Dr Troi
  • Trang chủ
  • ĐỔNG THỊ KỲ HUYỆT
    • KHÁI QUÁT
    • HUYỆT VỊ
    • Bộ 11 (Ngón Tay)
    • Bộ 22 (Bàn Tay)
    • Bộ 33 (Cẳng Tay)
    • Bộ 44 (Cánh Tay)
    • Bộ 55 (Ngón Chân)
    • Bộ 66 (Mu Bàn Chân)
    • Bộ 77 (Cẳng Chân)
    • Bộ 88 (Đùi)
    • Bộ 99 (Tai)
    • Bộ 1010 (Đầu Mặt)
    • Bộ VT (Ngực)
    • Bộ DT (Lưng)
  • BÀI THUỐC ĐẶC HIỆU
  • PHƯƠNG HUYỆT KỲ DIỆU
  • ĐIỀU TRỊ
    • 1. Thần Kinh
    • 2. Ngũ Quan
    • 3. Hô Hấp
    • 4. Tim Mạch
    • 5. Tiêu Hóa
    • 6. Gan Mật
    • 7. Thận – Tiết Niệu
    • 8. Nội Tiết
    • 9. Cơ Xương khớp
    • 10. Da Liễu
    • 11. Ung Bướu
    • 12. Nhi Khoa
    • 13. Phụ Khoa
    • 14. Nam Khoa
    • 15. Lão Khoa
  • NỘI ĐAN HỌC
  • TẢN VĂN
  • ĐĂNG KÝ KHOÁ HỌC

LÝ GIẢI RÕ RÀNG VỀ “THẬP BÁT PHẢN” TRONG ĐÔNG DƯỢC

Thạc sĩ Bác sĩ Nguyễn Văn Trỗi

by troinguyen 13/03/2025
13/03/2025

Mục lục

Toggle
  • KHÁI NIỆM
  • LỊCH SỬ SỬ DỤNG “PHẢN DƯỢC” TRONG Y THƯ
  • QUAN ĐIỂM CỦA DANH Y VỀ PHẢN DƯỢC
  • QUAN ĐIỂM CỦA QUỐC Y ĐẠI SƯ – CHU LƯƠNG XUÂN

KHÁI NIỆM

Khái niệm “dược vật tương phản” (药有相反) lần đầu xuất hiện trong 《Thần Nông bản thảo kinh·Tự lệ》 (《神农本草经•序例》) – nguyên bản gốc đã thất truyền từ lâu, bản hiện hành được tổng hợp từ các sách bản thảo qua nhiều thời đại. Đến thời Ngũ Đại, Hàn Bảo Thăng (韩保升) trong 《Thục bản thảo》(蜀本草) đã chỉ ra rằng: “Tương phản giả thập bát chủng” (相反者十八种), đây có thể coi là nguyên mẫu của thuyết “Thập bát phản” (十八反). Đến thời Kim, Trương Nguyên Tố (张元素) trong 《Trân châu nang bổ di dược tính phú》(珍珠囊补遗药性赋) đã biên soạn “Thập bát phản” cùng “Thập cửu úy” (十九畏) thành ca quyết, truyền bá rộng rãi và lưu truyền đến ngày nay.

BÀI CA VỀ MƯỜI TÁM VỊ THUỐC TRÁI NHAU

十八反歌訣 – THẬP BÁT PHẢN CA QUYẾT

本草明言十八反,

半蔞貝蘞芨攻烏。

藻戟遂芫俱戰草,

諸參辛芍叛藜蘆

Phiên âm:

Bản Thảo minh ngôn thập bát phản;

Bán, Lâu, Bối, Liễm, Cập công Ô.

Tảo, Kích, Toại, Nguyên câu chiến Thảo;

Chư Sâm, Tân, Thược bạn Lê Lô.

Dịch nghĩa:

  1. Sách Bản Thảo (Thần Nông Bản Thảo Kinh) nói rõ mười tám vị thuốc trái nhau:

  2. Bán Hạ 半夏(半), Qua Lâu 瓜蔞(蔞), Bối Mẫu 貝母(貝), Bạch Liễm 白蘞(蘞), Bạch Cập 白芨(芨) đều trái với Ô Đầu 烏頭(烏).

  3. Hải Tảo 海藻(藻), Đại Kích 大戟(戟), Cam Toại 甘遂(遂), Nguyên Hoa 芫花(芫) đều trái với Cam Thảo 甘草(草).

  4. Các loại Sâm (Nhân sâm 人蔘, Đảng sâm 黨蔘, Sa sâm 沙蔘, Nguyên sâm 元蔘,…), Tế Tân 細辛(辛), Thược Dược 芍藥 (芍: Xích Thược 赤芍, Bạch Thược 白芍) đều trái với Lê Lô 藜蘆.

Ghi chú: Trái nhau/tương phản/không tương thích lẫn nhau (反phản) là 1 trong 7 trường hợp tương tác của thuốc cổ truyền. Tương phản có nghĩa là khi kết hợp với nhau sẽ tạo ra tác dụng phụ, gây ra những phản ứng không tốt cho cơ thể và sẽ gây thêm độc tính cho cơ thể.

Hàng nghìn năm qua, cha truyền con nối, thầy dạy trò, trong các hiệu thuốc nếu gặp “phản dược” (反药) thì tuyệt đối không bốc thuốc; nhiều phương thuốc hay có chứa “phản dược” bị xếp xó không được sử dụng; thậm chí, có không ít danh y bị hàm oan chỉ vì dùng “phản dược” trong kê đơn. Thậm chí có trường hợp đi xa hơn, ngoài “Thập bát phản”, còn có những cách giải thích mang tính liên lụy, mở rộng quá mức. Ví dụ, có một lần tôi kê đơn phối hợp Bán hạ (半夏) và Phụ tử (附子), khi bệnh nhân mang đơn đi mua thuốc, dược sĩ vừa nhìn thấy liền tỏ vẻ khinh miệt mà nói: “Bác sĩ mà ngay cả việc Bán hạ phản Phụ tử cũng không biết sao? Đây là kiến thức cơ bản mà!”. Phụ tử vốn là phần mọc ra từ Xuyên ô (川乌), Bán hạ phản Phụ tử, chẳng phải là “mẹ liên lụy đến con” hay sao? Chẳng phải đây chính là một sự “liên lụy mở rộng” hay sao?

Đối với vấn đề này, trước tiên hãy cùng xem xét luận điểm của tiền nhân.

LỊCH SỬ SỬ DỤNG “PHẢN DƯỢC” TRONG Y THƯ

  • Thời Hán, “Y thánh” Trương Trọng Cảnh (张仲景) đã sử dụng phản dược trong đơn thuốc:

    • 《Kim quỹ yếu lược·Đàm ẩm thiên》 (《金匮要略•痰饮篇》): phương Cam toại bán hạ thang (甘遂半夏汤) chứa Cam toại (甘遂) và Cam thảo (甘草) cùng dùng.
    • 《Phúc mãn hàn sán túc thực bệnh thiên》 (《腹满寒疝宿食病篇》): phương Xích hoàn (赤丸) chứa Ô đầu (乌头) và Bán hạ (半夏) cùng dùng.
  • Thời Đường, “Dược vương” Tôn Tư Mạc (孙思邈) trong 《Thiên kim phương》(千金方) đã có hàng chục phương thuốc dùng phản dược:

    • Phong hoãn thang (风缓汤): Ô đầu và Bán hạ cùng dùng.
    • Đại bát phong tán (大八风散): Ô đầu và Bạch thảo cùng dùng.
    • Phục linh hoàn (茯苓丸): Đại kích và Cam thảo cùng dùng.
    • Đại ngũ ẩm hoàn (大五饮丸): Nhân sâm, Khổ sâm và Lê lô cùng dùng.
    • Phương khác: Cam toại, Đại kích, Viễn chí cùng Cam thảo phối hợp.
  • Thời Tống, các phương thuốc do chính quyền ban hành cũng có sử dụng phản dược:

    • 《Cục phương》(局方): phương Nhuận thể hoàn (润体丸) và Ô tê hoàn (乌犀丸) chứa Xuyên ô và Bán hạ cùng dùng.
    • Trần Vô Trách (陈无择) trong《Tam nhân phương》(三因方): phương Đại đậu thang (大豆汤) có Cam thảo và Cam toại cùng dùng.
    • Hứa Thúc Vi (许叔微) trong《Bổn sự phương》(本事方): phương Tinh phụ tán (星附散) và Sấn thống hoàn (趁痛丸) đều có Bán hạ và Xuyên ô cùng dùng.
  • Thời Kim, Lý Đông Viên (李东垣) trong 《Tán thũng hội kiên thang》(散肿溃坚汤) đã dùng Hải tảo và Cam thảo cùng nhau.

  • Thời Nguyên, Chu Đan Khê (朱丹溪) trong 《Mạch nhân chứng trị》(脉因证治) có phương Liên tâm tán (莲心散) dùng Viễn chí và Cam thảo cùng nhau.

  • Thời Minh, các danh y cũng sử dụng phản dược:

    • Ngô Côn (吴昆) trong《Y phương khảo》(医方考): phương Thông đỉnh tán (通顶散) dùng Nhân sâm, Tế tân cùng Lê lô.
    • Trần Thực Công (陈实功) trong《Ngoại khoa chính tông》(外科正宗): phương Hải tảo ngọc hồ thang (海藻玉壶汤) có Hải tảo và Cam thảo cùng nhau (phương này sau được ghi vào 《Y tông kim giám》(医宗金鉴) của Ngô Khiêm).
  • Thời Thanh, Dư Thính Hồng (余听鸿) trong 《Ngoại chứng y án hội biên》(外证医案汇编) cũng ghi nhận nhiều phương dùng Hải tảo và Cam thảo.

Từ Hán, Đường, Tống, Kim, Nguyên, Minh, Thanh, trải qua hàng nghìn năm, phương thuốc chứa phản dược luôn được sử dụng. Điều này cho thấy rằng, như lời Dư Thính Hồng đã nói: “Cổ nhân lập phương, thường xuyên có phản dược”.

QUAN ĐIỂM CỦA DANH Y VỀ PHẢN DƯỢC

  • Tránh dùng theo lối bảo thủ:

Đạo sĩ Đào Hoằng Cảnh (陶弘景) nói: “Nếu trong phương thuốc cũ có phản dược, thì không dùng là tốt nhất”. Ông dẫn chứng các phương thuốc như “Tiên phương Cam thảo hoàn” (仙方甘草丸) chứa Phòng kỷ và Tế tân, nhưng không gây hại vì đã qua chế biến. Tuy nhiên, ông vẫn cho rằng tốt nhất không nên dùng, nếu không sẽ như “tướng giặc phụ Hán” hay “kẻ gian giúp Ngô”, nghĩa là không nên phạm vào những điều kiêng kỵ đã được truyền lại.

  • Chỉ người có trình độ cao mới dùng được:

Ngu Khoát (虞挎) cho rằng: “Phản dược giống như hai đạo quân đối địch, không thể đứng cùng chiến tuyến”. Nhưng ông cũng khẳng định: “Nếu bệnh nặng, cần dùng thuốc mạnh để công phá, thì phải vận dụng một cách linh hoạt”.Ông so sánh dùng thuốc như dùng binh, nếu giỏi chiến lược sẽ như Hàn Tín (韩信) bố trí “trận địa sau lưng sông” mà chiến thắng.

  • Quan điểm trung dung của Lý Thời Trân (李时珍):

    • “Phản dược nếu dùng theo nguyên tắc tương sinh là đạo trị bệnh cao nhất”.
    • “Dùng theo nguyên tắc tương khắc là cách trị bệnh bậc trung”.
    • “Dùng phản dược là cách trị bệnh bậc thấp”.
    • Nhưng ông cũng khẳng định: “Nếu người dùng thuốc có trình độ cao, hiểu được lý lẽ tinh vi, thì vẫn có thể sử dụng phản dược”.

QUAN ĐIỂM CỦA QUỐC Y ĐẠI SƯ – CHU LƯƠNG XUÂN

  1. Tôi trước nay luôn sử dụng thuốc theo chứng bệnh – có bệnh gì dùng thuốc đó, khi cần thì dùng, không chịu sự ràng buộc của các thuyết như “Thập bát phản” hay “Thập cửu úy”. Trong suốt 70 năm lâm sàng, tôi đã dùng Hải tảo (海藻) cùng Cam thảo (甘草) để trị lao hạch cổ, bướu cổ đơn thuần và bướu cổ địa phương, khối u; dùng Nhân sâm (人参) (hoặc Đảng sâm, 党参) cùng Ngũ linh chi (五灵脂) để trị viêm dạ dày teo mạn tính, loét dạ dày và tá tràng; dùng Hải tảo, Cam toại (甘遂) với Cam thảo để trị tràn dịch màng phổi, viêm màng phổi xuất tiết, tất cả đều có hiệu quả rất tốt mà không thấy bất kỳ tác dụng phụ độc hại nào.

  2. Thuyết “Thập bát phản” vốn dĩ có nhiều điểm đáng bàn. Ví dụ, Nhân sâm, Khổ sâm (苦参), Đan sâm (丹参), Sa sâm (沙参) đều được cho là phản Lê lô (藜芦). Nhưng bốn vị thuốc này tuy cùng mang chữ “sâm” nhưng công năng, tính vị và chủ trị khác nhau, lẽ nào chỉ vì có chữ “sâm” mà đều phản Lê lô? Hơn nữa, Hải tảo và Côn bố (昆布) có tính vị và chủ trị giống nhau, thường được sử dụng cùng nhau, vậy tại sao Cam thảo chỉ phản Hải tảo mà không phản Côn bố?

  3. “Thập bát phản” phản đối nhau ở điểm nào? Lý lẽ của nó là gì? Từ xưa đến nay không có ai đưa ra một lý thuyết nhất quán. Chỉ có thể nói rằng đây là kinh nghiệm thực tiễn của cổ nhân, nhưng rất có thể trong quá trình thực hành, người xưa đã coi hiện tượng ngẫu nhiên là tất yếu. Nếu nói về kinh nghiệm thực tiễn, vậy thì những ghi chép từ Hán đại của Trương Trọng Cảnh (张仲景), Đường đại của Tôn Tư Mạc (孙思邈), Tống đại của Trần Vô Trách (陈无择), Hứa Thúc Vi (许叔微), Kim Nguyên của Lý Đông Viên (李东垣), Chu Đan Khê (朱丹溪), Minh đại của Trần Thực Công (陈实功), Thanh đại của Dư Thính Hồng (余听鸿), chẳng lẽ không phải là kinh nghiệm thực tiễn hay sao?

  4. Trong ba nhóm thuốc của “Thập bát phản”, các vị như Viễn chí (芫花), Đại kích (大戟), Cam toại (甘遂), Ô đầu (乌头) (bao gồm Xuyên ô, 草乌), Lê lô đều là thuốc độc mạnh. Nếu Viễn chí, Đại kích, Cam toại không kết hợp với Cam thảo, hoặc Lê lô không kết hợp với Nhân sâm, Khổ sâm, Đan sâm, Sa sâm, hoặc Ô đầu không kết hợp với Bán hạ, Qua lâu, Bối mẫu, Tạo giác, sẽ có thể dẫn đến ngộ độc do dùng liều quá cao, sắc thuốc không đúng cách, hoặc do bệnh nhân thể trạng suy yếu không chịu nổi, thậm chí có thể tử vong. Do đó, rất có thể cổ nhân đã đưa ra kết luận sai lầm về “Thập bát phản” trong những trường hợp này.

  5. Nếu bị ràng buộc bởi “Thập bát phản”, một mặt, nhiều phương thuốc danh tiếng của cổ nhân, bao gồm cả phương thuốc của Trương Trọng Cảnh, sẽ không thể được sử dụng (dĩ nhiên cũng có người vẫn dùng), điều này sẽ khiến nhiều kinh nghiệm quý báu của tiền nhân bị lãng phí. Mặt khác, có thể trong dược phối trung y tồn tại những cặp thuốc thực sự tương phản, nghĩa là tuyệt đối không thể dùng chung, nếu dùng sai có thể dẫn đến ngộ độc hoặc tử vong. Việc rập khuôn theo “Thập bát phản” lại có thể tạo ra ảnh hưởng tiêu cực trong việc nhận thức và khám phá những cặp thuốc tương phản thực sự này.

  6. Cuối cùng, lão sư Chu kết luận: “Thập bát phản” không thể thành lập, “Thập cửu úy” (十九畏) càng không có cơ sở. Đối với tri thức của cổ nhân, ta cần tiếp thu một cách có phê phán, không phải cứ là lời cổ nhân thì chắc chắn đúng. Cổ nhân để lại nhiều kinh nghiệm quý báu, nhưng cũng có những điều không thể tiếp thu được do hạn chế của thời đại, chẳng hạn như “Thần Nông bản thảo kinh” (《神农本草经》) nói Chu sa (朱砂) “có thể dùng lâu dài”, hay Lý Thời Trân (李时珍) trong “Bản thảo cương mục” (《本草纲目》) nói Mã tiền tử (马钱子, hay Phạn mộc quả) “không độc” đều không thể chấp nhận. Đã đến lúc cần giải oan cho “Thập bát phản”! Không biết các bậc hiền đạt trong giới y học có đồng ý không?

5
FacebookTwitterPinterestEmail
troinguyen

Bài trước
DANH Y LƯU XUÂN PHỐ LUẬN TRỊ: MẤT NGỦ, ĐỘNG KINH, RỐI LOẠN LO ÂU, TÂM THẦN PHÂN LIỆT
Bài sau
ĐẠI SƯ TRIỆU BỈNH NAM LUẬN TRỊ VẢY NẾN BAN ĐỎ (Erythorodermic Psoriasis; EP)

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

KINH NGHIỆM DANH Y ĐIỀU TRỊ HEN PHẾ...

18/09/2025

BỆNH TỰ KỶ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ ĐÔNG...

09/09/2025

TỪ LÝ THUYẾT ĐẾN LÂM SÀNG – ĐIỀU...

25/04/2025

ĐẠI SƯ TRIỆU BỈNH NAM LUẬN TRỊ VẢY...

23/03/2025

DANH Y LƯU XUÂN PHỐ LUẬN TRỊ: MẤT...

09/03/2025

QUỐC Y ĐẠI SƯ – LƯU TỔ DI...

24/01/2024

TRƯƠNG CẢNH NHẠC (ÔN BỔ) & DIỆP THIÊN...

26/12/2023

4 BÀI THUỐC CỦA GIÁO SƯ CHU NHÂN...

14/12/2023

CHỮA HO TRẺ EM PHẢI BIẾT ĐẾN 6...

14/12/2023

12 PHÁP TRỊ PHẾ CỦA GIÁO SƯ GIẢ...

02/10/2023

TÌM KIẾM NỘI DUNG

NỘI DUNG MỚI NHẤT

  • NÉT ĐẶC SẮC HOẢ CHÂM CỦA QUỐC Y ĐẠI SƯ HẠ PHỔ NHÂN

    03/02/2026
  • TỔNG QUAN VỀ LIỆU PHÁP HOẢ CHÂM TRONG ĐÔNG Y

    03/02/2026
  • ĐẶC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP CHÍCH MÁU – ĐẶC SẮC CỦA ĐỔNG THỊ

    02/02/2026
  • LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TRIẾT HỌC ĐẠO GIA

    02/11/2025
  • TƯ TƯỞNG TU LUYỆN ĐẠO GIÁO TỪ NGOẠI ĐAN ĐẾN NỘI ĐAN

    31/10/2025

TỔNG SỐ TRUY CẬP: 698609

  • Facebook
  • Twitter
  • Instagram
  • Youtube
  • Telegram
Footer Logo

@2021 - All Right Reserved.


Back To Top
Dr Troi
  • Trang chủ
  • ĐỔNG THỊ KỲ HUYỆT
    • KHÁI QUÁT
    • HUYỆT VỊ
    • Bộ 11 (Ngón Tay)
    • Bộ 22 (Bàn Tay)
    • Bộ 33 (Cẳng Tay)
    • Bộ 44 (Cánh Tay)
    • Bộ 55 (Ngón Chân)
    • Bộ 66 (Mu Bàn Chân)
    • Bộ 77 (Cẳng Chân)
    • Bộ 88 (Đùi)
    • Bộ 99 (Tai)
    • Bộ 1010 (Đầu Mặt)
    • Bộ VT (Ngực)
    • Bộ DT (Lưng)
  • BÀI THUỐC ĐẶC HIỆU
  • PHƯƠNG HUYỆT KỲ DIỆU
  • ĐIỀU TRỊ
    • 1. Thần Kinh
    • 2. Ngũ Quan
    • 3. Hô Hấp
    • 4. Tim Mạch
    • 5. Tiêu Hóa
    • 6. Gan Mật
    • 7. Thận – Tiết Niệu
    • 8. Nội Tiết
    • 9. Cơ Xương khớp
    • 10. Da Liễu
    • 11. Ung Bướu
    • 12. Nhi Khoa
    • 13. Phụ Khoa
    • 14. Nam Khoa
    • 15. Lão Khoa
  • NỘI ĐAN HỌC
  • TẢN VĂN
  • ĐĂNG KÝ KHOÁ HỌC