư Triệu Bỉnh Nam cho rằng nguyên nhân phát bệnh vảy nến chủ yếu là huyết phận uẩn nhiệt (nhiệt lưu kết ở huyết phận). Người bệnh hoặc là do cảm nhiễm phong tà lưu kết tại bì phu, hoặc là do nội thương thất tình, tâm tình phiền táo dẫn đến khí cơ uất trệ mà sinh ra nội nhiệt; Hoặc là do ăn uống không điều độ dẫn đến tỳ vị thất hòa dẫn đến khí cơ thăng giáng bất thường, lâu ngày hóa nhiệt. Chữ “Uẩn” có nghĩa là tích tụ, ẩn tàng. Thời gian này nhiệt tà ẩn kết ở trong cơ thể người bệnh, lâu ngày nhiệt tà nhập vào huyết, dẫn đến ứ trệ và hình thành nên huyết nhiệt. “Tố Vấn chương Ngũ vận hành Đại Luận” có chép: “Nhiệt vi hỏa chi tiệm, hỏa vi nhiệt chi cực”.
Giáo sư Triệu Bỉnh Nam cho rằng huyết nhiệt cực thịnh hóa sinh thành hỏa, vảy nến thể ban đỏ là do huyết phận uất nhiệt lâu ngày, nhiệt tà dần lên cực đại hóa thành hỏa tà, huyết nhiệt hóa hỏa cổ động huyết hành, phát bệnh ra ngoài da. Nhiệt uẩn kết ở bì phu, huyết lạc mà gây ra ban đỏ.
Giai đoạn toàn phát: Hỏa độc tích thịnh uất tại dinh huyết
“Trùng đính thông tục Thương Hàn Luận” chép: “Hỏa thịnh giả, tất hữu độc. Đời Thanh ông Trương Bỉnh Thành trong sách Thành Phương tiện độc có chép rằng: Độc giả hỏa tà chi thịnh giã”. Giáo sư Triệu Bỉnh Nam cho rằng bệnh vảy nến là do nhiệt tà uất kết lâu ngày tại huyết phận biến thành hỏa tà. Hỏa quá thịnh mà sinh ra độc, hỏa độc tích thịnh uất tại dinh huyết. Trên cơ sở bệnh vảy nến thông thường, độc tà dẫn động, uẩn nhiệt tại huyết phận hóa hỏa, tiến thêm 1 bước mà phát triển thành vảy nến thể ban đỏ.
Trên lâm sàng phàm là tà khí cực nhiệt hoặc uẩn kết không giải đều được gọi là độc. Độc của bệnh vảy nến thể ban đỏ là bao quát độc của nội sinh và độc của ngoại sinh. Độc ngoại sinh của bệnh vảy nến thể ban đỏ bao gồm: phong hàn, phong nhiệt hoặc do uống thuốc (sử dụng không đúng cách các loại thuốc độc hại hoặc tính vị của thuốc thiên lệch quá nhiều). Độc nội sinh của bệnh vảy nến thể ban đỏ là nhiệt uất thành độc, độc là do nhiệt thịnh mà gây ra. Độc của nội và ngoại cùng với nhiệt tà của huyết phận kết hợp lại với nhau mà hóa thành hỏa sinh độc.
Triệu Bỉnh Nam đề xuất giai đoạn phát bệnh của bệnh vảy nến thể ban đỏ là “Hỏa độc uất tại dinh huyết” ý chỉ thế hỏa độc cực thịnh phát tại dinh huyết “Hoàng đế nội kinh Thái tố chương Thập nhị thủy” viết: “Hỏa độc nhập thân, chư cốt khô cảo, kinh mạch hội nùng”.
Thời kỳ phát bệnh của vảy nến thể ban đỏ là do tà bên trong kết hợp với tà bên ngoài hóa hỏa thành độc, thế phát bệnh của độc tà rất hung mãnh nên nhanh chóng lan ra toàn thân, bao gồm những triệu chứng: sốt cao không ngừng, 1 số tình trạng nghiêm trọng cũng có thể phát ra lở loét.
Diệp Thiên Sĩ trong sách “Ôn nhiệt luận” viết: “Dinh phận thụ nhiệt tắc huyết dịch thụ kiếp”. Giáo sư Triệu Bỉnh Nam đề xuất bệnh vảy nến thể ban đỏ là do hỏa độc phục huyết, thương âm hao huyết, dinh huyết bất túc không thể dưỡng thần, dinh âm bất túc không thể dưỡng tâm, huyết phận hỏa nhiệt gây nhiễu tâm thần dẫn đến tâm phiền bất an nên phần lớn người bệnh buồn bực khó ngủ.
Giai đoạn kéo dài: huyết phận thương âm, chính hư tà luyến.
Bệnh vảy nến thể ban đỏ kéo dài, giáo sư Triệu Bỉnh Nam cho rằng phần lớn hỏa độc ở giai đoạn này đã giảm, màu sắc ở phần da tổn thương đã nhạt hơn, diện tích giảm nhỏ. Các triệu chứng sưng nóng đỏ đau đã thuyên giảm, nhưng độc nhiệt vẫn còn tàn lưu tại huyết phận, các tổn thương chuyển thành màu hồng nhạt hoặc hồng xám, hoặc các vết loét cũng thu nhỏ lại hình thành vảy ngoan cố khó loại bỏ.
“Tố Vấn chương Âm dương ứng tượng đại luận” chép: “hàn thương hình, nhiệt thương khí”. Giáo sư Triệu Bỉnh Nam cho rằng bệnh vảy nến thể ban đỏ là do hỏa độc quá mạnh, kìm hãm sự lưu thông của máu trong cơ thể, tiêu hao chính khí nên bệnh nhân ở giai đoạn sau chính khí suy yếu không đủ sức đẩy tà khí ra ngoài dẫn đến bệnh kéo dài mà không khỏi. “Thương hàn luận” chép: “Nhiệt bệnh chi hậu, Dư nhiệt vị thanh, Khí âm lưỡng thương”. Giáo sư Triệu cho rằng giai đoạn kéo dài của bệnh vảy nến thể ban đỏ là do chính khí hư suy, huyết phận thương âm, huyết mạch khô kiệt không thể nhu nhuận bì phu. Ở giai đoạn này nhiệt tà sinh phong hóa táo tại bì phu, do đó có thể thấy 1 loạt triệu chứng ngứa da kèm bong vảy nhiều.
NGUYÊN TẮC TRỊ PHÁP: Lương huyết giải độc, dưỡng âm nhuận táo làm trung tâm.
Giai đoạn khởi phát: Thanh nhiệt lương huyết.
Ở giai đoạn này, huyết nhiệt hóa hỏa, Giáo sư Triệu đề xuất: “ luận trị từ huyết, lấy thanh huyết lương huyết làm chủ”. Lý Bân và Lưu Phục Hưng cùng các bác sĩ khác cùng ra đưa ra quan điểm giống nhau, trị pháp chính đó là Thanh nhiệt lương huyết. Giáo sư Triệu Bỉnh Nam thường dùng Tử thảo, Xích thược, Đan bì, Thiến thảo căn, Đan sâm, Bạch mao căn, Hòe hoa. Các vị thuốc này đều có khả năng nhập huyết phận để thanh huyết nhiệt mà lương huyết. Tử thảo, Xích thược, Đan bì, Đan sâm, Thiến thảo căn có màu sắc đỏ hoặc tím, tính hàn, chuyên thanh nhiệt lương huyết tại huyết phận. Giáo sư Triệu Bỉnh Nam hợp dụng các vị này để gia tăng tác dụng thanh nhiệt lương huyết, từ đó gia tăng tác dụng tiêu ban đỏ của vảy nến.
Đặc biệt giáo sư Triệu Bỉnh Nam thích dùng cặp dược Hòe hoa phối với Bạch mao căn, vừa thanh nhiệt lương huyết nhưng cũng vừa khiến cho nhiệt đi từ nhị tiện mà tiêu, khiến cho tà nhiệt có đường ra. Hòe hoa quy kinh đại trường và can, vị khổ hàn nên vừa có thể lương huyết, vừa có thể thanh đại tràng nhiệt, khiến cho nhiệt từ đại tràng đi ra. Bạch mao căn vị cam, quy kinh tiểu trường và bàng quang, có khả năng trừ đi phục nhiệt ở trong huyết nên thanh huyết nhưng lại có khả năng lợi tiểu tiện khiến cho nhiệt tà từ huyết phận đi ra từ tiểu tiện.
Giai đoạn toàn phát: Tả hỏa giải độc, thanh dinh hộ tâm.
Giáo sư Triệu Bỉnh Nam đề xuất: “cấp tắc trị tiêu, tòng dinh phận xuất phát, tả hỏa giải độc” là mấu chốt quan trọng nhất, đồng thời thanh nhiệt tà tại dinh phận. Tiếp là tư âm hộ tâm ở dinh phận, lấy tả hỏa giải độc thanh dinh hộ tâm làm trị pháp thiết yếu.
Giáo sư Triệu Bỉnh Nam tuyển dụng những vị thuốc khổ hàn chuyên tả hỏa giải độc như Tử hoa địa đinh, Thất diệp nhất chi hoa, Kim ngân hoa, Bồ công anh.
Ở giai đoạn toàn phát của bệnh vảy nến thể ban đỏ, nhiệt độ cơ thể thường từ sau 12h đến nửa đêm là tăng cao (sốt về chiều và đêm), buổi sáng sẽ giảm. Đây là hiện tượng Nhiệt độc tại Dinh Huyết
Giáo sư Triệu trên cơ sở sử dụng bài thuốc Thanh dinh thang gia giảm 2 vị Tê Giác và Đại Mội để tăng tác dụng thanh tâm hỏa, lương huyết giải độc, ông còn phối thêm “tam tâm phương” tả tâm kinh thực hỏa để hộ tâm. Tam tâm phương gồm Liên kiều, Liên tử tâm và Chi tử nhân. Tính hàn để tả hỏa độc nhiễu tâm, trừ phiền
Giai đoạn bệnh kéo dài: Lấy dưỡng âm ích khí, thanh nhiệt giải tà làm trị pháp chính.
Ngô Đường Vân có nói: “Tà khí thâm phục âm phận, hỗn xứ khí huyết chi trung, bất năng thuần dụng dưỡng âm; hựu phi tráng hỏa, câng bất đắc nhập dụng khổ táo”. Giáo sư Triệu cho rằng giai đoạn này là chủ yếu là âm hư, nhiệt độc lưu luyến tàng vô huyết phận nên không thể dùng khổ hàn tả hỏa. Trị liệu phải phù chính, khử tà kiêm dưỡng âm ích khí, thanh giải dư tà.
Giáo sư Triệu Bỉnh Nam thường dùng Sa sâm, Ngọc trúc, Thạch hộc, Thiên môn, Mạch môn để tư âm sinh tân, tân huyết đồng nguyên, tân huyết vượng tắc âm huyết túc. Thêm Huyền sâm, Đương quy, Thục địa để tư âm dưỡng huyết thanh giải tà độc.
Nếu thấy khí hư Giáo sư Triệu thường dùng Hoàng kỳ, Tây dương sâm, Phật thủ sâm để bổ khí ích âm, tả dư hỏa. Phối thêm Kim ngân hoa, Bồ công anh để giải độc dẫn dư tà ở trong huyết phận ra ngoài, khiến cho cơ thể được phục hồi.