Dr Troi
  • Trang chủ
  • ĐỔNG THỊ KỲ HUYỆT
    • KHÁI QUÁT
    • HUYỆT VỊ
    • Bộ 11 (Ngón Tay)
    • Bộ 22 (Bàn Tay)
    • Bộ 33 (Cẳng Tay)
    • Bộ 44 (Cánh Tay)
    • Bộ 55 (Ngón Chân)
    • Bộ 66 (Mu Bàn Chân)
    • Bộ 77 (Cẳng Chân)
    • Bộ 88 (Đùi)
    • Bộ 99 (Tai)
    • Bộ 1010 (Đầu Mặt)
    • Bộ VT (Ngực)
    • Bộ DT (Lưng)
  • BÀI THUỐC ĐẶC HIỆU
  • PHƯƠNG HUYỆT KỲ DIỆU
  • ĐIỀU TRỊ
    • 1. Thần Kinh
    • 2. Ngũ Quan
    • 3. Hô Hấp
    • 4. Tim Mạch
    • 5. Tiêu Hóa
    • 6. Gan Mật
    • 7. Thận – Tiết Niệu
    • 8. Nội Tiết
    • 9. Cơ Xương khớp
    • 10. Da Liễu
    • 11. Ung Bướu
    • 12. Nhi Khoa
    • 13. Phụ Khoa
    • 14. Nam Khoa
    • 15. Lão Khoa
  • NỘI ĐAN HỌC
  • TẢN VĂN
  • ĐĂNG KÝ KHOÁ HỌC

NHÂN GIAN CÓ VỊ THANH HOAN

Tác giả: Lâm Thanh Huyền

by troinguyen 13/02/2026
13/02/2026

Ban ngày châm cứu điều khí huyết

Đêm mượn thơ hoạ viết gió trăng

Có những lúc, bệnh không nằm ở gân xương hay tạng phủ, mà lặng lẽ trú ngụ trong một góc tâm hồn. Khi ấy, thuốc men chỉ chạm được phần xác, còn thơ văn thì đi thẳng vào phần hồn. Một câu chữ dịu dàng có thể thay thang thuốc đắng, một đoạn văn tĩnh tại cũng khiến hơi thở trở nên nhẹ nhàng.

Bao năm khổ đọc y thư, giờ đây tôi cũng muốn có thêm chút thời gian với thơ hoạ, nhóm lửa trong chữ nghĩa, để soi ấm chính mình. Thơ văn không chữa khỏi trăm bệnh, nhưng nó khiến cho lòng ta yên, mà khi lòng đã yên, bệnh cũng thôi dữ dằn.

Nếu may mắn, đôi ba dòng chữ này có thể chạm đến những tâm hồn đồng điệu, thì xin bạn cứ dừng lại, đọc chậm, rồi lặng lẽ mang đi. Không cầu khách qua đường tán thưởng, mong gặp tri âm nghe tiếng cười. 

_________________________

Từ thuở tiểu học, tôi đã thích đọc Tô Đông Pha.

Thật kỳ lạ, khi ấy đọc cổ văn phần nhiều không hiểu, chỉ riêng văn Tô Đông Pha, hễ đọc là thấu.

Có lẽ bởi vì, bất luận là thơ từ hay tản văn, ông luôn dùng những con chữ giản dị nhất để viết nên những cảm xúc sâu xa nhất. Vì chữ nghĩa giản dị nên người lớn trẻ nhỏ đều có thể rung động, vì tình ý thâm trầm nên mỗi lần đọc lại, đều thấy mở ra một tầng cảnh giới khác.

Điều quan trọng hơn nữa là, Tô Đông Pha trước hết là một người biết thưởng thức cuộc sống. Văn chương của ông cắm rễ trong đời sống. Ông dung hội tư tưởng Nho gia, Phật gia, Lão Trang vào giữa sinh hoạt thường nhật, biểu đạt một nhân sinh quan tùy duyên mà tự tại.

Cả một đời Tô Đông Pha, chỉ có quãng thanh xuân từng trải qua đôi ngày dư dả, về sau hầu như chìm nổi trong cảnh bị châm biếm lưu đày, nhiều khi đến bữa cơm cũng không đủ no. “Nồi không, nấu rau lạnh; áo rách, hong cỏ ướt”, nghèo đến nỗi ngay cả lúa vừa gặt về cũng chẳng dám nhìn lâu thêm một chút.

Dẫu khốn khó đến đâu, ông vẫn giữ một tâm tính khoáng đạt, lạc quan, viết nên những tác phẩm có cảnh giới cao diệu, phong thái ung dung.

Gỡ bỏ lớp vỏ thế tục, đời sống của Tô Đông Pha thực ra vô cùng phong phú. Thơ từ, tản văn không cần phải nói, ông biết thưởng trà, thích mỹ thực, giỏi nấu nướng, có thể viết chữ, có thể vẽ tranh, lại còn có rất, rất nhiều bằng hữu tri giao…

Chính vì đời sống quá đỗi phong phú, nên hầu như ngày nào ông cũng viết. Năm xưa tôi đọc Đông Pha Toàn Tập, kinh ngạc khôn nguôi: trong đó có hơn ba nghìn bảy trăm bài thơ, hơn ba trăm khúc từ, vô số tản văn tuyệt mỹ, cùng những luận văn kiến giải tinh tường. Số lượng sáng tác của ông còn vượt xa chừng ấy, chỉ tiếc không thể truyền lại trọn vẹn đến hôm nay.

Thuở thiếu niên đã từng được đọc một bài thơ của Tô Đông Pha, tôi yêu thích vô cùng, đến nay vẫn còn nhớ rõ:

Mưa nghiêng, gió sớm, lạnh ban mai

Khói nhạt, liễu thưa, đẹp bến dài

Hoài – Lạc nước trong dần trải rộng

Trời sông man mác một màu ai

 

Bọt tuyết, sữa non, chén trà trưa

Rau non, măng trúc, đúng xuân vừa

Nhân gian vị đủ rồi thành nhạt

Chỉ một “thanh hoan” ở cuối bàn.

Bài thơ này, Tô Đông Pha có ghi bên cạnh: “Ngày 24 tháng 12 năm 1084, cùng Lưu Thiện Thúc người Tứ Châu đi du ngoạn núi Nam Sơn.

Thì ra là ông cùng bạn đến ngoại ô chơi, lên núi Nam uống chén trà nhạt có bọt trắng nổi bồng bềnh như sữa tuyết, ăn kèm với rau liễu, rau cải cúc, măng non mùa xuân nơi núi đồng, cùng những mầm non của cỏ dại rồi tự cảm thán: “Nhân gian có vị thanh hoan!”

Khi ấy có thể khắc ghi bài thơ này, chủ yếu là vì yêu mê câu cuối ấy. Bởi vị thanh hoan bình dị trong việc nếm thử rau dại ấy, mới khiến cho nhân gian thêm đậm đà ý vị.

“Thanh hoan” là gì? “Thanh hoan” gần như khó mà dịch nghĩa cho trọn, có thể nói là “niềm vui thanh đạm”. Thứ niềm vui thanh đạm ấy không đến từ đâu khác, mà đến từ sự yêu mến một cuộc sống bình lặng, nhàn tản, giản dị. Khi một người có thể nếm được mùi thơm thanh khiết của rau dại ngon hơn cả sơn hào hải vị; hoặc khi một người nhìn hòn đá ven đường thấy được ý vị hấp dẫn hơn cả kim cương; hoặc khi một người nghe tiếng chim hót trong rừng cảm thấy cảm động hơn việc xách lồng dạo chim; hoặc khi thưởng thức được việc lặng lẽ nhấm nháp một ấm trà ô long thanh tẩy tâm hồn hơn cả một bữa tiệc ồn ào… đó chính là “thanh hoan”.

Thanh hoan đẹp ở chỗ, nó không đòi hỏi gì từ cuộc sống, không kén chọn điều kiện vật chất, chỉ quan tâm đến sự thưởng thức của tâm hồn.

“Thanh hoan” là phép trừ của đời sống. Khi ta buông bỏ những truy cầu thế tục và những ràng buộc của dục vọng, trở về với niềm vui thuần khiết nhất, ấy là cảnh giới có dư vị nhất trong sinh mệnh.

Giữa ngày hè oi ả, uống một chén trà.

Trong đêm tuyết gió, ngắm một ánh nến mỏng.

Trong buổi hoàng hôn chạng vạng, nhìn mặt trời lặn xuống.

Giữa rừng sâu ve ngân vang, lặng lẽ bước qua.

Trong đêm khuya tĩnh mịch, nghe tiếng thông rơi mà nhớ đến người bạn ở phương xa.

Đứng trên đỉnh núi cao nhất, chợt nhớ đến những người huynh đệ.

Trong một sợi tóc bạc vừa rơi, bỗng hiện lên dung nhan yêu dấu nhất của đời mình.

Dưới vách tùng nơi trăng sáng chan hòa, mong sao người trong thiên hạ đều có thể cùng thưởng một vầng minh nguyệt ấy!

……

Trong những năm tháng ấu thơ nghèo khó của tôi, trong quãng thiếu niên bơ vơ không nơi nương tựa, trong tuổi trẻ lầm lũi độc hành, tôi vẫn hướng về vẻ đẹp của đời sống, vẫn giữ trọn sơ tâm thuần tịnh, bởi tôi tin rằng: “Nhân gian đẹp nhất là thanh hoan.”

Thanh hoan, sẽ chẳng bao giờ mất đi — chỉ cần lòng ta không tục.

_________________________ 

Văn phong của Tuý Y Đường chịu nhiều ảnh hưởng từ Bạch Lạc Mai, Lâm Thanh Huyền. Ở Việt Nam tôi thấy đã xuất hiện nhiều bản dịch sách Bạch Lạc Mai, nhưng tuyệt nhiên chưa thấy ai nói về Lâm Thanh Huyền. Mấy ngày cuối năm thong thả, dịch tản văn của ông, nhân tiện viết vài nét giới thiệu.

林清玄 (Lâm Thanh Huyền) là một trong những nhà văn có ảnh hưởng sâu rộng nhất của văn đàn Đài Loan và đương đại, đồng thời là cái tên quen thuộc với nhiều thế hệ độc giả châu Á yêu văn chương tĩnh tại, giàu chiều sâu tinh thần. Ông sinh năm 1953 tại Cao Hùng, Đài Loan, xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo. Chính tuổi thơ gắn bó với ruộng vườn, thiên nhiên và đời sống bình dị đã sớm nuôi dưỡng trong ông một nhãn quan tinh tế, nhân hậu và thấm đẫm hơi thở Thiền.

Lâm Thanh Huyền bắt đầu viết rất sớm, mới mười bảy tuổi đã có tác phẩm đăng báo, và nhanh chóng trở thành một cây bút nổi bật của dòng tản văn. Suốt cuộc đời sáng tác, ông để lại hơn một trăm đầu sách, trải rộng từ tản văn, tùy bút, truyện ngắn đến các tác phẩm mang màu sắc triết lý Phật học nổi tiếng nhất là Bồ Đề Thập Thư. Tuy viết nhiều, nhưng văn của ông không hề nặng nề học thuật. Ngược lại, câu chữ luôn trong sáng, mềm mại, gần gũi như lời trò chuyện, mà sau vẻ giản dị ấy là tầng tầng lớp lớp suy ngẫm về đời sống, con người và bản tâm.

Điểm đặc sắc nhất trong văn chương Lâm Thanh Huyền chính là sự kết hợp hài hòa giữa đời sống thường nhật và tinh thần Thiền. Ông không nói đến giác ngộ bằng những khái niệm cao siêu, mà dẫn người đọc đi qua một tách trà, một cơn mưa, một nhành cỏ, hay một lần bệnh tật, mất mát. Trong văn ông, nỗi đau không bị né tránh, nhưng luôn được đặt trong ánh sáng của sự thấu hiểu và buông xả. 

Lâm Thanh Huyền từng nói: “Văn học không phải để trốn khỏi cuộc đời, mà để trở về sống sâu sắc hơn với cuộc đời.” Chính tinh thần ấy khiến tác phẩm của ông vượt qua ranh giới văn chương thuần túy, trở thành người bạn đồng hành của những ai đang mỏi mệt giữa dòng đời gấp gáp. Văn của ông chậm, nhưng không buồn. Tĩnh, nhưng không lạnh. Dịu dàng, mà vẫn đầy sức nâng đỡ.

Ông qua đời năm 2019, nhưng chữ nghĩa của Lâm Thanh Huyền vẫn lặng lẽ lan tỏa, như một mạch nước ngầm mát lành. Giữa thế giới ồn ào hôm nay, văn ông nhắc ta nhớ rằng: chỉ cần tâm an, thì đời tự khắc nhẹ.

_________________________ 

Tuý Y Đường

Say Mê Y Thuật – Chân Tâm Độ Người 

1
FacebookTwitterPinterestEmail
troinguyen

Bài trước
TÔ ĐÔNG PHA – MỘT ĐỜI MƯA GIÓ, NGANG DỌC THÊNH THANG
Bài sau
TRUYỀN THUYẾT CHIM CHATAK

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

SI CUỒNG TỰ DO

14/02/2026

TRUYỀN THUYẾT CHIM CHATAK

14/02/2026

TÔ ĐÔNG PHA – MỘT ĐỜI MƯA GIÓ,...

13/02/2026

BẢNG ĐÁNH GIÁ 9 LOẠI THỂ CHẤT THEO...

07/12/2025

BẠN ĐẾN VỚI ĐÔNG Y NHƯ THẾ NÀO?

12/01/2022

QUAN ĐIỂM VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC ĐÔNG Y...

12/01/2022

MẪU BỆNH ÁN ĐÔNG Y

02/11/2021

GIỚI THIỆU THẠC SĨ BÁC SĨ – NGUYỄN...

11/09/2021

TÌM KIẾM NỘI DUNG

NỘI DUNG MỚI NHẤT

  • NÉT ĐẶC SẮC HOẢ CHÂM CỦA QUỐC Y ĐẠI SƯ HẠ PHỔ NHÂN

    03/02/2026
  • TỔNG QUAN VỀ LIỆU PHÁP HOẢ CHÂM TRONG ĐÔNG Y

    03/02/2026
  • ĐẶC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP CHÍCH MÁU – ĐẶC SẮC CỦA ĐỔNG THỊ

    02/02/2026
  • LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TRIẾT HỌC ĐẠO GIA

    02/11/2025
  • TƯ TƯỞNG TU LUYỆN ĐẠO GIÁO TỪ NGOẠI ĐAN ĐẾN NỘI ĐAN

    31/10/2025

TỔNG SỐ TRUY CẬP: 699313

  • Facebook
  • Twitter
  • Instagram
  • Youtube
  • Telegram
Footer Logo

@2021 - All Right Reserved.


Back To Top
Dr Troi
  • Trang chủ
  • ĐỔNG THỊ KỲ HUYỆT
    • KHÁI QUÁT
    • HUYỆT VỊ
    • Bộ 11 (Ngón Tay)
    • Bộ 22 (Bàn Tay)
    • Bộ 33 (Cẳng Tay)
    • Bộ 44 (Cánh Tay)
    • Bộ 55 (Ngón Chân)
    • Bộ 66 (Mu Bàn Chân)
    • Bộ 77 (Cẳng Chân)
    • Bộ 88 (Đùi)
    • Bộ 99 (Tai)
    • Bộ 1010 (Đầu Mặt)
    • Bộ VT (Ngực)
    • Bộ DT (Lưng)
  • BÀI THUỐC ĐẶC HIỆU
  • PHƯƠNG HUYỆT KỲ DIỆU
  • ĐIỀU TRỊ
    • 1. Thần Kinh
    • 2. Ngũ Quan
    • 3. Hô Hấp
    • 4. Tim Mạch
    • 5. Tiêu Hóa
    • 6. Gan Mật
    • 7. Thận – Tiết Niệu
    • 8. Nội Tiết
    • 9. Cơ Xương khớp
    • 10. Da Liễu
    • 11. Ung Bướu
    • 12. Nhi Khoa
    • 13. Phụ Khoa
    • 14. Nam Khoa
    • 15. Lão Khoa
  • NỘI ĐAN HỌC
  • TẢN VĂN
  • ĐĂNG KÝ KHOÁ HỌC