Giới thiệu thêm một chút, “Đề tài phân tích 500 bệnh án Tâm thần phân liệt bằng châm cứu” của Bác sĩ Sử Chính Tu được công bố trong hội thảo “Học thuật châm cứu Thế giới” lần I năm 1987. Sử Chính Tu được xếp vào danh y châm cứu cận đại, sinh năm 1926, là người kế thừa tuyệt kỹ Quá Lương Châm Pháp chuyên điều trị các bệnh về tinh thần, điên cuồng.
Quá Lương Châm Pháp được phát triển từ kỹ thuật dùng kim Đại Châm trong Cửu Châm – Linh Khu. Kim to dài, 0.8mmx100-200mm. Thường châm sâu xuyên qua huyệt, xuyên đến da của bên phía đối diện (không xuyên thủng) nên được gọi là Quá Lương. Chuyên đặc trị các bệnh về tinh thần, điên cuồng.
______________
Nhóm có 500 bệnh nhân gồm: 183 nam và 317 nữ, trẻ nhất 10 tuổi và lớn nhất 75 tuổi.
Dựa theo biện chứng Đông y chia thành 3 nhóm là: Điên Cuồng, Trầm Cảm và Hoang Tưởng.
______________
1. Nhóm điên cuồng (181 trường hợp),
Thường gặp ở trạng thái hưng phấn của bệnh tâm thần phân liệt, trung y gọi là “cuồng chứng”.
1.1 Tâm Dương Thượng Khang: Tâm phiền, ý loạn, cười khóc thất thường, xé quần áo, đập đồ vật, cởi trần truồng, không biết xấu hổ, táo bón, tiểu vàng đỏ. Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng khô, mạch hồng đại có lực.
1.2 Can Hỏa Quá Vượng: Rối loạn ngôn ngữ, dễ bị kích động, gào hét không dừng, thậm chí đánh người, phá đồ đạc. Mắt đỏ, đầu lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác
1.3 Vị Hỏa Thực: Vò đầu bứt tóc, đi lung tung, trèo lên cao và hát, nói mê, nghe thấy và nhìn thấy những thứ không bình thường (ảo giác). Người nóng, miệng khô, đại tiện táo, tiểu tiện đỏ. Chất lưỡi đỏ, rêu dày vàng hoặc đen nứt, mạch hồng đại sác.
Theo lý luận “Trùng dương giả cuồng”, lấy huyệt đốc mạch là chính, thường lấy các huyệt Đại chuỳ, Cường gian, Nhân trung, Cưu vĩ, phối hợp thêm các huyệt Hậu khê thấu lao cung hoặc Gian sử thấu chi câu. Hoặc các huyệt Hợp cốc thấu lao cung, Thái xung thấu dũng tuyền, Thần đình, Khúc trì, Túc tam lý cũng thường được phối hợp sử dụng. Châm thích chủ yếu dùng tả pháp.
______________
2. Nhóm trầm cảm (140 trường hợp),
Thường gặp ở trạng thái trầm cảm, đờ đẫn của bệnh tâm thần phân liệt, trung y gọi là “điên chứng”.
2.1 Đàm mê tâm khiếu: Biểu hiện lạnh nhạt, tinh thần hoảng hốt, rối loạn ngôn ngữ, hoang tưởng, nghĩ nhìn nghe thấy những thứ không có thật, có khi ngồi cười 1 mình. Lưỡi đỏ rêu vàng cáu, mạch huyền kiêm hoạt sác.
2.2 Can khí uất kết: Lãnh đạm ít nói, tính cách cô độc, ngồi 1 mình cả ngày được, hành động bị động, có ý nghĩ chán ghét cuộc đời và muốn tự sát. Lưỡi đỏ hoặc tím, mạch huyền, tế, sác
2.3 Tâm khí hư xuy: trầm tính ít nói, không có tư duy gì, tự kỷ ám thị, ít nói, mắt không có thần. Chất lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng, mạch tế.
Theo lý luận “Trùng âm giả điên” thì lấy huyệt nhâm mạch là chính. Chẳng hạn Đàm mê tâm khiếu thường dùng các huyệt Cự khuyết, đản trung, Thần đình, Đại lăng, Phong long, Lao cung, Dũng tuyền. Can khí uất kết thường dùng các huyệt Trung quản, Bách hội, Gian sử thấu chi câu, Thái xung thấu dũng tuyền hoặc Hợp cốc thấu lao cung, chủ yếu dùng bổ pháp.
______________
3. Nhóm Hoang tưởng (179 trường hợp),
Suy nghĩ nhiều thương Tỳ, Tỳ hư thì Thần minh thất dưỡng, sợ hãi quá thương Đởm, Đởm hư thì sợ sệt suy nghĩ nhiều, nên hoang tưởng cũng thuộc “Chứng Điên”
3.1 Suy nghĩ thương Tỳ:; Bệnh diễn biến chậm, tính cách mẫn cảm, hay hoài nghi người khác nói xấu hoặc không tin mình, lười biếng trong sinh hoạt, có thể nghe thấy âm thanh ảo. Lưỡi nhạt, mạch trầm tế hoãn.
3.2 Sợ hãi thương Đảm: Triệu chứng hay suy nghĩ, sợ hãi, nghĩ linh tinh, hoặc có thể sợ bị bắt, có hành vi làm bản thân và người khác bị thương. Chất lưỡi trắng, mạch huyền tế.
Thường dùng các huyệt Trung quản, đản trung, Thần đình, Thần môn, Tam âm giao hoặc Nội quan, Công tôn… Châm thích chủ yếu dùng bổ pháp.
Điều trị đối với ba nhóm hội chứng trên. Bắt đầu châm thích mỗi ngày 1 lần, 20 lần là đợt điều trị. Nghỉ ngơi một tuần và tiếp tục đợt điều trị thứ 2. Nếu tình trạng bệnh cải thiện, có thể thực hiện châm thích cách ngày 1 lần.
______________
4. Lưu ý: Đối với những bệnh nhân ban đầu khó châm cứu, cho một lượng nhỏ thuốc an thần, chẳng hạn như chlorpromazine, mỗi ngày không quá 200 mg, thường uống trước khi đi ngủ vào buổi tối hoặc uống 1 lần vào buổi trưa và buổi tối.
______________
5. Hiệu quả điều trị
5.1 Tiêu chuẩn hiệu quả điều trị:
– Khỏi bệnh: khi bệnh nhân có các triệu chứng biến mất, khả năng tự nhận thức được phục hồi hoàn toàn và thích nghi tốt với môi trường.
– Hiệu quả rõ rệt: khi bệnh nhân có các triệu chứng chính biến mất, khả năng tự nhận thức được phục hồi một phần và có thể thích nghi với môi trường trong một phạm vi nhất định.
– Cải thiện: khi bệnh nhân có các triệu chứng giảm bớt hoặc một phần biến mất, thiếu khả năng tự nhận thức và có thể tự chăm sóc hoặc một phần tự chăm sóc bản thân trong sinh hoạt.
-Không hiệu quả: khi bệnh nhân có các triệu chứng không được cải thiện.
5.2 Hiệu quả điều trị:
Trong 500 ca:
– 275 ca khỏi bệnh, chiếm 55,0%;
– 84 ca hiệu quả rõ rệt, chiếm 16,8%;
– 83 ca cải thiện, chiếm 16,6%;
– 58 ca không hiệu quả, chiếm 11,6%;
– Tổng tỷ lệ có hiệu quả là 88,4% (442 ca);
– Tỷ lệ khỏi bệnh và hiệu quả rõ ràng là 71,8% (359 ca).
5.3 Tỷ lệ tái phát:
Tiến hành theo dõi 275 bệnh nhân khỏi bệnh, có 194 bệnh nhân trả lời (trong đó có 87 bệnh nhân gặp được trực tiếp), tái phát 63 bệnh nhân, chiếm 32,5%.