Đông y có nói “Bách Bệnh Kiêm Đàm”, “ Bách Bệnh Do Đàm”, “ Quái Bệnh Đa Đàm”. Đàm là sản phẩm bệnh lý, lại là nhân tố gây bệnh. Trên lâm sàng, chia đàm thành 2 loại lớn: Đàm hữu hình và Đàm vô hình, còn nguyên nhân hình thành đàm có nhiều: do Phế, Tỳ, Thận, Tam Tiêu khí hóa thất thường, tân dịch không quy hóa bình thường, ngưng tụ thành đàm.
Đặc điểm gây ra bệnh là: Phát bệnh quái dị, biến hóa đa đoan, dễ che lấp thần minh, nặng dính đục trệ, bệnh tình có xu hướng dai dẳng, ngăn trở khí cơ, dễ ảnh hưởng đến vận hành khí huyết tạng phủ mà sinh ra nhiều bệnh. Liên quan đến cả nội khoa, ngoại khoa, phụ khoa, nhi khoa…
Đàm ứ quấy phá hình thành nhiều bệnh tật, mà còn nói có “ ngoan đàm quái bệnh”, “ dị chứng”, biểu hiện lâm sàng đương nhiên là biến hóa khôn lường, hư thực thác tạp, biểu lý bất nhất, muôn hình muôn vẻ.
Như là đau đầu như bó chặt, chóng mặt, lơ mơ, ngực sườn đầy chướng, suyễn tức khí nghịch, cổ họng có dị vật, dễ bị kinh sợ, kinh giản, co giật, rối loạn tâm thần, ngủ không yên giấc; hoặc liệt dương ở nam, đới hạ ở nữ; hoặc đàm đi trong kinh lạc, bán thân bất toại, thất ngôn , hoặc đàm hạch, đại tiện khô táo kết…
Từ xưa tới nay đối với châm cứu điều trị chứng đàm rất ít tài liệu đề cập đến. Bài viết này đề cập tới Giáo sư Châu Đức An trong nhiều năm châm cứu thực tiễn đã dần dần hình thành nên phương pháp châm cứu điều trị đàm độc đáo, sáng lập nên hàng loạt các công thức châm cứu hóa đàm, từ kinh nghiệm tới lâm sàng, đã có nhiều hiệu quả kỳ diệu.
- Hóa Đàm Phương : Phong Long, Trung Quản, Liệt Khuyết, Nội Quan, Công Tôn.
Trong đó Phong Long, Trung Quản làm chủ huyệt
Phong Long là huyệt lạc của kinh Túc Dương Minh Vị, có hiệu quả hóa đàm thần kỳ, tác dụng hóa đàm rộng lớn, đàm hữu hình và đàm vô hình đều có thể sử dụng.
Trung Quản là huyệt mộ của kinh Vị, là huyệt hội của Phủ. Tập trung khí của Tỳ, có tác dụng phân thanh giáng trọc, có tác dụng vận tỳ vị mà hóa đàm.
Chu Đan Khê cho rằng đàm là do Tỳ thất xung hòa, khí trở tân tụ gây nên, nếu Tỳ kiện vận mãi mãi bình thường, khí thuận tân thông sướng, thấp không thể tụ lại, há có lý thành đàm. Do đó cho rằng “ Thực Tỳ thổ, Táo Tỳ thấp” là cơ sở trị đàm, “ thuận khí vi tiên, phân đạo thứ chi” là thứ tự trị đàm. Từ đó có thể biết, “thực ỳ táo thấp’ với “ thuận khí” là hai quy tắc trị đàm lớn.
Giáo sư Châu Đức An kế thừa tư thưởng này của Chu Đan Khê, vì Tỳ Vị là ngọn nguồn sinh ra đàm, Công Tôn huyệt lạc của kinh Túc Thái Âm Tỳ phối hợp với Nội Quan có thể thực tỳ táo thấp.
Phế là nơi trữ đàm, do vậy lấy Liệt khuyết lạc huyệt của kinh Thủ Thái Âm Phế để lý khí hóa đàm, công thức châm cứu hóa đàm 5 huyệt chủ thứ phân minh, tiêu bản song trị, trở thành phương châm cứu trị đàm đầu tiên.
Trên lâm sàng dựa vào phương này mà biến hóa có thể sử dụng thích hợp cho từng loại chứng đàm khác nhau.
_________________________
- Địch Đàm Phương = Hóa Đàm Phương + Thiên Khu
Huyệt Thiên Khu thuộc kinh Túc Dương Minh Vị, vị trí ở bên cạnh rốn 2 thốn, vừa đúng là trung điểm của cơ thể, như ranh giới thiên địa giao hòa, đầu mối thăng giáng thanh trọc. Khí cơ của người lên xuống giao lưu, thăng giáng phù trầm, đều qua huyệt Thiên Khu.
“Đan Khê Tâm Pháp” có ghi: “ Thiện trị đàm giả, bất trị đàm năng trị khí, khí thuận tắc nhất thân chi tân dịch diệc tùy khí thuận hỹ” (Người trị đàm giỏi, không trị đàm mà trị khí, khí thuận ắt tân dịch trong cơ thể cũng theo khí mà thuận). Trị khí ắt đàm có thể tiêu.
Vì vậy châm Thiên Khu có thể thông qua lý khí mà gián tiếp đạt được mục đích hóa đàm. Hơn nữa, huyệt Thiên Khu là huyết mộ kinh Dương Minh Đại Trường, lại có công năng thanh tiết dương minh phủ thực.
Bản thân huyệt Thiên Khu có thể điều trị khối u cục do đàm ngưng khí kết. ”Châm cứu đại thành” có ghi huyệt Thiên Khu chủ về điều trị các khối u cục ở phụ nữ, máu kết thành cục, khí hư trắng đỏ, kinh nguyệt không đều. Chủ trị các bệnh chứng cơ bản tương đương u cơ tử cung của y học hiện đại.
Nói tóm lại, Địch Đàm Phương lại có hiệu quả thanh nhiệt khoát đàm, lý khí thông phủ, được dùng nhiều các chứng bệnh do đàm hỏa hỗ kết, phủ khí không thông.
_________________________
- Khoát Đàm Phương = Hóa Đàm Phương + Nhân Trung, Dũng Tuyền.
Khoát đàm phương là dựa trên cơ sở Hóa đàm phương thêm Nhân trung, Dũng tuyền mà thành, có hiệu quả thanh tâm tả hỏa, khoát đàm khai khiếu.
Nhân trung là huyệt thuộc Đốc mạch, là huyệt kinh nghiệm có tác dụng thanh tâm tả hỏa, trấn kinh an thần, khai khiếu tỉnh thần, là huyệt quan trọng được sử dụng để cấp cứu trên lâm sàng.
Dũng tuyền là huyệt tỉnh của kinh Thận, có công năng tư thủy chế hỏa, tỉnh thần khai khiếu.
Toàn phương châm cứu hóa đàm phương lý khí hóa đàm, lấy Nhân Trung, Dũng Tuyền khai khiếu tỉnh thần, được dùng nhiều điều trị cho các chứng bệnh trúng phong hôn mê, chứng giản, chứng bê, điên cuồng…đàm che tâm khiếu.
_________________________
- Tiêu Đàm Phương:
Tiêu Đàm Phương = Hóa Đàm Phương + kim vàng 6 thốn Khúc Trì thấu Tý Nhu; hoặc = Hóa Đàm Phương + Hỏa châm tại chỗ.
Sử dụng thích hợp cho bệnh lao hạch , u vú, u xơ tử cung, hà bĩ khối… một vài chứng bệnh đàm ngưng khí kết.
Kim vàng 6 thốn Khúc Trì Tý Nhu là 1 kim châm thấu 3 huyệt, lấy Khúc Trì, Thủ Ngũ Lý, Tý Nhu, 3 huyệt thuộc kinh Thủ Dương Minh Đại Trường, kinh Dương Minh là kinh đa khí đa huyết, châm xuyên 3 huyệt này, có thể tăng khả năng hành khí hoạt huyết, sơ thông kinh lạc, trục ứ tán kết, hóa hủ sinh cơ.
Kim vàng 6 thốn Khúc Trì Tý Nhu là kinh nghiệm lâm sàng của đại gia châm cứu Vương Lạc Đình vốn chỉ sử dụng điều trị bệnh lao hạch. Giáo sư Châu Đức An mở rộng dùng trong các chứng bệnh u vú, u xơ tử cùng, khối u cục…
Phương pháp hỏa châm, châm thật nhanh vào điểm cục bộ A thị huyệt điều trị loa lịch , khối u, u nhọt tích tụ… là tuyệt kỹ của Quốc Y Đại Sư Hạ Phổ Nhân. Hỏa châm rất mạnh trong phá hạch tiêu đàm. Phương pháp châm nhanh hỏa châm , chích cục bộ a thị huyệt có thể điều trị phần ngọn, phối với Hóa Đàm Phương có thể trị phần gốc, tiêu bản đồng trị.
_________________________
BỆNH ÁN VÍ DỤ
Bệnh nhân nữ, 38 tuổi, 25/4/2009 đến chẩn bệnh.
Bệnh nhân phàn nàn những lúc bình thường tính tình mất kiên nhẫn, dễ nổi giận, khoảng 2 năm trước đây vì cùng với đồng nghiệp tranh cãi vài câu mà cảm thấy tức ngực, cảm giác ngột ngạt , khoảng 1 tuần trở lại đây thấy tức ngực ngột ngạt chuyển biến tốt hơn, nhưng dường như bực bội lại đi lên, mà cổ họng xuất hiện cảm giác nghẹn. Cảm giác khô nhưng không khó chịu, sau đó uống 1 chút nước cho trơn cổ họng, sau đó một lúc lâu cảm giác có vật gì ở cổ họng, khạc không ra, nuốt cũng không xuống, kiểm tra tai mũi họng thì không thấy có gì bất thường.
Đã từng lấy mạch đông, cây lười ươi.. thay cho nước trà, uống sơ can, gia thêm tiêu diêu hoàn…tự thấy có chuyển biến tốt, nhưng vẫn cảm thấy cổ họng bị tắc nghẹn.
Bệnh nhân ăn uống, nhị tiện, ngủ,mơ mộng đến kinh nguyệt vẫn bình thường.
Lưỡi hơi đỏ, rêu trắng mỏng, mạch huyền tế. Chứng minh là đàm khí uất trệ, kết tại hầu họng, mới gây nên khí đạo bất lợi mà thành mai hạch khí.
Do đó lấy pháp lý khí hóa đàm để tiến hành điều trị. Lấy châm cứu Hóa Đàm Phương thêm Ngư tế, Chiếu hải, Thiên đột, dùng thủ pháp bình bổ bình tả, châm cứu điều trị 10 lần mà khỏi.
Bệnh do nhiều nguyên nhân tình chí thất thường, uất mà hóa nhiệt, thiêu đốt âm tân, đốt tân thành đàm, dẫn đến khí, hỏa, đàm kết tại hầu họng mà thành.
Hóa Đàm Phương có thể lý khí hóa đàm, hầu họng lại thuộc phế,
– Ngư tế là huyệt huỳnh của kinh Thủ Thái Âm Phế, có thể thanh phế nhiệt.
– Chiếu Hải là huyệt thuộc kinh Túc Thiếu Âm Thận, có thể tư thận thủy, phối Ngư Tế có thể đạt được hiệu quả dưỡng âm thanh nhiệt lợi hầu.
– Thiên đột là huyệt của Nhâm mạch, nằm ở chính giữa hố thượng đòn, nơi yếu hẹp nhất của đường thở, châm có thể lợi khí giáng đàm, thông sướng khí đạo.