Dr Troi
  • Trang chủ
  • ĐỔNG THỊ KỲ HUYỆT
    • KHÁI QUÁT
    • HUYỆT VỊ
    • Bộ 11 (Ngón Tay)
    • Bộ 22 (Bàn Tay)
    • Bộ 33 (Cẳng Tay)
    • Bộ 44 (Cánh Tay)
    • Bộ 55 (Ngón Chân)
    • Bộ 66 (Mu Bàn Chân)
    • Bộ 77 (Cẳng Chân)
    • Bộ 88 (Đùi)
    • Bộ 99 (Tai)
    • Bộ 1010 (Đầu Mặt)
    • Bộ VT (Ngực)
    • Bộ DT (Lưng)
  • BÀI THUỐC ĐẶC HIỆU
  • PHƯƠNG HUYỆT KỲ DIỆU
  • ĐIỀU TRỊ
    • 1. Thần Kinh
    • 2. Ngũ Quan
    • 3. Hô Hấp
    • 4. Tim Mạch
    • 5. Tiêu Hóa
    • 6. Gan Mật
    • 7. Thận – Tiết Niệu
    • 8. Nội Tiết
    • 9. Cơ Xương khớp
    • 10. Da Liễu
    • 11. Ung Bướu
    • 12. Nhi Khoa
    • 13. Phụ Khoa
    • 14. Nam Khoa
    • 15. Lão Khoa
  • NỘI ĐAN HỌC
  • TẢN VĂN
  • ĐĂNG KÝ KHOÁ HỌC

ĐẠI ĐẠO HÀNH

Hành trình đến với Đại Đạo của cư sĩ Vương Lực Bình

by troinguyen 23/09/2025
23/09/2025
Menu
  • Hình thái sơ khai của khoa học kỹ thuật hiện đại trong văn hóa truyền thống Trung Quốc
  • Vị trí của văn hóa Đạo gia trong văn hóa truyền thống Trung Quốc
  • Vương Lực Bình luận về hệ thống triết học “mới”
  • Thế giới quan tâm đến văn hóa Đạo gia nói lên điều gì
  • Chương 1: Thiên Lý Sư Phỏng
  • Chương 2: Thùy Luyện Tâm Tính
  • Chương 3 – Tụ Tinh Hội Thần
  • Chương 4: Khổ Tu Tam Giới
  • Chương 5: Phục Thực Tịch Cốc
  • Chương 6: Tuy Tử Phục Sinh
  • Chương 7: Tiềm Tâm Tu Đạo
  • Chương 8: Du Ngoạn Bốn Phương
  • Chương 9: Khai Trí Ngũ Thuật
  • Chương 10: Siêu Việt Thời Không
  • Chương 11: Vận Mộng Luyện Thần
  • Chương 12: Thâm Sơn Thám Bảo
  • Chương 13: Thiên Ngoại Hữu Thiên
  • Chương 14: Vũ Trụ Chi Mộng
  • Chương 15: Đạo Pháp Tự Nhiên
  • Chương 16: Phi Thăng Tam Giới
  • Chương 17: Sư Đồ Biệt Ly
  • Chương 18: Siêu Thánh Nhập Phàm
  • Chương 19: Phụng Mệnh Xuất Sơn
  • Chương 20: Kiên Phụ Trọng Nhậm 
  • Chương 21: Phản Bản Hoàn Nguyên
  • Kết thúc
  • Lời Chú Thích

Mục lục

Toggle
  • Một Số Lưu Ý Của Người Dịch
  • Lời Nói Đầu
  • Văn Hóa Trung Hoa Sẽ Tỏa Sáng Trở Lại
    • Hình thái sơ khai của khoa học kỹ thuật hiện đại trong văn hóa truyền thống Trung Quốc
    • Vị trí của văn hóa Đạo gia trong văn hóa truyền thống Trung Quốc
    • Vương Lực Bình luận về hệ thống triết học “mới”
    • Thế giới quan tâm đến văn hóa Đạo gia nói lên điều gì
  • Quyển Thượng: Xuất Thế Nhập Đạo
    • Chương 1: Thiên Lý Sư Phỏng
    • Chương 2: Thùy Luyện Tâm Tính
    • Chương 3 – Tụ Tinh Hội Thần
    • Chương 4: Khổ Tu Tam Giới
    • Chương 5: Phục Thực Tịch Cốc
  • Quyển Trung: Tái Sinh Trùng Luyện
    • Chương 6: Tuy Tử Phục Sinh
    • Chương 7: Tiềm Tâm Tu Đạo
    • Chương 8: Du Ngoạn Bốn Phương
    • Chương 9: Khai Trí Ngũ Thuật
    • Chương 10: Siêu Việt Thời Không
    • Chương 11: Vận Mộng Luyện Thần
    • Chương 12: Thâm Sơn Thám Bảo
    • Chương 13: Thiên Ngoại Hữu Thiên
    • Chương 14: Vũ Trụ Chi Mộng
    • Chương 15: Đạo Pháp Tự Nhiên
    • Chương 16: Phi Thăng Tam Giới
  • Quyển Hạ: Tham Tán Hóa Dục
    • Chương 17: Sư Đồ Biệt Ly
    • Chương 18: Siêu Thánh Nhập Phàm
    • Chương 19: Phụng Mệnh Xuất Sơn
    • Chương 20: Kiên Phụ Trọng Nhậm 
    • Chương 21: Phản Bản Hoàn Nguyên
    • Kết thúc
    • Lời Chú Thích

Một Số Lưu Ý Của Người Dịch

  • Quyển sách Đại Đạo Hành này được Bác sĩ Đông y Nguyễn Văn Trỗi dịch lại từ bản pdf do cô Tần Linh (Đệ tử trực tiếp của thầy Vương Lực Bình) gửi cho thầy Nguyễn Đình Khuê. Dưới sự đồng ý và chỉ đạo của thầy Nguyễn Đình Khuê.
  • Bản dịch này được tôi sử dụng như là một tài liệu cá nhân chia sẻ nội bộ trong nhóm học Đạo Gia. Không dùng dưới mục đích thương mại. Mọi người có thể lưu lại để làm tài liệu cá nhân. Có thể góp ý đến email troi.nguyen@gmail.com để bài dịch hoàn thiện hơn.
  • Bản quyển quyển sách thuộc về 2 tác giả phỏng vấn thầy Vương Lực Bình là Trần Khai Quốc – Trịnh Thuận Triều và nhà xuất bản. Do chưa xin phép tác giả nên quyển sách này sẽ bị gỡ xuống khi có yêu cầu từ tác giả hoặc dưới sự chỉ đạo của các sư phụ.
  • Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm: Tôi không chịu trách nhiệm và liên quan nếu ai đó tự tập luyện và xảy ra vấn đề. Tôi không chịu trách nhiệm và liên quan nếu ai đó dùng bản dịch này dưới mục đích thương mại.

Lời Nói Đầu

Hai tác giả Trần Khai Quốc – Trịnh Thuận Triều của cuốn sách này đều được đào tạo chính quy trong nền giáo dục Trung Quốc đương đại, lại cùng học chuyên ngành kinh tế ở đại học, xét từ điểm này thì khá phù hợp với nhu cầu của xã hội hiện nay. Nhưng trong quá trình công tác, đặc biệt là với trải nghiệm mười năm gần đây, chúng tôi cảm thấy bản thân có một sự thiếu hụt nghiêm trọng, đó là gì? Có phải là thiếu kinh nghiệm công tác và trải nghiệm cuộc sống? Không thể phủ nhận có vấn đề ở mặt này. Nhưng sự thiếu hụt này ai cũng có, hơn nữa, cùng với thời gian và nỗ lực của bản thân, có thể không ngừng bù đắp. Có phải là do hiểu biết và tiếp thu văn minh hiện đại phương Tây quá ít? Cũng có vấn đề ở mặt này, nhưng then chốt không nằm ở lượng tiếp thu, mà ở phương pháp tiếp thu như thế nào, tiếp thu từ góc độ nào, tinh hoa của văn minh hiện đại phương Tây là gì, làm thế nào để kết hợp những thứ này một cách phù hợp với tình hình thực tế của Trung Quốc, biến chúng thành của mình – sau thời gian dài suy ngẫm, chúng tôi cảm thấy sự thiếu hụt lớn nhất của mình là hiểu biết quá ít về văn hóa truyền thống Trung Quốc, biết quá ít về tinh hoa của nó, nhận thức rất nông cạn. Hiện nay, những vấn đề đặt ra trước mắt chúng ta rất nhiều và rất lớn, với tư cách là người Trung Quốc, mọi người đều rất lo lắng, hy vọng vấn đề được giải quyết nhanh chóng hơn, tốt hơn, để dân tộc Trung Hoa ở mọi mặt đều đứng vào hàng ngũ các dân tộc tiên tiến trên thế giới. Vậy biện pháp giải quyết vấn đề là gì? Khám phá văn hóa truyền thống là một trong những con đường tìm ra biện pháp này.

Khám phá văn hóa truyền thống được nói đến ở đây không chỉ là việc mà các chuyên gia, học giả mới có thể làm, mà là nói ai cũng có thể khám phá, thực tế cũng là việc mà mọi người đều đang làm. Cấp độ vấn đề mọi người thảo luận có khác biệt, nhưng trọng tâm vấn đề là giống nhau – đó là: Trung Quốc trong mấy thế kỷ gần đây đã tụt hậu so với phương Tây, tại sao lại tụt hậu? Có phải là tụt hậu ở mọi mặt? Trung Quốc trong nhiều thế kỷ trước đã dẫn đầu phương Tây, tại sao lại dẫn đầu? Dẫn đầu ở những mặt nào? Giá trị của văn hóa truyền thống Trung Quốc trong hiện tại và tương lai là gì? Những mặt nào có giá trị?

Một dân tộc tụt hậu ở một số mặt không đáng sợ, đáng sợ nhất là tinh thần không phấn chấn, chí khí không cao, không có tư duy tích cực sáng tạo đúng đắn. Một dân tộc tiên tiến ở một số mặt, tạm thời đi trước các dân tộc khác, cũng không đáng tự hào, một khi tự hào thì tinh thần đã suy sụp trước, tư duy đã cứng nhắc, sắp đi xuống rồi. Vật cực tất phản, nhưng phản có điều kiện. Điều kiện ở đây chính là tinh thần, chính là tư duy, đối với sự trưởng thành của cá nhân và sự phát triển của xã hội mà nói, đều là quan trọng nhất, nghĩa là, đừng rơi vào sự mù quáng.

Nói không rơi vào mù quáng, điều đó rất khó thực hiện. Một người bình thường khó làm được, một người vĩ đại thường cũng khó làm được. Đối với một dân tộc mà nói, cũng vậy. Công việc chúng tôi đang làm hiện nay, thiên về góc độ văn hóa, lấy một nhân vật làm ví dụ thực tế, để thảo luận về giá trị của văn hóa truyền thống Trung Quốc, nhằm tăng cường nhận thức của mọi người về nó, khắc phục và tránh sự mù quáng, nâng tinh thần và tư duy lên một tầng cao và cảnh giới cao hơn.

Nhân vật đó chính là tiên sinh Vương Lực Bình. Ông là nhân vật chính của cuốn sách này, cuốn sách được viết dựa trên cơ sở phỏng vấn ông. Tiên sinh Vương Lực Bình là truyền nhân đời thứ 18 của phái Long Môn Đạo gia, là cư sĩ tu tại gia đầu tiên trong số mười tám đời truyền nhân này xuất gia hoàn tục. Lấy ông làm điển hình để khám phá văn hóa truyền thống Trung Quốc, thảo luận một số vấn đề mà mọi người cùng quan tâm, việc này cũng giống như công việc của các nhà khoa học trong lĩnh vực của họ, là việc rất có ý nghĩa. Trong cuốn sách này, tất cả các mô tả liên quan đến trải nghiệm luyện công đều do tiên sinh Vương Lực Bình tự kể lại. Còn các văn tự mang tính thảo luận, các quan điểm quan trọng phần lớn do tiên sinh Vương Lực Bình đưa ra dựa trên tư tưởng triết học của mình, các luận thuật thông thường thì do tác giả căn cứ vào đó để triển khai hoặc phát huy.

Văn Hóa Trung Hoa Sẽ Tỏa Sáng Trở Lại

Hình thái sơ khai của khoa học kỹ thuật hiện đại trong văn hóa truyền thống Trung Quốc

Trung Quốc thời kỳ cuối phong kiến, trong một thời gian dài thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng, khiến giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc và nước ngoài bị hạn chế rất lớn. Mà giai đoạn này lại chính là thời kỳ khoa học kỹ thuật phương Tây phát triển nhanh chóng, chúng ta đã mất đi cơ hội tốt để hấp thu những điều bổ ích từ phương Tây, khiến văn hóa truyền thống Trung Quốc nhảy vọt lên thành văn hóa hiện đại. Sự mất mát này là rất lớn. Người Trung Quốc đã chìm đắm trong giấc ngủ mê mệt với thái độ tự mãn, bế quan.

Mãi đến năm 1840, thuyền chiến vững chắc và súng đại bác mạnh mẽ của chủ nghĩa thực dân phương Tây mới bắn phá cánh cửa Trung Quốc, tổ tiên chúng ta mới bắt đầu từ từ tỉnh giấc từ giấc mộng, mở mắt nhìn thấy sức mạnh quốc gia và khoa học kỹ thuật tiên tiến của các nước phương Tây, hiểu ra rằng chúng ta ở nhiều mặt đã tụt hậu so với người ta. Người phương Tây xem dân tộc Trung Hoa chúng ta là dân tộc thấp kém, dân tộc Trung Hoa chúng ta về tinh thần đã phải chịu đựng nỗi đau khổ lớn kéo dài.

Trong một thế kỷ kể từ sau Chiến tranh Nha phiến, dân tộc Trung Hoa trải qua bao khổ nạn, từ thể xác đến tinh thần đều vật lộn trên bờ vực sinh tử, dân tộc phương Đông với nền văn minh rực rỡ lâu đời hàng nghìn năm này đã không bị hủy diệt, không bị chinh phục, nó không thể bị hủy diệt, không thể bị chinh phục. Bởi vì văn hóa của dân tộc này tiềm ẩn sức mạnh to lớn.

Nhưng không phải tất cả người Trung Quốc đều nhận ra sức mạnh của văn hóa Trung Hoa, cũng không phải tất cả người nước ngoài đều thiếu nhận thức sâu sắc về văn hóa Trung Hoa. Đây là một vấn đề mang tính hai mặt, đứng trên lập trường của người Trung Quốc, nó liên quan đến sự trỗi dậy lần nữa của văn hóa Trung Hoa; từ góc độ toàn thế giới, nó liên quan đến sự nhảy vọt của văn minh nhân loại lên tầng cao hơn.

Đây không phải là nói suông. Những người có tri thức phương Tây đã sớm nhìn ra tinh hoa của văn hóa truyền thống Trung Hoa, cũng hiểu rõ giá trị quan trọng của chúng trong việc thúc đẩy sự phát triển của văn minh nhân loại. Chúng tôi xin nêu vài ví dụ để minh họa vấn đề.

Mọi người đều biết vị trí của tên lửa vũ trụ trong khoa học kỹ thuật hiện đại. Vậy tên lửa hiện đại có mối quan hệ như thế nào với văn hóa cổ đại Trung Quốc? Thực tế, tên lửa hiện đại và tên lửa cổ đại Trung Quốc về nguyên lý là giống nhau, chỉ khác về kỹ thuật và vật liệu chế tạo mà thôi. Tiến sĩ Joseph Needham của Đại học Cambridge, Anh, thông qua khảo chứng chi tiết đã chứng minh rằng, vào cuối thế kỷ 13, Tây Âu thông qua nhiều kênh khác nhau đã có được các loại vũ khí như thuốc súng, súng hỏa mai, súng thần công, hỏa đồng, hỏa tiễn do người Trung Quốc phát minh, sau đó bắt chước chế tạo, rồi cải tiến, trên cơ sở vật chất kỹ thuật phương Tây đã sản xuất ra những vũ khí mới tốt hơn. Đến thời hiện đại, thì lại đẩy mạnh việc áp dụng các kỹ thuật này vào sự nghiệp vũ trụ, sản xuất ra tên lửa vũ trụ có sức mạnh lớn hơn, độ chính xác cao hơn.

Một ví dụ thuyết phục hơn nữa, là mối liên hệ giữa phát minh máy tính điện tử và văn hóa cổ đại Trung Quốc. Thế giới công nhận hệ nhị phân được sử dụng trong máy tính điện tử do người Đức Leibniz sáng lập vào cuối thế kỷ 17, nhưng theo khảo chứng chi tiết của Tiến sĩ Joseph Needham, phát hiện Leibniz có hứng thú sâu sắc với văn hóa Trung Quốc, Leibniz trong thời gian dài đã thảo luận với nhiều giáo sĩ Jesus từng đến Trung Quốc về các vấn đề văn hóa truyền thống Trung Quốc, tiếp nhận nhiều quan niệm của văn hóa Trung Quốc, và áp dụng những quan niệm này vào nghiên cứu toán học của mình. Và chính sau khi nhìn thấy bát quái lục hào đồ được đính kèm trong sách “Chu Dịch”, ông mới gửi bài luận văn về hệ nhị phân của mình cho Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Paris để công bố. Máy tính điện tử hiện đại sử dụng chính phương pháp tính hệ nhị phân được sinh ra từ cảm hứng từ bát quái này.

Từ những ví dụ đơn giản trên, ít nhất có thể rút ra những kết luận sau: Một, văn hóa truyền thống Trung Quốc chứa đựng trí tuệ nhân loại to lớn, chỉ cần chúng ta chăm chỉ khai thác, kết hợp nó một cách phù hợp với khoa học kỹ thuật hiện đại, thì nó sẽ trở thành sức mạnh to lớn thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại, thúc đẩy sự tiến bộ của văn minh hiện đại. Hai, nhìn thấy thành tựu to lớn của văn hóa truyền thống, mà tự mãn, dừng bước, từ chối hấp thu tất cả các yếu tố văn hóa ưu tú cổ đại và hiện đại của các dân tộc khác trên thế giới, mà không thể làm phong phú bản thân, phát triển bản thân, thái độ này là sai lầm; xóa bỏ hoàn toàn thành tựu vĩ đại của văn hóa truyền thống, vứt bỏ cả tinh hoa lẫn cặn bã của nó, chỉ biết mù quáng sùng bái phương Tây, quên tổ tiên của mình, từ vật chất đến tinh thần, từ ngoài vào trong hoàn toàn Tây hóa, không có gì kế thừa, đổi mới và phát triển, không có chỗ nào tự cường, tự lập, tự đổi mới, thái độ này cũng sai lầm.

Vấn đề hiện nay là, bản thân chúng ta đối với văn hóa ưu tú do tổ tiên sáng tạo vẫn còn hiểu biết rất ít, nghiên cứu rất không đầy đủ, kế thừa rất không toàn diện. Ngược lại, nhiều người có tri thức phương Tây đã nhìn ra trong văn hóa truyền thống Trung Quốc có chứa đựng những thứ cực kỳ giá trị, họ dốc toàn lực để khám phá, khai quật, tinh luyện. Trong cách đối xử với văn hóa truyền thống của mình, chúng ta so với người phương Tây, có điểm nào đáng để tự xem xét lại không? Lẽ nào lại để người phương Tây dạy bảo chúng ta một lần nữa? Người Trung Quốc hiện nay, chúng ta sẽ kể lại với con cháu mình như thế nào?

Vị trí của văn hóa Đạo gia trong văn hóa truyền thống Trung Quốc

Ngày 7 tháng 5 năm 1990, tác giả cuốn sách này từ Bắc Kinh đến Thẩm Dương, trong năm ngày sau đó, đã nghe tiên sinh Vương Lực Bình trình bày về sự hiểu biết của ông với tư cách là truyền nhân đời thứ 18 của phái Long Môn Đạo gia đối với văn hóa Đạo gia, cũng như những trải nghiệm và chứng nghiệm của ông về các phương diện triết học tự nhiên của Đạo gia, lấy chính cơ thể mình làm đối tượng thí nghiệm chủ yếu.

Chủ đề tự nhiên bắt đầu từ việc chấn hưng tinh thần dân tộc, phát huy văn hóa Trung Hoa. Chúng tôi nói rõ ý định, tiên sinh Vương Lực Bình vô cùng tán đồng. Sau khi nêu ví dụ minh họa mối quan hệ văn hóa giữa cổ đại và hiện đại, Đông phương và Tây phương, chủ đề chuyển sang văn hóa Đạo gia.

Văn minh nhân loại sau quá trình phát triển dài lâu, vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên bước vào một thời kỳ then chốt. Nhiều yếu tố văn hóa cần thiết đã chín muồi, ở phương Đông hình thành hai “khối khí” văn hóa quan trọng, sản sinh hai nhân vật có ảnh hưởng to lớn đến lịch sử sau này. Đó chính là Phật giáo Ấn Độ và Thích Ca Mâu Ni, Đạo gia Trung Quốc và Lão Tử.

Phật giáo xuất phát từ Ấn Độ, xét về phương hướng địa lý rộng lớn, thuộc về phương Đông. Do đó, sự phát triển tương lai của Phật giáo chắc chắn mở rộng về phía đông, Trung Quốc cũng nằm trong phạm vi mở rộng đó. Giáo lý và giáo nghĩa tổng quát của nó có tính phổ quát, nhưng ở một số vấn đề cụ thể, đặc biệt là phương pháp tu luyện thân thể, thì cần phải đổi mới. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc đã sản sinh ra tôn giáo của riêng mình, thực chất đó là một hệ thống triết học cao độ chín muồi, bao gồm dưỡng sinh và phương pháp rèn luyện thân thể, từ thể xác đến tinh thần đều đạt được sự thăng hoa, đây chính là cống hiến của Lão Tử đối với văn hóa Trung Quốc, cũng là cống hiến của ông đối với văn minh nhân loại. Về điểm này, với lịch sử hơn hai nghìn năm làm chứng cứ, chúng ta đã thấy rất rõ ràng, sau này sẽ càng thấy rõ hơn.

Trong lịch sử xuất hiện mấy vị Lão Tử, điều này trong sử sách có ghi chép rõ ràng. Mấy vị Lão Tử này có phải là một người hay không, các học giả đời sau thường có nghi vấn, thậm chí nghi ngờ liệu trong lịch sử có thực sự có người Lão Tử hay không, trong học thuật tranh cãi không dứt mà không có kết luận. Về vấn đề này, hãy để mọi người tranh cãi. Những người không hiểu về Đạo giáo, chưa từng tu luyện thì vĩnh viễn không thể hiểu rõ.

Lão Tử viết “Đạo Đức Kinh” năm nghìn chữ, đó là điều không ai nghi ngờ. Năm nghìn chữ này xây dựng một hệ thống triết học vĩ đại và chặt chẽ, từ vũ trụ đến nhân sinh, từ vật chất đến tinh thần, vô số tầng thứ, có cũng được, không có cũng được, đều bao gồm trong đó, và sắp xếp trật tự rõ ràng. Xét về phạm vi và chiều sâu luận thuật của sách “Lão Tử”, nó vượt xa trên các học phái thời Xuân Thu Chiến Quốc, ngay cả với tri thức mà con người hiện đại đạt được, cũng có nhiều thứ có thể tìm ra nguồn gốc từ “Lão Tử”, chỉ là ở một số phương diện đã làm phong phú thêm nó bằng tri thức chính xác hơn, hoàn thiện chủ đề của nó mà thôi.

Chúng ta hãy thử dẫn ra vài đoạn nguyên văn “Lão Tử” để xem.

Chương 25

Có vật hỗn độn mà thành, sinh ra trước trời đất, tịch lặng trống không, đứng một mình mà không thay đổi, vận hành khắp nơi mà không ngừng, có thể coi là mẹ của trời đất, ta không biết tên của nó, đặt tên là Đạo, miễn cưỡng gọi nó là Lớn, Lớn là Trôi qua, Trôi qua là Xa, Xa là Quay về. Cho nên Đạo lớn, trời lớn, đất lớn, người cũng lớn. Trong vũ trụ có bốn cái lớn, mà người chiếm một trong đó. Người bắt chước đất, đất bắt chước trời, trời bắt chước Đạo, Đạo bắt chước tự nhiên.

Chương này nói về Đạo là gì, đặc điểm tồn tại và vận hành của nó, lại nói về mối quan hệ tương hỗ giữa Đạo, trời, đất, người, thực chất là nói về quy luật vận hành của bốn thứ này, tầng thứ rõ ràng và khẳng định. “Trời”, “đất”, “người” được nói ở đây có tính tương đối, cùng với sự mở rộng tầm nhìn và nâng cao năng lực nhận thức của con người, có thể có những hiểu biết khác nhau. Ví dụ “trời”, có thể hiểu là mặt trời, mặt trăng, cũng có thể hiểu là hệ mặt trời, lại có thể hiểu là không-thời gian vũ trụ lớn hơn, thậm chí cả không-thời gian vũ trụ mà chúng ta không thể tưởng tượng nổi. “Đất” được nói ở đây, có thể hiểu là trái đất, cũng có thể hiểu là hệ mặt trời, v.v. “Trời” và “đất” đối với một hệ thống độc lập mà nói, là nói về mối quan hệ tương ứng giữa một chỉnh thể lớn hoàn chỉnh và một tiểu chỉnh thể tương đối độc lập trong chỉnh thể lớn. “Người” ở giữa này có hàm nghĩa và địa vị đặc biệt của nó, nó được sinh ra khi trời đất vận hành đến một điểm không-thời gian nhất định, vừa giống vạn vật, lại khác với vạn vật. Tinh hoa của trời đất tập trung ở “người”, ngoại hóa thành “người”, “người” lại là một vũ trụ. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật phương Tây thực chất là đang chuẩn bị cho việc nhận thức “người” – tiểu vũ trụ này, đi theo con đường từ ngoài vào trong, phân giải rồi tổng hợp. Tư tưởng Đạo gia phương Đông ngay từ đầu đã đứng vững trên lập trường nhận thức sự vật từ chỉnh thể vĩ mô, thăm dò rõ vị trí và quan hệ giữa Đạo, trời, đất, người, Đạo cao hơn trời đất người, Đạo thống soái trời đất người, Đạo xuyên suốt trời đất người, người và trời đất không tách rời, đi theo con đường nắm bắt tổng thể, nhận thức liên hệ như vậy. Người Trung Quốc cổ đại không có phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại, nhưng ở chiều sâu nhận thức về trời đất người đã vượt qua người hiện đại, người hiện đại dùng một bộ khái niệm và ngôn ngữ khác để biểu đạt những thứ họ nhận thức được, khi không đọc hiểu được người xưa, thì chủ quan nói người xưa đang “tưởng tượng”, “phỏng đoán”, “ấu trĩ”, “ngụy thuyết”, “sai lầm”, v.v., đem những cách nói này dùng để bình luận tư tưởng Đạo gia, không khỏi quá hấp tấp.

Chương 21

Hình thái của đức lớn, chỉ theo Đạo. Đạo với tư cách là vật, chỉ mơ hồ thoáng chốc. Mờ mịt mơ hồ, trong đó có hình tượng. Mơ hồ thoáng chốc, trong đó có vật chất. Sâu kín tối tăm, trong đó có tinh túy. Tinh túy đó rất chân thực, trong đó có tin tức. Từ nay đến xưa, tên của nó không mất, để quan sát nguồn gốc vạn vật. Ta dựa vào gì để biết trạng thái nguồn gốc vạn vật? Dựa vào điều này.

Chương này viết rất hay, nhưng các nhà chú giải xưa nay chưa chỉ ra được chỗ then chốt. Nguyên nhân ở đâu? Bởi vì họ không hiểu tư tưởng Đạo gia, càng không hiểu thực tiễn Đạo gia, mà dùng tri thức thường nhân để lý giải, đương nhiên không nói đến chỗ then chốt. Ở đây thực chất là nói về mấy tầng thứ, mấy cách thức, mấy trạng thái tồn tại của sự vật, cùng góc độ và phương pháp quan sát chúng. Trời đất cũng vậy, người vật cũng vậy, đều do Đạo sinh ra. Dùng thước đo thời gian lớn, góc nhìn không gian xa (cũng có thể là “tưởng tượng”) để nhìn vạn vật vũ trụ, tự nhiên có cảm giác “chỉ mơ hồ thoáng chốc”. Tại sao “chỉ mơ hồ thoáng chốc”? Bởi vì vạn vật đều biến hóa, vận hành khắp nơi không ngừng. Sinh rồi lại chết, chết rồi lại sinh, lúc nhìn nó “có”, lúc nhìn nó “không”, “chỉ mơ hồ thoáng chốc”. “Hình tượng” chính là tượng, tượng trưng cho vật. Trời đất vạn vật muôn hình vạn trạng, không gì không phải do Đạo hóa mà sinh, dùng khái niệm loại để quy nạp phân biệt, trên một đường biến hóa xuất hiện mấy đoạn tương tự, dùng cách nhìn tương đối cố định để xem chúng, thì nói nó có “hình tượng”, có “vật chất”. “Chu Dịch” dùng truyện chú giải kinh, một nội dung quan trọng trong đó, chính là phát huy và vận dụng mạnh mẽ tư tưởng “hình tượng” ở đây. Đây là một trong những nguyên lý có chức năng dự đoán của Kinh Dịch. Trong con mắt người thường, sự tồn tại của sự vật là tồn tại xác thực không nghi ngờ, sự tồn tại này cũng chính là sự tồn tại phản ánh trong con mắt người thường, sự tồn tại mà các giác quan có thể cảm nhận và nhận thức bình thường, ngoài ra, họ không tin còn có vật khác tồn tại, không tin trong không có có, không thể sinh có, càng không tin trong vật có tinh túy, trong tinh túy có tin tức. Người hiện đại tiến bộ hơn, nhận thức được có tinh thần tồn tại, nhưng chỉ nhận thức loài người có tinh thần, ngoài ra, tầng thứ tồn tại cao hơn này đối với họ lại là một khoảng trống. Hơn nữa, tinh thần mà người hiện đại hiểu lại có sự khác biệt với “tinh túy” mà “Lão Tử” nói. Người hiện đại cho rằng tinh thần phụ thuộc vào vật chất tức thân thể người mà tồn tại, là một hình thức vận động của não. Lão Tử nói trong vật có tinh túy, “tinh túy đó rất chân thực”, trong tinh túy có tin tức. Đạo gia đời sau dùng thực tiễn của mình xác chứng Lão Tử nói có lý, “tinh túy” và “tin tức” đều là hình thức tồn tại cao cấp của sự vật, chúng có tính độc lập của riêng mình, có thể phụ vào vật, cũng có thể độc lập với vật, sự vận hành của chúng vượt ra ngoài giới hạn phạm vi không-thời gian mà người thường có thể tưởng tượng. Lão Tử nói, ông dựa vào đâu để biết trời đất vạn vật biến hóa như thế nào? Chính là dựa vào những điều nói trên, dựa vào Đạo, dựa vào những tầng thứ khác nhau, những hình thức tồn tại khác nhau của sự tồn tại biến hóa trời đất vạn vật. Người thường cho rằng Lão Tử ở đây nói sự việc trở nên thần bí, kỳ thực không phải vậy. Người thường cho rằng “tinh túy” mà Lão Tử nói ở đây là chỉ tinh thần, “tin tức” là chỉ “chứng cớ”, “thông tin”, hiểu như vậy, miễn cưỡng có thể, nhưng không sâu sắc, chưa nắm được bản chất. Về vấn đề này, sau này chúng tôi sẽ còn đề cập.

Chương 42 (một phần)

Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật. Vạn vật cõng âm mà bồng dương, dùng khí xung hòa để đạt được hài hòa.

Ở đây tiếp tục nói về mối quan hệ giữa Đạo và vạn vật, đồng thời miêu tả kết cấu cơ bản của vạn vật. Dùng khái niệm cổ xưa trong văn hóa truyền thống Trung Quốc để chuyển thuật đoạn văn này, Đạo là Vô Cực, một là Thái Cực, Thái Cực chứa Âm Dương, sinh hai cũng là Âm Dương, Âm Dương được sinh ra đã tương hỗ độc lập, trong Âm có Dương, trong Dương có Âm. Có hai yếu tố cơ bản này, Âm Dương giao hòa, sau đó có trời, đất, người, rồi sau đó có vạn sự vạn vật. Trong hệ thống triết học trừu tượng cao độ của Lão Tử, số lớn nhất trong vũ trụ không gì hơn không, một, hai, ba, có bốn số này, số được sinh ra không có hết. Sự sinh thành của vạn vật nói giản đơn đều hợp ba mà thành một, truy tìm nguồn gốc của nó thì có sinh ra từ không. Kết cấu của vạn vật đều trong một chứa hai, cõng âm bồng dương, trong dương có âm, trong âm có dương, kết cấu này có thể tương đối ổn định, vận hành độc lập, Lão Tử nói là do “dùng khí xung hòa để đạt được hài hòa”, dùng ngôn ngữ người hiện đại nói là do có cơ chế điều tiết nội tại của nó, hoặc là trường và năng lượng vô sinh mệnh, hoặc là tinh, khí, thần hữu sinh mệnh. “Khí” này ở trạng thái cân bằng trong ngoài, vật thì đứng, tồn tại, vận hành; ở trạng thái mất cân bằng trong ngoài, vật thì hỏng, chết, dừng. Người tại sao sống? Thân thể vật chất sinh trưởng bình thường, trao đổi chất đương nhiên quan trọng, nhưng tinh, khí, thân trong cơ thể thường đầy đủ, thường mới mẻ càng quan trọng hơn. Người tại sao chết? Cái chết của thân thể và cái chết của tinh, khí, thần là không giống nhau, đây chính là điều mọi người thường nói, có người chết rồi, nhưng vẫn còn sống; có người sống, nhưng đã chết rồi. Câu nói này trong con mắt Đạo gia, là có hàm nghĩa sâu xa khác. Từ đó suy ra vạn sự vạn vật, tình huống khác nhau, nhưng đạo lý thì giống nhau. Liên tưởng đến chương 21 “Lão Tử” dẫn ở trên, có thể càng thấy được sự thâm sâu của tư tưởng Lão Tử. Người ta làm sao biết được sự sinh thành của sự vật? Âm Dương giao hòa mà sinh, hai thứ khác nhau gặp nhau có một mối quan hệ mới, thì có sự vật mới xuất hiện, ý nghĩa này cho dù ở tầng thứ nào đều có thể lý giải, hiện tượng vật lý, hiện tượng hóa học, hiện tượng xã hội, không gì là không như vậy. Đây chính là quy luật mà mọi người thường nói, từ đó mà có sự ra đời của học thuyết dự đoán.

Từ mấy đoạn “Lão Tử” dẫn trên, đã có thể thấy hệ thống triết học của Lão Tử vĩ đại phong phú như vũ trụ, vi diệu thâm sâu. Chỉ xét về tư tưởng của các học phái trong văn hóa truyền thống Trung Quốc, không có học phái nào có thể sánh ngang với Đạo gia. Đây là trí tuệ lớn của người Trung Quốc, là kho báu lớn trong văn hóa Trung Quốc, cũng là viên minh châu tỏa sáng vĩnh viễn trong văn hóa thế giới. Văn hóa Trung Quốc sau khi văn hóa Phật giáo truyền vào tại sao không suy không diệt? Bởi vì có sự hỗ trợ của văn hóa truyền thống với văn hóa Đạo gia làm trụ cột chính. Trung Quốc trong quá trình hiện đại hóa tại sao có thể giữ được đặc sắc văn hóa của mình mà lại có sự phát triển vượt bậc và dẫn đầu? Một con đường quan trọng chính là nhận thức đầy đủ, khai quật, kế thừa và phát triển phần ưu tú và sinh cơ trong văn hóa truyền thống, đặc biệt là văn hóa Đạo gia.

Vương Lực Bình luận về hệ thống triết học “mới”

Tiên sinh Vương Lực Bình đã đề xuất hệ thống triết học “mới” của mình. Ông nói, văn hóa Đạo gia sắp sửa trỗi dậy lần nữa, bây giờ là lúc đề xuất hệ thống triết học “mới”. Nói hệ thống triết học này mới, kỳ thực không mới, bởi vì Lão Tử và văn hóa Đạo gia từ xưa đến nay vẫn luôn sử dụng hệ thống triết học này, đây là điều đã có từ lâu. Nhưng tại sao lại nói nó mới? Đây là so với các hệ thống triết học mà con người hiện nay đang sử dụng, nó lại là mới. Không có sự phát triển to lớn lâu dài của khoa học, nhận thức của con người không đạt đến trình độ như hiện nay, sẽ khó có thể chấp nhận hệ thống triết học “mới”, không thể hiểu đúng. Mà bây giờ không đề xuất hệ thống triết học “mới”, thì sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại cũng sẽ vô cùng khó khăn. Lịch sử đã phát triển đến một điểm then chốt quan trọng.

Triết học “mới” bắt nguồn từ “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật” của Lão Tử. Nếu tính Đạo là “không”, rồi hấp thu khái niệm quan trọng “ngũ” trong ngũ hành thủy, mộc, hỏa, thổ, kim của triết học truyền thống, thì những con số quan trọng trong triết học “mới” là không, một, hai, ba, năm. Trong đó, con số được sử dụng với tần suất lớn nhất là ba, “tam sinh vạn vật”, chủ yếu tập trung vào chữ “tam”.

Sơ đồ cơ bản của triết học “mới” để lý giải vũ trụ như sau:

Xét về hình chất, vũ trụ chia làm ba loại hoặc ba tầng: Vô hình vô chất là tầng trên cùng tức trạng thái cao nhất, Lão Tử gọi nó là “Đạo”; Hữu hình vô chất và hữu chất vô hình là tầng trung gian, trạng thái tồn tại này có sự phân biệt âm dương; Hữu hình hữu chất là tầng dưới cùng, đây chính là vạn vật. Trong ba trạng thái tồn tại này, dễ lý giải nhất là “hữu hình hữu chất”, đây là sự tồn tại vật chất mà cơ quan cảm giác của con người và các thiết bị khoa học do con người phát minh có thể nắm bắt được. Khó lý giải là tầng trung gian “hữu chất vô hình” và “hữu hình vô chất”. Nếu lấy ví dụ để giải thích, thì tạm thời có thể giải thích tượng trưng như sau: Sự tồn tại “hữu hình vô chất” ví như giấc mơ. Khi mơ, các hình ảnh khác nhau xuất hiện trong não người, người thường cho rằng đây là thứ “hữu hình vô chất”, cảnh tượng trong mơ không phải là sự tồn tại vật chất. Sự tồn tại “hữu chất vô hình” có thể hiểu là “tinh khí thần”. Hiện nay, người ta dùng phương tiện khoa học để đo ngoại khí mà các khí công sư phóng ra, trên thiết bị có các hiển thị khác nhau, thế là người ta nói khí là thứ vật chất, nhưng không nhìn thấy hình thái của nó. Thiết bị có thực sự đo được khí hay không, hay là đo được các vật chất khác tác động khi khí vận động, vấn đề này không bàn ở đây, nhưng chúng ta tạm thời hiểu như vậy, “tinh khí thần” là phương thức tồn tại “hữu chất vô hình”. Còn “vô hình vô chất”, thì càng khó hiểu hơn, điều này không thể không có khả năng trừu tượng hóa cao độ, nhưng thứ mà khả năng trừu tượng hóa cao độ nắm bắt được hoặc lĩnh hội được không thể dùng ngôn ngữ để miêu tả, miễn cưỡng miêu tả, người thường rất khó hiểu, thế là sẽ gặp phải những hiểu lầm và chỉ trích. Phần cực kỳ quan trọng này trong tư tưởng Lão Tử vẫn luôn là đối tượng bị một số người chỉ trích. Lão Tử nói: “Thượng sĩ văn đạo, cần nhi hành chi. Trung sĩ văn đạo, nhược tồn nhược vong. Hạ sĩ văn đạo, đại tiếu chi; bất tiếu bất túc dĩ vi đạo.” Lão Tử trong lòng hiểu rõ, tình huống này là không thể tránh khỏi. Dưới đây chúng ta sẽ còn nói đến vấn đề này.

Sơ đồ không chỉ vẽ ra ba tầng thứ tồn tại của vũ trụ, mà còn giải thích mối quan hệ tương hỗ và đường đi vận hành của bốn hình thức tồn tại trong ba tầng thứ, đó là: “Vô hình vô chất” phân đôi sinh ra “hữu hình vô chất” và “hữu chất vô hình”; “Hữu hình vô chất” và “hữu chất vô hình” giao hợp với nhau mà sinh ra vạn vật; Vạn vật sau một quá trình không-thời gian nhất định thì phân giải trở lại thành “hữu hình vô chất” và “hữu chất vô hình”; “Hữu hình vô chất” và “hữu chất vô hình” lại thăng hoa thành “vô hình vô chất”, điều này tạo thành một vòng tròn, biểu hiện thành sự quay về thăng hoa, mà “vô hình vô chất” tức Đạo thì tràn đầy vòng tròn này, Đạo chủ tể toàn bộ quá trình.

Có ý nghĩa quan trọng tương đương với sơ đồ trên, là lý thuyết “tam giới” của triết học mới. “Tam giới” chia làm ba tầng: “Hạ tam giới” là người, sự, vật; “Trung tam giới” là trời, đất, người; “Thượng tam giới” là vũ trụ, thời gian, không gian (thời không). Đây cũng là một tầng hình thức tồn tại cao hơn một tầng, nó có chỗ trùng hợp với sơ đồ ba tầng bốn hình thức trên. “Hạ tam giới” người, sự, vật, điều này dễ hiểu, là sự tồn tại phổ biến quen thuộc với mọi người. Khái niệm tương ứng với triết học nói chung của nó, là chỉ bề mặt và hiện tượng của sự vật. Tư duy của con người dừng lại ở bề mặt và hiện tượng, theo cách nhìn của triết học “mới”, thì được gọi là “hạ tam giới”, chỉ xoay quanh ở tầng thứ người, sự, vật.

Tư duy thăng lên một tầng hoặc đi sâu vào một tầng, thì đến được “trung tam giới”, đây là tầng thứ trời, đất, người. Tiến vào trung tam giới, góc nhìn về vũ trụ sẽ thay đổi, cách đặt vấn đề cũng khác, kết luận cũng không giống. Cái gọi là thăng lên một tầng, chính là phải liên hệ đến môi trường lớn bên ngoài, hệ thống lớn của một sự một vật, từ chỉnh thể này mà nhìn điều kiện và quy luật tồn tại, biến hóa của sự vật cục bộ. Cái gọi là đi sâu vào một tầng, chính là phải đi sâu vào kết cấu bên trong của sự vật để xem cơ chế và nguyên lý của chỗ vi tế của nó. Ở hạ tam giới và trung tam giới đều có “người”, “người” này là người có chất khác nhau. Một người từ hạ tam giới thăng lên trung tam giới, phải trải qua một quá trình biến đổi về chất, biến đổi về chất có biến đổi về chất toàn bộ và biến đổi về chất cục bộ. Một trong những con đường biến đổi về chất toàn bộ là phương pháp dưỡng sinh tu luyện thân thể do Đạo gia tích lũy kinh nghiệm thực tiễn lâu dài tổng kết lại. Phương pháp này rất khổ, chỗ tinh yếu của công pháp trước kia bí truyền không truyền ra ngoài, dù có truyền rồi, không có sư phụ chỉ điểm và hộ trì, cũng rất khó thực hiện, nên người thường không làm được, không kiên trì được, dù luyện công mấy năm, rốt cuộc vẫn chỉ xoay quanh trong hạ tam giới. Tu luyện vượt qua mấy cửa ải quan trọng, hình chất thân thể sẽ thay đổi, tinh khí thần và tư duy cũng thay đổi, người này sẽ từ hạ tam giới thăng lên trung tam giới, khác với người thường. Con đường biến đổi về chất cục bộ chủ yếu chỉ nói về tư duy. Một người hạ tam giới dồn tâm thân, thời gian và tinh lực của mình vào một điểm trong thời gian dài, suy nghĩ một vấn đề, nghiên cứu một đề tài, đối với sự hiểu biết vấn đề này cả về bề rộng lẫn chiều sâu đều vượt qua người thường, thậm chí người đó có thể đưa ra hoặc ít nhất có thể hiểu quan điểm của người trung tam giới đối với loại vấn đề này, thế thì nói người này đã biến đổi về chất cục bộ, ở vấn đề đơn nhất đã thăng lên trung tam giới rồi.

Người hạ tam giới và trung tam giới có sự khác biệt rất lớn trong cách nhìn sự vật, ví dụ như nhìn vật, người hạ tam giới nhấn mạnh sự tồn tại khách quan của sự vật được nhìn, người nhìn vật là bị động, thứ nhìn thấy được thì họ thừa nhận, thứ không nhìn thấy được thì họ không thừa nhận sự tồn tại của nó. Điều này có ưu điểm và khuyết điểm của nó, ưu điểm là có một tiêu chuẩn đánh giá đối với những thứ tồn tại trong hạ tam giới, nó trở thành cơ sở cho sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Khuyết điểm là cơ quan cảm giác của người hạ tam giới có giới hạn, chúng có khoảng bắt sóng cố định, phương thức tồn tại của sự vật bên ngoài vượt quá khoảng này, giác quan không thể cảm nhận được chúng, hoặc dù có cảm nhận được nhưng não không thể xử lý đúng những thông tin này; không đưa ra được kết luận rõ ràng, phương tiện khoa học ở một số phương diện có thể bù đắp khuyết điểm của giác quan người hạ tam giới, nhưng trong quá trình phát triển nó cũng có khuyết điểm của riêng mình, mà trong một ý nghĩa nào đó, phương tiện khoa học có khuyết điểm lớn hơn giác quan người. Từ chối thừa nhận những thứ không nhìn thấy nhưng thực tế tồn tại, đây là chướng ngại lớn ảnh hưởng đến sự tiến bộ của văn minh nhân loại. Người trung tam giới nhìn vật là chủ động nhìn, vật được nhìn là bị động, muốn nhìn gì, vật sẽ “đến” trước mặt người, muốn nhìn rõ bộ phận nào của nó, nó sẽ hiển thị đầy đủ bộ phận đó. Khi tiên sinh Vương Lực Bình nói đoạn này với chúng tôi là vào buổi tối, ông nói: “Bây giờ tôi nhìn mặt trời, các bạn không nhìn thấy, nhưng tôi nhìn thấy, mặt trời ở ngay trước mặt tôi, rất rõ ràng.” Người trung tam giới nhìn vật như vậy, là người hạ tam giới không thể so sánh được. Nhưng chúng ta có thể mở rộng tư duy, bỏ đi những trói buộc không cần thiết, dùng tư duy giúp đỡ chúng ta, bù đắp khuyết điểm của giác quan. Nếu tư duy bị trói buộc rồi, thì không thể tiến lên được.

Thượng tam giới nói về vũ trụ, thời gian, không gian, đây là tầng thứ cao nhất, là điều mà người hạ tam giới rất khó hiểu, rất khó nhận thức. Về vũ trụ, không phải là vũ trụ mà người thường nói, nó lớn hơn nhiều, phong phú hơn nhiều so với vũ trụ người thường nói, bên ngoài vũ trụ của chúng ta còn có vô số vũ trụ, trong vũ trụ này lại chứa vài vũ trụ, điều này rất khó dùng ngôn ngữ để nói rõ, còn thời và không của thượng tam giới, thì người hạ tam giới không có kinh nghiệm về phương diện này, khó giải thích, cũng không thể hiểu. Ở tầng thứ trung tam giới, thời không đã có sự khác biệt rất lớn so với hạ tam giới (vấn đề này để sau này nói), đến thượng tam giới, trạng thái thời không như thế nào, không thể nói được.

Lý thuyết “tam giới” của triết học “mới” không chỉ tương tự với bản thể luận của triết học nói chung, đồng thời còn mang đặc điểm của phương pháp luận. Thượng tam giới chi phối trung tam giới và hạ tam giới, trung tam giới chi phối hạ tam giới. Một sự vật ở các tầng thứ khác nhau thì chất không giống nhau, “năng lượng” và công năng cũng không giống nhau. Ví dụ như khí, đây là phương thức tồn tại của hạ tam giới, đến trung tam giới là khí, thượng tam giới là khí. Mối quan hệ về thời không của tam giới này như thế nào? Chúng vừa chồng chéo vừa độc lập với nhau về thời không, cách nói này người thường nghe cũng khó hiểu. Trong phần mở đầu, lý do trước tiên nói sơ lược về hệ thống triết học “mới” do tiên sinh Vương Lực Bình đề xuất, là vì không có những kiến thức dự bị này, thì không thể đọc hiểu cuốn sách này, hoặc dù có đọc, cũng không có thu hoạch lớn. Khái niệm quan trọng mà độc giả bây giờ cần nhớ, chính là “Sơ đồ hình chất vũ trụ” và lý thuyết “tam giới”, có hai công cụ cơ bản này, tư duy tự nhiên sẽ thoát khỏi trói buộc và có thu hoạch lớn hơn.

Thế giới quan tâm đến văn hóa Đạo gia nói lên điều gì

Phần ưu tú trong văn hóa truyền thống Trung Quốc từ lâu đã thu hút sự quan tâm sâu sắc của những người có tri thức trên toàn thế giới, họ hấp thụ dưỡng chất từ đây, có được cảm hứng, đạt được sức sáng tạo mới. Khoa học kỹ thuật hiện đại kết hợp với phần ưu tú trong văn hóa truyền thống Trung Quốc, tựa như hổ mọc thêm cánh, thành tựu ngày càng mới.

Nhà vật lý học nổi tiếng người Mỹ gốc Hoa, tiến sĩ Lý Chính Đạo, sau khi nhận giải Nobel Vật lý, trong buổi lễ nhận bằng tiến sĩ danh dự tại Đại học Trung Văn Hồng Kông vào ngày 22 tháng 10 năm 1972, đã phát biểu:

Cơ học Newton đã được thay thế bởi cơ học lượng tử, trong cơ học lượng tử có một định luật rất quan trọng gọi là “Định luật Bất định”. Định luật này nói rằng, chúng ta không bao giờ có thể đo đạc chính xác mọi thứ, bất kỳ vật thể nào nếu chúng ta có thể xác định hoàn toàn vị trí của nó tại bất kỳ thời điểm nào, thì tại cùng thời điểm đó, động lượng của nó không thể cố định, đối với các vật thể thông thường mà nói, động lượng không cố định tức là tốc độ không cố định, đã tốc độ không cố định thì cũng không thể hoàn toàn dự đoán được quỹ đạo tương lai của vật thể đó. Về mặt triết học, “Định luật Bất định” và ý của Lão Tử Trung Quốc “Đạo khả đạo, phi thường đạo, danh khả danh, phi thường danh” có điểm khá tương đồng, vì vậy một số quan điểm của vật lý học hiện đại có chỗ tương tự với học thuyết Thái Cực và Âm Dương nhị nguyên của Trung Quốc. Do đó, nhà vật lý học lớn người Đan Mạch, giáo sư Bohr, người sáng tạo ra cơ học lượng tử, khi được phong tước, đã chọn họa tiết Thái Cực của Trung Quốc làm huy chương của mình, tượng trưng cho sự hòa hợp của văn hóa Trung Tây.

Ở đây nói rất rõ: Khoa học kỹ thuật hiện đại và văn hóa cổ đại Trung Quốc là thông suốt với nhau.

Nhà khoa học vĩ đại nhất thế kỷ 20, Einstein, khi nói về so sánh văn hóa Trung Tây, có một đoạn sâu sắc hơn. Ông nói:

Sự phát triển của khoa học phương Tây dựa trên hai thành tựu vĩ đại, đó là: các nhà triết học Hy Lạp phát minh ra hệ thống logic hình thức (trong hình học Euclid), và (vào thời Phục Hưng) phát hiện ra thông qua thực nghiệm hệ thống có thể tìm ra quan hệ nhân quả. Theo tôi, các bậc hiền triết Trung Quốc không đi theo hai bước này, điều đó không có gì đáng ngạc nhiên. Đáng ngạc nhiên chính là những phát hiện này (ở Trung Quốc) đều đã được thực hiện ra.

Điều Einstein bàn đến ở đây, thực chất là hai loại văn hóa Trung Tây khác nhau, ở tầng sâu có hai hệ thống triết học và phương thức tư duy khác nhau. Điều khiến Einstein kinh ngạc, không nằm ở sự khác biệt của hệ thống triết học và phương thức tư duy, mà ở chỗ kết quả mà chúng đạt được trong khoa học là giống nhau. Điều này càng nói rõ văn hóa cổ đại Trung Quốc và khoa học kỹ thuật hiện đại là thông suốt với nhau, nhưng hệ thống triết học và phương thức tư duy nào đơn giản và có lợi hơn trong việc thúc đẩy tiến bộ khoa học, Einstein không nói rõ. Đây chính là vấn đề mà mọi người hiện nay quan tâm nhất.

Bây giờ chúng ta hãy xem một nhà khoa học phương Tây vĩ đại khác, tiến sĩ Joseph Needham. Tiến sĩ Joseph Needham bắt đầu chịu ảnh hưởng từ Trung Quốc từ những năm 30, đến Trung Quốc vào những năm 40, từ đó bắt đầu sự chuyển biến to lớn trong sự nghiệp cả đời ông – dồn toàn bộ tinh lực nửa đời sau cho nghiên cứu lịch sử khoa học kỹ thuật Trung Quốc, bộ sách lớn “Lịch sử Khoa học Kỹ thuật Trung Quốc” được xuất bản sau này, đã khơi dậy niềm hứng thú với văn hóa Trung Quốc trên phạm vi toàn thế giới. Năm 1987, tạp chí “Courier” của UNESCO in bằng 35 thứ tiếng, số 12, đã dành toàn bộ trang giới thiệu thành quả nghiên cứu của tiến sĩ Joseph Needham, thực chất là giới thiệu với độc giả các nước trên thế giới hơn 20 phát minh và phát hiện khoa học quan trọng của Trung Quốc cổ đại dẫn đầu thế giới. Trong số “Courier” này, nhà văn Mỹ Robert K.G. Temple viết:

“Nhiều phát minh sáng tạo quan trọng mà “Thế giới hiện đại” dựa vào, có thể hơn một nửa bắt nguồn từ Trung Quốc.

Nếu không nhập khẩu từ Trung Quốc những công cụ cải tiến kỹ thuật hàng hải như bánh lái, la bàn, thuyền nhiều cột buồm, người châu Âu quyết không thể tiến hành các cuộc thám hiểm hàng hải vĩ đại. Columbus không thể vượt biển đến châu Mỹ, người châu Âu cũng không thể xây dựng đế chế thuộc địa.

Nếu không nhập khẩu từ Trung Quốc bàn đạp yên ngựa, các hiệp sĩ cổ đại mặc áo giáp sáng bóng không thể ngồi vững trên lưng ngựa để giải cứu các thiếu nữ gặp nạn, thời đại của các đoàn hiệp sĩ không thể xuất hiện. Tương tự, nếu không nhập khẩu từ Trung Quốc súng đạn và thuốc súng, thì không thể dùng đạn xuyên qua áo giáp, khiến hiệp sĩ trúng đạn rơi ngựa, từ đó chấm dứt thời đại hiệp sĩ.

Nếu không nhập khẩu từ Trung Quốc giấy và kỹ thuật in ấn, lịch sử viết sách bằng tay của châu Âu có lẽ còn kéo dài lâu hơn nữa. Tác phẩm văn học sẽ không thể phổ cập như vậy.

Johannes Gutenberg không phát minh ra chữ in di động, chữ in di động là do người Trung Quốc phát minh. William Harvey không phát hiện ra hiện tượng sinh lý tuần hoàn máu trong cơ thể người, người phát hiện ra hiện tượng này là người Trung Quốc, hoặc nói chính xác hơn, luôn được cho là người Trung Quốc. Người đầu tiên phát hiện ra định luật chuyển động đầu tiên không phải là Isaac Newton, mà là người Trung Quốc.”

Tiến sĩ Joseph Needham trong bộ sách lớn “Lịch sử Khoa học Kỹ thuật Trung Quốc”, tập 1 tổng luận, đặc biệt nhấn mạnh tác dụng quan trọng của Đạo gia đối với sự phát triển khoa học kỹ thuật Trung Quốc. Ở trang 199 của sách (bản tiếng Trung, Nhà xuất bản Khoa học) chỉ ra: Đạo gia thời Tiên Tần “có một hệ thống khái niệm phức tạp và vi diệu”, “nó là cơ sở của mọi tư tưởng khoa học sau này của Trung Quốc”. Nhận định này là chính xác.

Hiện nay trên thế giới đang nổi lên “cơn sốt văn hóa Trung Quốc”, mà đặc biệt lại hứng thú sâu sắc với văn hóa Đạo gia, nguyên nhân ở đâu? Điều mà Joseph Needham tổng kết từ lịch sử khoa học kỹ thuật, Einstein cảm nhận được từ so sánh văn hóa Trung Tây, Lý Chính Đạo lĩnh hội được từ thực tiễn nghiên cứu khoa học, là một thứ, chính là mối quan hệ thông suốt giữa văn hóa truyền thống Trung Quốc, đặc biệt là tư tưởng triết học Đạo gia với khoa học kỹ thuật. Đây là cốt lõi của vấn đề.

Vấn đề không chỉ dừng lại ở đó. Đạo gia không chỉ về mặt triết học đã xây dựng một hệ thống vĩ đại tinh tế, từ nhiều tầng thứ giải thích cấu trúc vũ trụ và quy luật vận hành của nó, hệ thống này chỉ ra phương hướng cho sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phát triển của khoa học kỹ thuật chứng thực tư tưởng triết học Đạo gia; Đạo gia còn là nhà thực tiễn, những nhà khoa học không sợ hãi, nhiều công việc tiên phong trong các lĩnh vực quan trọng là do Đạo gia tiến hành. Sứ mệnh lịch sử của Đạo gia chính là thăm dò bí ẩn của vũ trụ. Trong đó bao gồm thăm dò bí ẩn của cơ thể người, bí ẩn của vật chất và tinh thần.

Bây giờ chúng ta thấy then chốt của vấn đề. Có lẽ từ khi có loài người, vấn đề mà mọi người hứng thú nhất là vũ trụ sinh diệt như thế nào, vận hành ra sao, bản thân con người sinh diệt như thế nào, vận hành ra sao. Về vấn đề này đã đưa ra đủ loại tư tưởng, học thuyết, kiến giải, quan điểm, kết luận, điều này tự có lý do tồn tại tạm thời hoặc vĩnh viễn, một phần hoặc toàn bộ của chúng. Dùng ngôn ngữ triết học nói chung, trong những chân lý tương đối này có chân lý tuyệt đối, chân lý tương đối tạo thành dòng chảy phát triển của chân lý tuyệt đối. Nhưng chân lý nhiều lần bị đột phá và thay đổi hình thức, bây giờ đã đến một cửa ải quan trọng. Nó phải vượt qua cửa ải quan trọng này mới có thể có sự phát triển lớn hơn. Ở đây chúng ta muốn nói đến khoa học về cơ thể người.

Mối quan hệ giữa Đạo gia và khoa học về cơ thể người như thế nào? Câu trả lời rất rõ ràng: Đạo gia trong nghiên cứu khoa học về cơ thể người có lịch sử lâu dài tính bằng đơn vị nghìn năm, họ lấy chính cơ thể mình làm đối tượng thí nghiệm, tích lũy tư liệu và dữ liệu vô cùng quý giá, nắm giữ những quan điểm và kết luận mà khoa học hiện đại không thể dự đoán. Tư liệu Đạo gia vẫn còn, các truyền nhân của các phái Đạo gia vẫn còn, họ và chúng có thể làm chứng. “Đạo Tạng” là báu vật văn hóa Trung Quốc, là báu vật văn hóa nhân loại thế giới. Những truyền nhân Đạo gia và những người có trí tuệ cao, công năng cao khác, sau quá trình tu luyện lâu dài gian khổ, sống chết đi sống lại, là báu vật của quốc gia, báu vật của nhân loại.

Nhìn lại lịch sử, Trung Quốc về mặt khoa học kỹ thuật đã dẫn đầu trong thời gian dài, nhiều phát minh phát hiện quan trọng đến nay vẫn ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của văn minh nhân loại. Chúng ta ở những mặt này không hề tụt hậu. Chúng ta về mặt tư tưởng triết học không hề tụt hậu. Bây giờ linh hồn của khoa học về cơ thể người đang lang thang trong phạm vi toàn thế giới, chúng ta vẫn muốn nói, sự đóng góp của văn hóa truyền thống Trung Quốc trong lĩnh vực này cũng là dẫn đầu. Nếu chúng ta kế thừa và phát triển một cách nghiêm túc tinh hoa triết học Đạo gia, vận dụng nó vào cuộc sống và công việc của chúng ta, mặt tụt hậu của dân tộc chúng ta sẽ nhanh chóng được khắc phục. Chấn hưng tinh thần, thay đổi tư duy hiện tại của chúng ta, là một mắt xích cơ bản cho sự thăng tiến và phát triển của một con người và một dân tộc.

Quyển Thượng: Xuất Thế Nhập Đạo

Chương 1: Thiên Lý Sư Phỏng

Ông Vương Lực Bình sinh ngày 25 tháng 7 năm 1949, tức ngày Bính Thìn, tháng Tân Mùi, năm Kỷ Sửu theo lịch âm. Năm Kỷ Sửu theo ngũ hành nạp âm là Tích Lịch Hỏa, tháng Tân Mùi, ngày Bính Thìn tức là ngày 30 tháng 6, đúng vào thời điểm giữa năm. Người sinh vào thời điểm này theo mệnh lý có nhiều điều đáng nói. Tuy nhiên, chúng ta sẽ không bàn đến điều đó ở đây.

Khi còn nhỏ, ông Vương Lực Bình có một số điểm khác biệt so với những đứa trẻ khác. Theo những gì ông còn nhớ rõ, có hai điều đáng chú ý. Thứ nhất, mỗi khi mẹ ông làm việc nhà cần tìm một thứ gì đó mà không thấy, bà thường gọi Lực Bình lại và hỏi xem đồ vật đó ở đâu, nhờ cậu giúp tìm. Và Lực Bình luôn tìm thấy đồ vật đó ngay lập tức, giúp mẹ rất nhiều. Thứ hai, khi còn nhỏ, Lực Bình thích chơi trốn tìm với các bạn. Dù các bạn có trốn kỹ đến đâu, khó tìm thế nào, Lực Bình cũng đều tìm ra từng người một.

Ông Vương Lực Bình sinh ra và lớn lên tại Thẩm Dương, một thành phố lớn ở đông bắc Trung Quốc. Sau đó, ông cùng gia đình chuyển đến Phủ Thuận, một thành phố cổ có lịch sử hơn hai nghìn năm. Thành phố này nằm dựa vào dãy núi Trường Bạch nổi tiếng ở phía đông bắc, với sông Hồn bắt nguồn từ sâu trong dãy núi Trường Bạch chảy xuyên qua khu vực thành phố. Phủ Thuận là một thành phố nằm giữa núi và sông, có phong thái đặc biệt, nổi tiếng với nguồn tài nguyên than đá dồi dào và được mệnh danh là “thủ đô than”. Trong thời hiện đại, thành phố này càng trở nên phát triển và thịnh vượng. Đây chính là nơi ông Vương Lực Bình đã sống trong một thời gian dài.

Gia đình họ Vương ở địa phương cũng được coi là một đại gia tộc, tổ tiên từng có thời kỳ huy hoàng. Đến đời cha của Vương Lực Bình, tuy không còn được như xưa, nhưng cha ông đã có thể theo học tại Trường Đại học Công nghiệp Phụng Thiên, điều này vào thời đó cũng được coi là rất tốt. Mẹ của Lực Bình tính tình nhân hậu, sinh được bốn trai hai gái, đứa nào cũng khỏe mạnh hoạt bát, chỉ có Lực Bình là có vẻ ngoài gầy gò, yếu ớt như con gái. Sau khi Lực Bình đầy tháng, mẹ ông bế cậu ra ngoài, nhìn kỹ thấy giữa chân mày có một chấm xám, tưởng là vết bẩn, dùng tay chà xát nhưng không hết, sau đó lại thấy hiện lên màu đỏ, mới biết đó là nốt ruồi son bẩm sinh. Có một năm, nhà họ Vương đột nhiên xảy ra hỏa hoạn, mọi người hoảng loạn, Lực Bình lúc đó còn nhỏ, không ai để ý nên đầu bị bỏng, dù đã được điều trị nhưng không sao khỏi hẳn, thường xuyên bị đau đầu và thị lực cũng bị ảnh hưởng. Mẹ ông thường buồn phiền vì chuyện này.

Gia đình họ Vương có nhiều con, trong khoảng thời gian cuối những năm 1950 đến đầu những năm 1960, cuộc sống rất khó khăn. Từ nhỏ, Lực Bình đã là người nhân nghĩa, biết nhường nhịn, luôn quan tâm và yêu thương các em, kể cả với bạn bè hàng xóm cũng vậy. Những đứa trẻ khác muốn gì của cậu, chỉ cần cậu có, đều có thể lấy đi mà không hề tiếc nuối.

Mùa thu năm 1962, một ngày nọ, gia đình họ Vương đang ăn trưa thì nghe thấy tiếng gọi ngoài cửa: “Cho tôi xin bát cơm.” Những năm đó, cuộc sống khó khăn, nhiều người từ trong đất liền chạy nạn đến Đông Bắc ăn xin. Mỗi khi có người ăn xin đến cửa, mẹ của Lực Bình luôn sẵn lòng giúp đỡ. Lần này, Lực Bình nghe rất rõ, không đợi mẹ đứng dậy, cậu đã nhanh chóng cầm vài cái bánh rau đưa ra ngoài. Lực Bình thấy trước mặt có ba vị cao niên, mặt mũi hiền từ, dù quần áo rách rưới nhưng ai nấy đều khỏe mạnh, tinh thần sảng khoái. Lực Bình không khỏi chú ý, nghĩ rằng ba vị này khác hẳn với những người ăn xin mà cậu từng gặp. Các cụ già đưa tay lấy bánh rau, ăn ngấu nghiến, không nói lời cảm ơn hay xin thêm, chỉ đưa tay ra hiệu muốn thêm. Lực Bình thấy lạ, nhưng không suy nghĩ nhiều, quay vào nhà lấy thêm vài cái bánh rau đưa cho các cụ. Sau khi ăn xong, ba vị cao niên liếc nhìn nhau rồi bỏ đi. Lực Bình đang suy nghĩ về sự việc kỳ lạ này thì quay lại nhìn, ba vị đã biến mất.

Lực Bình trong lòng thắc mắc cũng có lý do. Hóa ra ba vị cao niên này không phải là người thường, mà là ba đạo gia truyền nhân đã ẩn tu lâu năm trong núi. Mục đích của họ xuống núi lần này không phải để xin ăn kiếm sống, mà là để tìm kiếm người kế thừa thế hệ tiếp theo, chính là cậu bé Vương Lực Bình 13 tuổi hiện tại.

Ba vị cao niên này là:

  • Vô Cực đạo nhân Trương Hợp Đạo, năm đó 82 tuổi, là truyền nhân đời thứ 16 của phái Long Môn thuộc Toàn Chân đạo. Ông từng là ngự y trong cung đình nhà Thanh, được người đời gọi là “Thần y”.
  • Thanh Tịnh đạo nhân Vương Giáo Minh, pháp hiệu Tùng Linh Tử, năm đó 72 tuổi, là đệ tử của Trương Hợp Đạo, truyền nhân đời thứ 17 của phái Long Môn thuộc Toàn Chân đạo. Ông từng là huấn luyện viên thời kỳ đầu của Trường Quân sự Hoàng Phố, võ nghệ cao cường, mưu lược tinh thông, được người đời gọi là “Thần cơ”.
  • Thanh Hư đạo nhân Giả Giáo Nghĩa, pháp hiệu Âm Linh Tử, năm đó 70 tuổi, cùng với Vương Giáo Minh là đệ tử của Trương Hợp Đạo, truyền nhân đời thứ 17 của phái Long Môn thuộc Toàn Chân đạo. Ông nổi tiếng với phương pháp chữa bệnh bằng châm cứu không cần đâm kim vào cơ thể, được người đời gọi là “Vô Cực châm”.

Ba vị cao niên đều đã qua tuổi thất thập cổ lai hy, theo quy tắc truyền thừa của tổ tiên và chỉ dẫn từ “Thôi Bối Đồ”, đã đến lúc tìm kiếm truyền nhân đời thứ 18.

Đạo giáo là tôn giáo bản địa của Trung Quốc, có tác động trực tiếp và phổ biến nhất đối với con người ở hạ giới, đó là nhận thức quy luật tự nhiên, dưỡng sinh, phòng bệnh, trường thọ, trên cơ sở phối hợp thành công mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với xã hội, giúp dân tộc phát triển hưng thịnh, văn minh tiến bộ.

Vào thời kỳ Kim Nguyên, Toàn Chân đạo được thành lập. Lúc đó, Đạo giáo, Nho giáo và Phật giáo đều phát triển những đặc điểm riêng, nhưng lý lẽ của chúng lại tương thông với nhau. Toàn Chân đạo tôn Vương Huyền Phủ, Chung Ly Quyền, Lã Động Tân, Lưu Hải Thiềm và Vương Trùng Dương làm “Bắc Ngũ Tổ”, trong khi bảy đệ tử chính thức của Vương Trùng Dương là Mã Ngọc, Đàm Xử Đoan, Lưu Xử Huyền, Khâu Xử Cơ, Vương Xử Nhất, Hác Đại Thông và Tôn Bất Nhị được gọi là “Bắc Thất Chân”. 

Khâu Xử Cơ, tự Thông Mật, hiệu Trường Xuân, được người đời gọi là Trường Xuân chân nhân, là người sáng lập phái Long Môn của Toàn Chân giáo. Từ khi Khâu Xử Cơ thành lập phái Long Môn đến nay đã được tám trăm năm, và Vương Lực Bình là truyền nhân đời thứ mười tám.

Theo quy tắc của Đạo giáo, “Người đi theo đạo lớn được gọi là đạo sĩ”, “thân tâm thuận theo lý lẽ, chỉ theo đạo, lấy đạo làm việc, nên gọi là đạo sĩ.” 

Đạo sĩ thời xưa được chia thành sáu cấp bậc: 

  1. Thiên chân đạo sĩ; 
  2. Thần tiên đạo sĩ; 
  3. Sơn cư đạo sĩ; 
  4. Xuất gia đạo sĩ; 
  5. Tại gia đạo sĩ; 
  6. Tế tửu đạo sĩ. 

Đạo sĩ còn có pháp hiệu tùy theo trình độ tu hành. Tổng hợp lại, đạo sĩ có ba loại:

  • Đạo sĩ sống trong hang động, chủ yếu là tu luyện và ngộ đạo, lấy cơ thể mình làm đối tượng thí nghiệm để tổng kết kinh nghiệm trường sinh và quy luật biến hóa của vạn vật trong vũ trụ; 
  • Đạo sĩ ở đạo quán, tương tự như các nhà nghiên cứu trong các cơ quan học thuật hiện nay, nhiệm vụ chính là bảo quản, chỉnh lý và học tập các kinh điển Đạo giáo, nghiên cứu lý thuyết Đạo giáo từ sách vở; 
  • Đạo sĩ tại gia còn gọi là cư sĩ, họ tu hành tại nhà, nhưng do ảnh hưởng của nhiều yếu tố xã hội, công phu tu luyện của họ tự nhiên không thể so sánh với các đạo sĩ sống trong hang động.

Quay lại câu chuyện, ba vị đạo nhân Vô Cực Trương Hợp Đạo và hai đệ tử của ông đã tu luyện trong hang động nhiều năm, đạt đến cảnh giới cao thâm cả về nội công lẫn ngoại công, không phải là đạo sĩ bình thường có thể so sánh được. Nơi họ tu luyện là một trong những ngọn núi nổi tiếng của Đạo giáo – núi Lao Sơn.

Núi Lao Sơn có hình thế kỳ lạ, phía đông và phía nam đều giáp biển, như thể từ biển vươn lên, sừng sững hiên ngang. Trên núi đầy những tảng đá lớn và các loại cây cỏ hoa lá. Sóng biển vỗ vào chân núi, mây trắng bao quanh lưng chừng núi. Ngồi trên núi ngắm biển và ngắm mặt trời mọc, có một khí thế hùng vĩ phi thường, thật là một nơi lý tưởng để tu chân dưỡng tính. Qua các triều đại, không ít đạo sĩ nổi tiếng đã tu luyện trên ngọn núi này, các công trình kiến trúc Đạo giáo trên núi ngày càng phát triển, được cho là có chín cung, tám quán và bảy mươi hai am. Ở những nơi hiểm trở trên núi có một số hang động tiên, bị cây cối và dây leo che phủ, khó có người đến được, ít người đời biết đến.

Ba vị lão đạo sống trong một hang động tiên tên là Trường Xuân Động. Họ tính toán rằng, theo lời tiên tri trong “Thôi Bối Đồ” được truyền lại trong phái Long Môn, truyền nhân đời thứ mười tám của phái Long Môn đã ra đời được mười năm, và giờ đã đến lúc tìm kiếm và truyền thụ đạo pháp cho người đó. Ba vị lão đạo tự tính toán, kết quả đều trùng khớp.

Một ngày nọ, trăng sáng vằng vặc, gió biển thổi nhẹ, tạo nên một khung cảnh đêm hè tuyệt đẹp. Ba vị lão đạo ngồi thiền trước cửa Trường Xuân Động, đối diện với trăng, luyện công trong suốt hai giờ đồng hồ. Sau khi luyện công xong, Vô Cực đạo nhân gọi hai đệ tử đến trước mặt và nói: “Việc tìm kiếm truyền nhân đời thứ mười tám, chúng ta đã tính toán nhiều lần từ năm ngoái, kết quả đều trùng khớp với lời tiên tri trong ‘Thôi Bối Đồ’. Hôm nay chúng ta hãy tính toán kỹ lưỡng một lần nữa, xem kết quả thế nào?” Hai đệ tử gật đầu đồng ý.

Ba vị đạo nhân ngồi yên tĩnh, nhắm mắt, tĩnh tâm, chỉ dùng tuệ nhãn để quan sát. Một thiếu niên gầy yếu xuất hiện trước mắt họ. Ba người ghi nhớ những gì họ “nhìn thấy”, sau đó trở về hang động và mỗi người viết ra một tờ giấy, kết quả cả ba đều giống nhau:

“Tích Lịch Hỏa mệnh, Hỏa vượng Thổ trọng.
Cư Chấn chi phương, Trường Bạch tây trắc.”

Ba vị lão đạo trao đổi xem xét, ánh mắt giao nhau, nở nụ cười, không ai bảo ai đều thốt lên một chữ: “Thiện.” Ngay lập tức, họ quyết định chọn ngày lành để xuống núi tìm đệ tử truyền đạo.

Vài ngày sau, hôm đó chính là một ngày hoàng đạo. Ba vị lão đạo dậy sớm, làm lễ xong, thu xếp hành lý và nhanh chóng xuống núi. Trên đường đi, họ vượt núi băng sông, ngày đi đêm nghỉ. Cảnh đời nhân gian có nhiều đắng cay, ba vị lão đạo chứng kiến không khỏi động lòng thương xót. Họ tu đạo nhiều năm, mỗi người đều có kỹ năng tuyệt diệu, đây chính là lúc để phát huy. Trên đường đi, gặp bệnh chữa bệnh, gặp khổ cứu khổ, ai cũng khen ngợi. Đi một đường, hóa đạo một phương. Từ núi Lao Sơn đến Phủ Thuận chỉ cách nhau vài ngàn dặm, với công phu của ba vị, nếu đi ngày đêm không nghỉ thì không quá nửa tháng là đến, nhưng họ lại mất hơn hai tháng mới tới được Phủ Thuận và dừng chân ở phía tây ngọn núi. Điều này cho thấy trên đường đi, ba vị dành nhiều thời gian chữa bệnh cứu người hơn là đi đường, đó chính là bản sắc của Đạo gia. Không cần nói thêm.

Sau khi ba vị lão đạo từ nhà Vương Lực Bình xin ăn trở về, họ vừa đi vừa trò chuyện vui vẻ, quên hết mọi vất vả trong hai tháng qua. Họ trở về nhà trọ tạm thời, phủi sạch bụi bặm trên người và chờ đợi Vương Lực Bình tìm đến.

Sau khi ba vị lão đạo rời đi, Vương Lực Bình luôn cảm thấy băn khoăn và muốn gặp lại ba vị lão nhân từ khác thường này. Lúc đó, cậu đang là học sinh lớp năm, cả buổi chiều cậu học hành lơ đễnh, sau giờ học cũng không về nhà cùng bạn bè mà đi lang thang không mục đích. Cuối cùng, cậu đi đến con đường dẫn đến nhà trọ. Khi bước vào, cậu ngẩng đầu lên và thấy ba vị lão đạo đang ngồi trong một căn phòng nhỏ, cười nói vui vẻ. Vương Lực Bình vui mừng khôn xiết, bước vào và ngồi xếp bằng, lắng nghe họ trò chuyện, như thể họ là những người bạn thân lâu năm.

Thầy trò ba thế hệ đã gặp nhau. Mùa thu năm 1962, Vương Lực Bình, với thân hình thiếu niên, bắt đầu cuộc sống tu luyện Đạo gia kéo dài mười lăm năm, trải qua những thử thách gian khổ, từ “Hạ tam giới” vươn lên “Trung tam giới”.

Chương 2: Thùy Luyện Tâm Tính

Khi cậu bé Vương Lực Bình bước vào căn phòng nhỏ trong nhà trọ, cậu học theo cách ngồi xếp bằng của ba vị lão đạo. Ba vị lão đạo không hề để ý, vẫn tiếp tục nói chuyện và cười đùa như bình thường. Vương Lực Bình cảm thấy rất mới lạ, dù không hiểu ba vị đang nói gì nhưng trong lòng lại cảm thấy vô cùng thoải mái.

Dù ba vị lão đạo có vẻ như đang nói chuyện vui vẻ, nhưng thực ra họ đang âm thầm “điều tra” mọi thứ về cậu bé. Họ biết cậu bé có vấn đề về “đau nửa đầu” và “mắt kém”, nên đã âm thầm điều chỉnh và chữa trị cho cậu. Dần dần, Vương Lực Bình cảm thấy tinh thần sảng khoái, đôi mắt trở nên sáng rõ. Cậu biết rằng ba vị lão đạo trước mặt không phải người thường, trong lòng thầm khen ngợi nhưng không lộ ra ngoài. Cậu bé này cũng là người có căn tuệ, dù chưa được thầy chỉ dạy nhưng nhờ khả năng ngộ tính, cậu đã hiểu được nhiều điều. Lúc này, cậu ngồi yên lặng, tự có lý do của mình, đang chờ đợi một kết quả.

Ba vị lão đạo âm thầm sử dụng pháp thuật, đã tìm hiểu rõ về cậu bé và biết rằng cậu có lai lịch không tầm thường, hoàn toàn phù hợp với kết luận mà họ đã dự đoán từ ba năm trước. Đây chính là truyền nhân đời thứ mười tám mà họ đang tìm kiếm. Mặc dù cậu bé có căn tuệ sâu sắc, nhưng hiện tại vẫn chỉ là một thân phàm, giống như ngọc thô chưa được mài giũa, lại thường xuyên chơi đùa với những đứa trẻ nghịch ngợm nên mang nhiều khí chất hỗn tạp, tính tình cũng quá phóng túng. Cần phải tận dụng thời gian khi cậu còn trong trắng, sớm bắt đầu rèn luyện, mài giũa cẩn thận, dốc lòng nuôi dưỡng, hấp thụ tinh hoa của trời đất, dẫn dưỡng chất từ sương mai, thoát khỏi thân phàm, mới có thể trở thành bậc đại khí, đạt được đại đạo. Trước mắt, hãy để cậu tích lũy thêm kiến thức, củng cố tâm hướng đạo.

Vị lão đạo lớn tuổi nhất nhắm mắt một lúc, rồi từ từ mở ra và hỏi: “Cậu bé, trời đã tối, đường về nhà xa, cậu có sợ không?”

Vương Lực Bình nghĩ rằng cuối cùng các cụ cũng hỏi đến mình, không cần suy nghĩ, cậu liền trả lời: “Sợ gì chứ? Chúng cháu thường chơi trốn tìm với các bạn, trời càng tối càng vui. Không sợ, không sợ.”

Nghe câu trả lời này, ba vị lão đạo vui mừng đến mức nhảy cẫng lên. Ba vị lão đạo sống xa rời thế tục đã lâu, nhưng tâm hồn trẻ thơ vẫn không mất đi. Hàng ngày trên núi, họ bàn luận về dưỡng sinh và đạo lý, thỉnh thoảng đánh cờ, tự tìm niềm vui, nhưng làm sao có cơ hội chơi đùa với trẻ con? Xuống núi, họ chứng kiến biết bao nỗi khổ của nhân gian, mắt thấy tai nghe đã quá đủ, nhiều tháng lang thang, bụi bặm đầy người. Đến hôm nay mới tìm được đứa trẻ chân chính, ba năm vất vả cuối cùng cũng có kết quả: ngàn năm truyền đạo, lại có người kế thừa. Thầy trò gặp nhau, đúng là việc lớn, sao không tận hưởng niềm vui lúc này? Giả Giáo Nghĩa liền kéo Lực Bình đứng dậy: “Chúng ta cùng đi chơi một chút nào.”

Ba vị lão đạo và cậu bé cười đùa, nhảy nhót ra khỏi nhà trọ, không xa đó là một khu nghĩa địa. Trời tối đen như mực, chỉ vài bước đã khó nhận ra bóng người. Bỗng nghe tiếng của Trương Hợp Đạo: “Chúng ta hãy trốn trong nghĩa địa này đi. Cậu bé, nếu cậu tìm được một người, chúng tôi sẽ thua cả ba. Thế nào?” Hai vị lão đạo khác đồng tình: “Cậu bé, dám không?”

Vương Lực Bình, với khí chất tuổi trẻ và kinh nghiệm nhiều năm chơi trò này, tự tin đầy mình, làm sao chịu thua trước ba vị lão đạo? Hơn nữa, khu nghĩa địa này cậu đã từng đến nhiều lần, biết rõ từng gốc cây, từng chỗ lõm, dù họ có trốn ở đâu cũng khó thoát khỏi sự tìm kiếm của cậu. Lực Bình không cần suy nghĩ, liền nói: “Được, bắt đầu thôi.” Rồi cậu trốn sau một gốc cây, dùng tay che mắt, chờ ba vị lão đạo đi trốn.

Trương Hợp Đạo kéo cậu lại và nói: “Không cần. Cậu cứ đứng đây, mở mắt ra, xem chúng tôi trốn. Nhất định phải nhìn rõ, chúng tôi sẽ ở gần đây, không đi xa đâu.” Nói xong, ba vị lão đạo vẫn đứng yên tại chỗ, Lực Bình thúc giục: “Các cụ mau đi trốn đi!” Ba vị lão đạo vẫn không nhúc nhích, chỉ nghe tiếng nói: “Cậu hãy nhìn kỹ đi, chúng tôi đã trốn rồi.” Lực Bình nghe rõ ràng, mắt mở to, nhưng trong chốc lát, ba vị lão đạo đã biến mất. Cậu nghĩ thầm, mấy ông già này thật “ma quái”. Sao chỉ trong nháy mắt đã không thấy bóng dáng đâu nữa? Ngay cả tiếng bước chân cũng không nghe thấy? Vương Lực Bình bắt đầu tìm kiếm khắp nơi. Cậu đã kiểm tra những chỗ “bí mật”, những nơi có thể trốn người, nhưng sau gần một tiếng đồng hồ vẫn không tìm thấy gì. Trời càng tối, xung quanh không thấy bóng người. Không có gió, không nghe thấy tiếng lá cây xào xạc. Nghĩa địa im lặng như chết. Lực Bình không cảm thấy sợ hãi, nhưng lo lắng vì không tìm thấy kết quả, mồ hôi đầm đìa. Giờ đây, “cao thủ” trốn tìm này đã hết cách.

Khi Lực Bình quay lại gốc cây cũ sau khi lục soát khắp nghĩa địa, ba vị lão đạo đột nhiên xuất hiện trước mặt cậu, cười lớn: “Cậu bé, lần này chịu thua chưa?” Lực Bình nhìn họ như thần tiên giáng trần, đầu óc quay cuồng, không biết trả lời thế nào, một lúc sau mới hỏi: “Các cụ trốn ở đâu vậy? Cháu đã tìm khắp nghĩa địa rồi mà!” Ba vị lão đạo đồng thanh đáp: “Chúng tôi vẫn đứng đây không di chuyển đâu. Bảo cậu nhìn kỹ mà, cậu không nhìn rõ thôi.” Lực Bình ngạc nhiên không nói nên lời.

Bạn có biết ba vị lão đạo đã chơi với Vương Lực Bình như thế nào không? Thực ra họ vẫn đứng yên tại chỗ, chỉ sử dụng thuật ẩn thân, biến mất khỏi tầm nhìn, nên không cần phải trốn. Đừng nói là ban đêm không nhìn thấy, ngay cả giữa ban ngày, người thường cũng khó lòng thấy được bóng dáng họ. Lúc này, Vương Lực Bình vẫn chưa hiểu được đạo lý này, nhưng cảnh tượng trước mắt khiến cậu có nhiều suy ngẫm, càng thêm kính trọng ba vị lão đạo không phải người thường. Khi Lực Bình muốn hỏi rõ hơn, Trương Hợp Đạo chỉ nói: “Sau này cậu sẽ tự hiểu. Hôm nay trời đã khuya, chúng tôi đưa cậu về nhà ngủ đi. Ban ngày đi học cho tốt, tối đến có thể đến chơi với chúng tôi. Chuyện này không cần kể với ai.” Dặn dò xong, ba vị lão đạo đưa Lực Bình về nhà rồi mới quay lại.

Thuật ẩn thân là phép thuật biến mất khỏi tầm nhìn của người thường. Xem nó là “vô”, trong “vô” có “hữu”, “hữu” có thể rất nhỏ hoặc rất lớn, kết quả là người thường không thể nhìn thấy. Phép thuật này đòi hỏi sự biến hóa, và chỉ những người ở “trung tam giới” mới có thể thực hiện được.

Khi Vương Lực Bình trở về nhà, bố mẹ cậu đang lo lắng vì cậu về muộn. Họ hỏi cậu đã đi đâu và làm gì, nhưng Lực Bình chỉ ậm ừ qua loa, bố mẹ cũng không hỏi thêm nhiều. Gia đình họ Vương có nhiều con, lại đang trong thời kỳ khó khăn, mọi người phải tự lo cho nhau, đôi khi cũng không thể chăm sóc hết được. Lực Bình là con thứ hai, lớn hơn các em, nên bố mẹ dành nhiều thời gian chăm sóc các em nhỏ hơn. Lực Bình đang học lớp cao trong tiểu học, có thể tự chăm sóc bản thân, đi lại tự do, bố mẹ ít khi can thiệp.

Về nhà, Lực Bình ăn qua loa một chút, không cảm thấy đói lắm, rồi lên giường ngủ. Nhưng lúc này cậu làm sao ngủ được. Dù còn nhỏ tuổi, nhưng cuộc gặp gỡ kỳ lạ hôm nay khiến Lực Bình tâm trí không yên, khó lòng chợp mắt. Hình ảnh ba vị lão đạo hiện lên rõ ràng trong đầu cậu, “Không phải người thường!” Những lời nói của ba vị lão đạo trong nhà trọ vẫn văng vẳng bên tai, “Khác biệt phi thường!” Màn trình diễn “thuật ẩn thân” của ba vị lão đạo trong nghĩa địa thực sự khiến cậu mở mang tầm mắt, còn hấp dẫn hơn cả tiểu thuyết thần thoại, “Không thể tin nổi!” Cảm giác của bản thân cậu cũng khác lạ, bệnh tật đã biến mất, không cần phải nói, nghe ba vị lão đạo nói chuyện, cậu dường như cũng có chút giác ngộ, “Thật kỳ lạ!” Vương Lực Bình cứ lặp đi lặp lại những sự việc trong ngày trong đầu, không tìm được câu trả lời, nhưng cảm nhận được một sức mạnh không tên đang xuất hiện trong người mình, sức mạnh này gắn kết cậu với ba vị lão đạo một cách chặt chẽ, không thể cưỡng lại. “Ngày mai sẽ quay lại”, Vương Lực Bình quyết định như vậy rồi chìm vào giấc ngủ.

Từ đó trở đi, mỗi ngày sau khi tan học, Vương Lực Bình đều tìm cách tránh những người bạn thường chơi cùng, len lỏi một mình đến chỗ ở của ba vị lão đạo trong nhà trọ. Ba vị lão đạo này đều đã ngoài bảy mươi tuổi, lại từ trong đất liền đi xin ăn đến, nên người dân địa phương rất thương cảm họ. Hơn nữa, ba vị lão đạo còn có sức khỏe dẻo dai, lại biết chữa bệnh, nên càng được mọi người quý mến. Bản chất thật sự của ba vị lão đạo được giấu kín, ngay cả khả năng chữa bệnh cũng chỉ thể hiện một phần nhỏ. Tuy nhiên, người dân địa phương khi có bệnh nhẹ không tiện đến bệnh viện thường đến nhờ ba vị lão đạo chữa trị, dù là bệnh nhỏ nhưng không tốn nhiều thời gian và tiền bạc, chỉ cần xem qua là khỏi. Qua thời gian, người dân địa phương từ chỗ “thương cảm” chuyển sang “kính trọng”, việc ba vị lão đạo sinh sống ở đây không còn là vấn đề.

Mỗi ngày, Vương Lực Bình đến đều bắt tay vào làm việc ngay, như chặt củi, quét dọn, tưới rau, đốt lửa, bất cứ việc gì cậu có thể làm đều làm hết. Cậu bé vừa chăm chỉ, lại lanh lợi, thêm vào đó có chút khả năng nhạy bén, nên chỉ trong chốc lát đã dọn dẹp gọn gàng, sạch sẽ. Sau khi làm xong việc, cậu đứng một bên xem ba vị lão đạo chữa bệnh, không nói nhiều, không làm vướng víu. Ba vị lão đạo thấy vậy đều rất vui lòng. Khi không còn người ngoài, chỉ còn lại ba vị lão đạo và cậu bé, họ bắt đầu kể những câu chuyện kỳ lạ, từ từ dẫn dắt Vương Lực Bình vào con đường tu luyện.

Không lâu sau, ba vị lão đạo bàn bạc, nhà trọ này người qua lại đông đúc, không phải là nơi thích hợp để truyền thụ công phu và dạy đệ tử, nên cần tìm một nơi yên tĩnh khác để ở, nhằm hoàn thành đại sự. Sau khi quyết định, ba vị lão đạo liền đi thăm dò xung quanh, phát hiện không xa có một xưởng rèn bỏ hoang, ngôi nhà trăm tuổi, bụi bặm phủ kín, đã lâu không có người ở, chỉ cần dọn dẹp một chút là có thể che mưa tránh gió, lại cách xa làng, ít người qua lại, yên tĩnh, đây chính là nơi ở “lý tưởng”. Ba vị lão đạo không có nhiều đồ đạc, nói dọn là dọn, lập tức chuyển đi. Họ sửa sang lại hai căn nhà cũ, trồng vài cây nhỏ trước nhà, sau nhà cải tạo một mảnh vườn rau, môi trường xung quanh trở nên mới mẻ, từ đó an cư lạc nghiệp.

Người dân trong làng sống chất phác, phong tục thuần hậu, lại thấy ba vị lão đạo tuổi cao đức trọng, chữa bệnh cứu người, nên thường mang củi gạo đến giúp đỡ, cuộc sống của ba vị lão đạo cũng tạm ổn, quan hệ với dân làng hòa thuận như nước.

Sau nhiều ngày sống cùng nhau, ba vị lão đạo và Vương Lực Bình đã trở nên rất thân thiết. Ba vị lão đạo âm thầm hướng dẫn, còn Vương Lực Bình cũng dần dần có những giác ngộ.

Một đêm thu, trăng sáng sao thưa, gió mát nhẹ nhàng, núi rừng yên tĩnh vô cùng. Trong căn phòng nhỏ, một ngọn đèn dầu le lói, bốn người ngồi quây quần, lắng nghe vị đạo nhân lớn tuổi nhất là Trương Hợp Đạo kể những câu chuyện và đạo lý của Đạo gia. Vương Lực Bình từ nhỏ đã sống ở vùng quê, những truyền thuyết về thần tiên trong dân gian cũng đã nghe qua, từ lâu đã rất ngưỡng mộ. Giờ đây nghe vị lão đạo kể chuyện một cách sinh động, cậu càng chăm chú, không để ý đến xung quanh.

Trương Hợp Đạo bắt đầu kể về câu chuyện của Bát Tiên, rồi liệt kê những thành tựu của Bắc Ngũ Tổ, mỗi người đều có lai lịch phi thường, tạo hóa sâu xa. Đặc biệt, ông kể rất chi tiết về Khâu Xử Cơ, Trường Xuân chân nhân, người sáng lập phái Long Môn. Khâu Trường Xuân là người Tây Hà, Tề Hà, mười chín tuổi nhập đạo, hai mươi tuổi bái Vương Trùng Dương làm sư. 

Sau khi Trùng Dương tổ sư qua đời, Khâu Tổ đi về phía tây, hóa trai tu đạo ở vùng Tần Xuyên, ở lại Trường An vài ngày, nhưng thành phố ồn ào náo nhiệt không tiện cho việc tu đạo, nên ông đến núi Chung Nam tìm một ngôi chùa cổ để ở. Lúc đó đang là mùa đông giá lạnh, không ngờ một đêm gió bắc gào thét, mây đen kéo đến, tuyết rơi lả tả. Tuyết rơi liên tục không ngừng, kéo dài năm ngày năm đêm, cả ngọn núi phủ trắng, chim chóc cũng không thấy, đường đi không còn nhận ra, làm sao thấy được dấu vết của người qua lại? Khâu Tổ trong chùa ngồi thiền liên tục, dù trời lạnh giá, bụng đói cồn cào, nhưng ông hoàn toàn không để ý. Đến đêm thứ năm, thật sự khó chịu vô cùng, ông nghĩ: “Có lẽ mình sẽ chết đói ở đây, nhưng ‘dù chết cũng phải giữ vững đạo tâm’, chết cũng không thay đổi lòng hướng đạo.” 

Quyết tâm đã định, ông bước vào trạng thái mê man. Trong cơn mê, ông nghe thấy tiếng nói vang lên: “Chân nhân xin dùng bữa.” Khâu Tổ từ từ mở mắt, thấy trời đã sáng, một cụ già tay bưng bánh mì đứng trước mặt. Khâu Tổ mặt mày xấu hổ, liền hỏi: “Lão thiện nhân, tuyết lớn như vậy, sao ngài phải vất vả mang đồ ăn đến đây, tiểu đạo thật không dám nhận, tội lỗi, tội lỗi.” Cụ già vội ngăn Khâu Tổ lại: “Nhà tôi cách đây không xa, không tốn nhiều sức lực. Chỉ vì đêm qua nằm mộng, thấy chân nhân trong chùa gặp khó khăn, nên chuẩn bị chút đồ ăn thô sơ để chân nhân no bụng, xin đừng từ chối.” Nói xong, cụ đặt bánh mì vào tay Khâu Tổ rồi quay đi. Khâu Tổ muốn hỏi tên để cảm ơn, nhưng cụ già đã bước ra khỏi cửa. Ông vội chạy ra ngoài chùa nhìn, cụ già đã biến mất. Nhìn kỹ trên nền tuyết, tuyết trắng phủ kín, không thấy một dấu chân nào, mới biết cụ già chính là Thổ Địa hóa thân.

Khi trời quang mây tạnh, tuyết tan, Khâu Tổ tiếp tục hành trình về phía tây, đến chân núi Nam Sơn ở Bảo Kê. Ở đó có một con suối lớn tên là Đôi Khê, lòng sông rộng, khi nước lên, dòng chảy cuồn cuộn, không thể xây cầu, khi nước rút, nước cạn không thể dùng thuyền, người qua đường phải lội nước mới sang được. Khâu Tổ đến đây, thấy người qua đường gặp nhiều khó khăn, liền nghĩ: “Tại sao mình không làm việc thiện ở đây, tích lũy công đức, đây cũng là căn bản của tu đạo.” Ngay lập tức, ông cõng người qua sông, ai nấy đều khen ngợi. Bên bờ suối còn có một ngôi chùa cổ, chính là nơi lý tưởng để tu luyện. Khâu Tổ ban ngày cõng người qua sông, đêm đến ngồi thiền trong chùa, kiên trì như vậy suốt sáu năm. Trong sáu năm đó, ông rèn luyện thân tâm, trải qua bảy lần “đại tử”, vô số lần “tiểu tử” và khó khăn, chết đi sống lại, ý chí càng thêm kiên định, tâm càng thêm chân thành, công lực tiến bộ vượt bậc, đã vượt qua “hạ tam giới”.

Trương Hợp Đạo kể xong đoạn này, cuối cùng nói: “Khâu Tổ có nói: ‘Một niệm không sinh tức là tự do, trong lòng không vướng bận tức là tiên phật.’ Thần tiên, thiên tiên đều là do khổ tu khổ luyện mà thành.” Nói xong, ông vuốt râu, đưa ánh mắt về phía Lực Bình, ý nói: “Chàng trai trẻ, nghe hiểu chưa?”

Vương Lực Bình đang chăm chú lắng nghe, bị ánh mắt của vị lão đạo nhìn, bỗng như tỉnh giấc mộng, suy nghĩ một lúc rồi nói: “Cháu hiểu rồi.”

“Hiểu được gì?” Vị lão đạo lại hỏi.

“Tâm phải chân thành, chí phải kiên định, mới có thể học đạo, mới luyện được chân bản lĩnh.” Vương Lực Bình trả lời không chút do dự.

“Chàng trai trẻ tốt, có ngộ tính.” Ba vị lão đạo đều lộ ra nụ cười hài lòng.

Trương Hợp Đạo lúc này ngừng cười, nghiêm mặt nói: “Lực Bình, cháu có muốn học đạo không?”

“Cháu muốn học.” Lực Bình nói hai chữ này rất nghiêm túc, dồn hết sức lực.

“Muốn học, nhưng không biết phải luyện thế nào, vì không có thầy dạy.” Cậu làm sao biết được lai lịch của ba vị lão đạo trước mặt?

“Tốt,” Trương Hợp Đạo nói xong một chữ này, liền dừng lại, trao đổi ánh mắt với hai vị lão đạo kia, rõ ràng họ đã bàn bạc từ trước, giờ là lúc “bật mí” với cậu bé.

Trương Hợp Đạo tiếp tục nói: “Lực Bình, có tâm học đạo, không lo không có thầy dạy, cháu đoán xem ba người chúng tôi là ai, từ đâu đến? Chúng tôi chính là đệ tử truyền thừa từ đời thứ nhất, thứ hai của Khâu Tổ, tính từ trên xuống, đến nay đã hơn bảy trăm năm, tổng cộng có hơn mười đời truyền nhân, ta là truyền nhân đời thứ mười sáu, hai vị kia là truyền nhân đời thứ mười bảy. Chúng tôi đều già rồi, cần phải truyền lại những gì đã học được. Cháu có tâm học đạo, phải chuẩn bị tinh thần chịu khổ, không chịu khổ thì làm sao thành người tài giỏi? Điều đầu tiên của học đạo chính là chịu khổ, tiếp theo là học làm người, phải làm việc thiện, không làm việc xấu, đó gọi là tích đức. Tích công tích đức, thời gian lâu dài, tự nhiên sẽ nhập đạo.”

Ba vị lão đạo lại nói thêm nhiều về việc tích công tích đức, Vương Lực Bình đều ghi nhớ trong lòng. Đêm này đối với Vương Lực Bình là một đêm không bình thường, cuộc đời cậu từ đây đã được định đoạt.

Ba vị lão đạo hiểu rằng, tuy Vương Lực Bình còn nhỏ tuổi, nhưng căn cơ vững chắc, ngộ tính cao, tâm thành tính thuần, truyền đạo cho cậu chính là thời điểm thích hợp. Tuy nhiên, muốn thành đại khí, phải bắt đầu từ nền tảng, rèn luyện kỹ lưỡng, mới có thể đứng vững. Công phu giáo dục con người, cần phải dẫn dắt từ từ, tác động nhiều lần mới có thể giúp cậu thấu hiểu tường tận.

Kinh “Thái Thượng Lão Quân Thuyết Thường Thanh Tĩnh Diệu Kinh” viết:

“Phù đạo giả, hữu thanh hữu trọc, hữu động hữu tĩnh. Thiên thanh địa trọc, thiên động địa tĩnh. Nam thanh nữ trọc, nam động nữ tĩnh. Giáng bản lưu thủy, nhi sinh vạn vật. Thanh giả trọc chi nguyên, động giả tĩnh chi cơ. Nhân năng thường thanh tĩnh, thiên địa tất giai quy.

Phu nhân thần hiếu thanh nhi tâm nhiễu chi, nhân tâm hiếu tĩnh nhi dục khiên chi. Thường năng khiển kỳ nhược nhi tâm tự tĩnh, trừng kỳ tâm nhi thần tự thanh.” (Đạo Tạng, Nhà xuất bản Văn vật Bắc Kinh, Thượng Hải Thư điếm, Thiên Tân Cổ tịch, 1988, tập 11, trang 344, các trích dẫn sau đây từ Đạo Tạng đều theo bản này).

Đạo lý được nói ở đây, nói nó thâm sâu thì quả thật thâm sâu. Nói nó giản đơn thì nó cực kỳ giản đơn, nhưng thực hành lại rất khó khăn. Khó ở chỗ nào? Chính là ở chỗ “đoạn dục, trừng tâm, nhập tĩnh”. Đây là một triết lý cổ xưa, một nhân sinh quan cổ xưa. Nó khác xa so với triết lý và nhân sinh quan mà con người hiện đại đang thực hành. Hiện nay tình hình như thế nào? Dục vọng của con người ngày càng phát triển, các phương tiện giải trí kích thích giác quan, hình thức nghệ thuật ngày càng đổi mới, tài nguyên và năng lượng trên Trái đất được sử dụng rất nhiều để phục vụ cho chúng, nhưng càng như vậy càng không có lúc nào thỏa mãn được dục vọng. Giá trị của triết lý và nhân sinh quan này như thế nào? Ít nhất, nó không có một thước đo đúng đắn cho sự phát triển của dục vọng, càng không có một giới hạn tương đối ổn định để điều chỉnh mối quan hệ giữa con người với chính mình, giữa con người với xã hội, và giữa con người với tự nhiên.

Ba vị lão đạo bắt đầu huấn luyện Vương Lực Bình từ những điều cơ bản nhất. Bước đầu tiên gọi là “hối quá”.

“Hối quá” là gì? Bạn nghĩ rằng đó là việc hối cải những lỗi lầm đã phạm phải như chúng ta thường nói? Tất nhiên không thể hiểu theo nghĩa đó. Cậu bé mới mười ba tuổi này, theo lẽ thường, có “lỗi” gì để hối cải? Nhưng theo quan điểm của Đạo gia, dù cậu bé có thân thể trong trắng, nhưng từ khi sinh ra từ bụng mẹ, sống lâu trong thế gian trần tục, tâm tính cũng đã nhiễm không ít khí trọc, những khí trọc này chính là “lỗi”, là thứ cần phải loại bỏ trước tiên. Phương pháp loại bỏ chính là trong một khoảng thời gian, tách mình khỏi thế gian, giống như “cách ly kiểm tra”, nhưng khác biệt là không phải người khác kiểm tra mình, mà là chính mình chủ động xem xét bản thân, từ tâm tính tiến hành một sự thanh lọc và chuyển biến triệt để. Đây chính là công phu “hối quá” nhập môn.

Đối với những người đã đắm chìm sâu vào thế gian mà không có định hướng văn hóa đúng đắn, việc sử dụng toàn bộ trí tuệ, năng lực và thủ đoạn để thỏa mãn dục vọng, theo đuổi danh lợi, nhưng lại thiếu đi đạo đức cơ bản làm người, thì “lỗi” của họ lớn đến mức nào, nặng đến mức nào, sâu đến mức nào? Việc thanh lọc và loại bỏ triệt để những lỗi lầm đó là một nhiệm vụ vô cùng gian khổ, phức tạp và khó khăn, điều đó là không cần phải bàn cãi. Vì vậy, bước đầu tiên của “hối quá”, nói một cách đơn giản, chính là sự so sánh ban đầu giữa hai nền văn hóa, hai triết lý và hai nhân sinh quan, cũng là sự so sánh từ nền tảng. Nếu không quyết tâm từ bỏ những nền văn hóa, triết lý và nhân sinh quan không đúng đắn trong thế giới thường nhật, tức là không muốn làm lại một con người hoàn toàn mới, một người khác biệt với người thường, thì việc sửa chữa “lỗi” này là cực kỳ khó khăn.

Công phu “hối quá” này được chia làm ba tầng. Đầu tiên là tự nhốt mình trong một căn phòng tối, không quy định phải làm gì, chỉ là cách ly khỏi thế gian, như vậy trong hai tháng, “tính hoang dã” sẽ dần dần được thuần hóa và loại bỏ. Sau khi hoàn thành bước này, tiếp tục làm công phu tầng thứ hai, phải ngồi xếp bằng trong phòng tối, thời gian ngồi mỗi lần từ ngắn dần dần kéo dài. Tầng thứ ba, mới chuyển sang ngồi xếp bằng trong phòng tĩnh thông thường, mỗi lần ngồi phải trên bốn tiếng.

Căn nhà tạm trú của ba vị lão đạo là một xưởng rèn, có hai phòng chính và một phòng nhỏ bên ngoài, cửa nhỏ không có cửa sổ, vốn dùng làm kho chứa các đồ phế liệu. Giờ đây dọn dẹp lại, vừa đúng lúc sử dụng.

Một ngày nọ, sau khi ăn sáng xong, Vương Lực Bình như thường lệ đeo ba lô ra khỏi nhà, không đến trường mà đi thẳng đến chỗ ở của ba vị lão đạo. Hiện tại, cậu đang rất háo hức học đạo, việc học hành đã không còn quan trọng nữa. Đối với Vương Lực Bình, những thứ học được từ ba vị lão đạo ở đây thú vị và hấp dẫn hơn nhiều so với những thứ học ở trường, sức hút ở đây lớn hơn sức hút ở đó. Hơn nữa, với ngộ tính của mình, Lực Bình cũng biết mình sẽ làm gì trong tương lai, quyết tâm học đạo, không còn bận tâm đến điều gì khác, chỉ một lòng một dạ đi theo con đường này.

Ba vị lão đạo dậy sớm hơn người thường, ngủ muộn dậy sớm, luyện công đúng giờ, mấy chục năm nay đã thành thói quen. Mỗi người đều đã ngoài bảy mươi tuổi, nhưng mặt mày hồng hào, tóc bạc như hạc, ánh mắt sáng ngời, người già bình thường làm sao so được? Lực Bình bước vào phòng, ba vị lão đạo đang ngồi xếp bằng, luyện công giờ Mão. Thấy vậy, Lực Bình cũng xếp bằng, chuẩn bị luyện công, Trương Hợp Đạo liền ngăn cậu lại và hỏi: “Theo chúng ta học đạo, đã quyết định chưa? Không hối hận nữa chứ?”

“Đã quyết định rồi, nhất định không hối hận!” Vương Lực Bình mở to mắt, giọng nói có chút gấp gáp.

“Tốt tốt, cháu đừng ngồi vội. Đứng dậy, nghe ta nói đã. Đã quyết tâm học đạo, thì phải bắt đầu từ đầu, vẫn là câu nói cũ, không được sợ khổ, hiểu chưa?”

“Hiểu rồi, thầy cứ nói xem phải bắt đầu từ đâu.”

“Đừng vội, vội thì không học được gì đâu. Hôm nay chúng ta sẽ dạy cháu bài học đầu tiên. Bài học này không nói về đạo lý gì, chỉ cần làm theo là được, nhưng nhất định phải làm đúng yêu cầu của ta. Nếu không học xong bài học này, thì sau này đừng đến tìm chúng ta học đạo nữa.” Trương Hợp Đạo nói vậy, nhưng trong lòng ông làm sao nỡ bỏ rơi người mà họ đã dành bao nhiêu năm tháng và công sức mới tìm được?

“Được rồi, cháu sẽ làm theo những gì thầy nói.” Vương Lực Bình tuổi trẻ khí thế, cậu làm sao biết được mình sắp phải làm gì? Chưa chính thức làm lễ bái sư, cậu đã gọi “thầy” rồi.

Trương Hợp Đạo không để ý đến những lời nói bừa bãi của cậu, chỉ nói: “Theo ta”, rồi bước ra khỏi cửa. Vương Lực Bình đi theo sau, quay người đến trước cửa căn phòng nhỏ tối om. Trương Hợp Đạo chỉ tay vào trong phòng tối, nói: “Chàng trai trẻ, vào đi. Ở trong đó ngoan ngoãn, không cho ra thì đừng kêu gào đòi ra.” Nói xong, ông kéo Lực Bình vào phòng, đẩy cậu vào rồi khóa cửa lại, bỏ đi.

Vương Lực Bình không ngờ “Sư phụ” lại ra chiêu này. Trong phòng tối đen như mực, chẳng thấy gì, “Nhốt ở đây để làm gì?” Cậu nghĩ, “Có lẽ ‘sư phụ’ đang thử lòng thành của mình, mình cứ ở đây. Thầy thấy mình thành tâm, sớm muộn gì cũng sẽ thả mình ra.” Dù sao cũng là một cậu bé, suy nghĩ đơn giản. Nhưng cậu chưa từng chịu khổ như thế này, một lúc đi lại trong phòng, không cẩn thận đập đầu vào tường, đành phải dùng tay sờ soạng. Đi chán rồi, lại ngồi xuống nghỉ ngơi. Cứ lặp đi lặp lại như vậy, thời gian trôi qua chậm chạp. Trong lòng cậu nóng như lửa đốt, một buổi sáng dài như một năm.

Cánh cửa kêu cót két mở ra, ánh sáng lọt vào khiến Vương Lực Bình không mở nổi mắt. Chỉ nghe tiếng vị lão đạo gọi cậu ra, Lực Bình dụi mắt, chạy ra ngoài. Trong lòng cậu khó chịu vô cùng, nhưng cậu giả vờ như không có chuyện gì.

Vương Giáo Minh hỏi: “Chàng trai trẻ, có chịu được không?”

Lực Bình nghĩ rằng “sư phụ” đang thử mình, cậu đã chứng minh được lòng thành, liền nói: “Không sao, bài học này dễ mà. Thầy xem cháu có ổn không?” Cậu hy vọng “sư phụ” sẽ cho mình điểm tuyệt đối.

“Cũng được.” Vương Giáo Minh trả lời nhạt nhẽo. “Đi theo ta ăn cơm trước đã.”

Vương Lực Bình cả buổi sáng bị nhốt khó chịu, đã đi tiểu trong góc tường. Nghe “thầy” nói “cũng được”, dù điểm số không cao, nhưng ít nhất cũng đã vượt qua “kỳ thi”.

Trong bữa ăn, lần này khác với mọi khi, ba vị lão đạo ít nói chuyện, thậm chí không nhắc gì đến việc Vương Lực Bình đã trải qua cả buổi sáng như thế nào. Đối với Vương Lực Bình, chuyện lớn như vậy mà họ dường như hoàn toàn không biết. Vương Lực Bình vốn rất thông minh, nghĩ thầm: “Các sư phụ giả vờ không biết, mình cũng giả vờ không quan tâm. Chiêu này khó không nổi mình đâu, xem các sư phụ còn có chiêu gì mới.” Ăn qua loa xong, cậu dọn dẹp bát đũa gọn gàng, chờ đợi “kỳ thi” mới từ các sư phụ.

Không ngờ Vương Giáo Minh lại bình thản nói: “Lực Bình, trở lại căn phòng nhỏ của cháu đi.” Nói xong, ông thậm chí không nhìn cậu, đi thẳng về phía căn phòng nhỏ tối. Lực Bình không còn cách nào khác, đành phải đi theo, bước vào phòng, nghe tiếng “cạch” cửa đóng lại, tiếp theo là tiếng khóa và bước chân đi xa. Trong phòng tối đen như mực, mọi thứ lại trở về như buổi sáng.

Vương Lực Bình không đoán được các sư phụ đang tính kế gì, nghĩ thầm: “Cả buổi sáng ‘thi cử’, thời gian chưa đủ dài sao? Vẫn chưa thấy được lòng thành của mình sao? May mà sư phụ không đưa ra yêu cầu gì khác, mình cứ ở đây chơi một chút cho đỡ chán cái ‘đêm dài’ này.” Nghĩ vậy, cậu bắt đầu đấm đá trong phòng tối, đánh loạn xạ một hồi, đến khi mồ hôi nhễ nhại, mệt nhoài, lại ngồi xuống thở dốc. Không chuẩn bị trước gì cả, cả buổi sáng bị một bãi nước tiểu làm khó chịu, cuối cùng đợi được sư phụ mở cửa ra ngoài, giờ trong bụng lại tích tụ thêm nhiều “chất thải”, không biết đến khi nào mới được mở cửa ra ngoài giải quyết. Lực Bình cố gắng không nghĩ đến nó, nghĩ ra nhiều cách để phân tán sự chú ý, nhưng không lâu sau, áp lực trong bụng lại kéo tâm trí cậu trở về, thật sự khó chịu không chịu nổi. Phải làm sao đây? Gọi sư phụ mở cửa, gào khản cổ cũng không ai trả lời. Đẩy cửa, đá cửa, không nghe thấy tiếng người. Hao tổn sức lực cả nửa ngày mà chẳng được kết quả gì. “Người sống mà để nước tiểu làm chết, phân làm chết sao?” Nhưng trong căn phòng nhỏ này, đi đâu mà đi tiểu, đi đại tiện? Sau khi đi vệ sinh, cả phòng đầy mùi hôi thối, sư phụ đến, chẳng phải bị chê cười sao? Không được, không thể làm bậy trong phòng. Nhưng không làm bậy thì làm sao chịu đựng nổi. Cậu bé mười ba tuổi này, anh hùng bị dồn đến bước đường cùng, đây là lần đầu tiên trong đời. Ý chí của Vương Lực Bình rất kiên cường, “Kiên trì, không đi tiểu, không đi đại tiện, xem các sư phụ làm gì.” Thời gian trôi qua từng giây, Vương Lực Bình kiên trì từng giây. Cuối cùng, cậu không thể chịu đựng thêm nữa, hai “cửa” đồng thời mở ra, quần ướt sũng nước tiểu, phân đầy trong quần. Áp lực thể xác lập tức giảm bớt, thật là thoải mái; nhưng áp lực tinh thần lại ập đến, thật nặng nề; Vương Lực Bình, cậu bé mười ba tuổi, đau khổ đến phát khóc, đó là trái đắng đầu tiên mà cậu nếm trải trong quá trình chuyển biến cuộc đời, đấu tranh với chính mình. Cậu khóc rất đau lòng, nhưng không ai biết. Và chuyện này cũng không thể để ai biết. Vương Lực Bình ngồi đó bất động, khóc xong, bình tâm lại, chờ đợi thân nhiệt làm khô quần, để khi sư phụ thả cậu ra, không phát hiện ra “sơ hở”.

Vậy mà ba vị đạo sĩ này ban ngày bận rộn chữa bệnh cho người, nhưng ba quả tim lúc nào cũng hướng về Vương Lực Bình. Mọi hành động của Vương Lực Bình trong căn phòng tối đều được họ biết rõ như lòng bàn tay. Khi Vương Lực Bình trong phòng tối nóng lòng bứt rứt, họ cảm thấy xót xa. Khi anh ta gào thét, đẩy cửa đá cửa, tiếng động ấy như xé nát tim gan họ. Khi Vương Lực Bình tiểu tiện ra quần, họ tưởng chừng nghẹt thở. Thế nhưng, Lão Tử từng nói: “Tự thắng giả cường – Tự thắng mình mới là mạnh.” Kinh Dịch cũng dạy: “Trung tín là nền tảng để tu đức.” Phương pháp của ba vị đạo sĩ tuy khắc nghiệt, nhưng để rèn luyện người mới, điều này là cần thiết. Ba vị lại càng vui mừng trước sự kiên nhẫn và thành ý của Vương Lực Bình, thầm khen ngợi không thôi.

Đợi đến khi trời chạng vạng, ba vị cùng đến trước căn phòng tối, mở cửa gọi Lực Bình ra. Lực Bình thấy bên ngoài đã tối mờ, dù nét mặt lộ vẻ hoảng hốt, nhưng nghĩ thầm “sư phụ” khó lòng nhận ra, liền bước lên thi lễ. Ba vị không hỏi han gì, chỉ bảo: “Hôm nay tu tập đến đây, mau về nhà đi.” Lực Bình sợ “sư phụ” phát hiện “sự cố”, vội vàng chạy như bay xuống núi.

Vương Lực Bình ra đến con suối nhỏ, cởi quần giặt sạch vết bẩn, vắt khô mặc lại, rồi mới trở về nhà. Bố mẹ hỏi sao quần ướt, anh ta chỉ nói dối là chơi đùa với bạn, lỡ rơi xuống nước, qua loa cho xong chuyện.

Từ đó về sau, cứ cách ba đến năm ngày, Lực Bình lại vào phòng tối “Hối quá” một lần, thời gian mỗi lần cũng dài hơn, từ nửa ngày đến cả ngày, rồi cả ngày lẫn đêm. Qua nhiều lần “Hối quá”, anh dần tích lũy được kinh nghiệm, ít khi “làm trò cười” nữa. “Bản tính hoang dã” đã dần thuần phục, tâm trí được rèn luyện trở nên tĩnh lặng như nước, trong sáng như trăng. Về sau, anh bắt đầu dùng đầu óc suy nghĩ, “sư phụ” bảo đó là “cấu tứ”, một bài học vô cùng quan trọng để rèn luyện trí não.

《Lão Tử》 viết: Táo thắng hàn, tĩnh thắng nhiệt, thanh tĩnh vi thiên hạ chính” Lại nói: “Đạt đến chỗ hư không cùng cực, giữ vững sự tĩnh lặng sâu xa, vạn vật sinh sôi, ta từ đó mà thấu tỏ lẽ huyền diệu.” Điều tinh túy nằm ở chữ “tĩnh” này.

Tĩnh đến cực điểm sinh ra động, từ đó quan sát được cái huyền diệu.
Cái gọi là “cấu tứ”, chính là sau khi thân tâm đạt đến trạng thái tĩnh lặng tuyệt đối, trong não nảy sinh một “vật” – có thể là cảnh, người hoặc sự việc. Cần đẩy nó về phía trước hoặc phía sau, khiến nó biến đổi liên tục, từ đó đạt được một “kết quả”. Kết quả này phải mang ý nghĩa nhất định mới có giá trị. Quá trình vận dụng tư tưởng này được gọi là “cấu tứ”.


Vương Lực Bình đã ngồi tĩnh tâm trong căn phòng tối theo lời “sư phụ” để thực hành “cấu tứ”. Ban đầu, anh nghĩ: “Hiện tại ta đang ở trong phòng tối, thân thể bị trói buộc, nhưng tinh thần không thể giam giữ được, nó có thể thoát ra ngoài. Vậy lúc này, cha ta đang làm gì? Ông đang ở cơ quan, cặm cụi làm việc. Trên bàn làm việc có các vật dụng: hộp đựng bút, thước tính, thước vẽ; phía bên trái còn có một cốc nước, trong đựng hơn nửa cốc nước nóng đang bốc hơi; gần cốc nước là một gạt tàn bằng sứ, trong có mấy mẩu thuốc lá; tay trái cha cầm điếu thuốc đang cháy dở, vừa hít một hơi, làn khói mỏng thoát ra từ miệng; tay phải ông cầm bút chì đang đánh dấu những ký hiệu tròn vuông trên tờ giấy vẽ; lúc này cha đang tập trung cao độ vào công việc, công việc thật nhàm chán và vô vị, đến bữa trưa cũng không xong, chiều lại tiếp tục như thế, phải làm liền mấy ngày, thật chẳng có ý nghĩa gì.”
Lại đổi sang “đề tài” khác, anh nghĩ: “Các bạn đang trong giờ học. Bây giờ là tiết thứ hai, thầy giáo dạy toán đang giảng bài trên bục, dạy về kiến thức kế toán – cách ghi sổ, phương pháp kế toán kép, mở những tài khoản nào, sổ cái bên trái ghi thu, bên phải ghi chi phải cân đối, sổ cái phải khớp với sổ nhật ký. Thứ này cũng tẻ nhạt vô cùng. Các bạn đều ngồi tại chỗ, duy chỉ có chỗ ngồi của ta trống không. Các bạn chẳng mấy chú tâm nghe giảng, nhất là mấy đứa bạn thân của ta, chúng nhìn chỗ ngồi trống mà nghĩ: ‘Thằng này trốn được cảnh khổ này là may đấy, mau hết giờ thôi, chán quá rồi.’ Hết giờ, chúng sẽ ‘ùa’ ra sân trường, đuổi bắt nhau, xả hết bản tính hoang dã. Thoải mái, thật thoải mái. Nhưng lăn lộn nhảy nhót như thế rồi thì sao? Cũng chẳng có gì hay ho.” Nghĩ đến đây, anh lại dừng lại.

Lần này, Vương Lực Bình bắt đầu lật từng trang sách trong tâm trí, đó là cuốn sách “Ngữ Văn”, bắt đầu từ bài học đầu tiên: Vạn Lý Trường Thành – bức tranh hùng vĩ, tráng lệ, ngôn từ trau chuốt. Đứng trên đỉnh núi, nhìn xa Trường Thành tựa một con rồng dài không thấy đầu đuôi, uốn lượn quanh những dãy núi trùng điệp. Tường thành được xây bằng đá lớn và gạch nung, men theo sống núi, cao hàng mét, khí thế hùng dũng. Nó kết tinh biết bao mồ hôi và trí tuệ của nhân dân lao động, là biểu tượng của dân tộc Trung Hoa. Tuyệt, thật tuyệt vời. “Một ngày nào đó, ta sẽ đặt chân lên Trường Thành, đứng trên tường thành đó, ngắm nhìn non sông hùng vĩ của Tổ quốc, cảm nhận niềm tự hào là người Trung Quốc!”

Hoạt động “cấu tứ” này của Vương Lực Bình giúp trí tuệ anh tiến bộ vượt bậc, thân tâm đều được lợi ích. Căn phòng nhỏ tối om này giờ đây không còn là chiếc lồng giam hãm con người như trước kia nữa, về không gian lẫn thời gian, nó đã hòa làm một với thế giới bên ngoài thành một tổng thể khổng lồ. Tư duy của anh thỏa sức bay lượn trong không gian và thời gian vô biên vô tận. Những con người, sự việc, vật thể mà anh “thấy” đều rất cụ thể, chân thực, sống động, đây là một thế giới tràn đầy sức sống. Trong thế giới ấy, anh không còn cảm thấy cô đơn, không còn thấy thời gian trôi qua một cách nặng nề, anh có vô vàn việc để “làm”.

Trong căn phòng tối nhỏ này, việc bị đói là chuyện thường ngày. Trong khoảng thời gian “sám hối”, ba vị lão đạo không gọi Vương Lực Bình đi ăn. Nhưng đột nhiên lúc nào đó, một vật gì đó từ đâu ném vào, Vương Lực Bình có thể đoán được qua tiếng động đó là thứ gì: đôi khi là hòn đá, có lẽ các lão đạo đang trêu đùa anh; đôi khi là chiếc bánh bao, anh mò mẫm nhặt lên, ăn ngấu nghiến.

Bị rét trong căn phòng nhỏ cũng là chuyện thường. Mùa thu vùng Đông Bắc đã khá lạnh, đặc biệt ban đêm càng giá buốt. Thông qua sự thay đổi của nhiệt độ và cảm nhận cơ thể, Vương Lực Bình dần dần “cấu tứ” được thời gian hiện tại là ban ngày hay ban đêm, sau này còn phân biệt được sáng sớm, trưa, hoàng hôn, nửa đêm.

Căn phòng tối vốn là nơi thợ rèn rèn sắt, giờ đây trở thành nơi ba vị lão đạo rèn luyện Vương Lực Bình. Tục ngữ có câu: “Trăm lần rèn mới thành thép”. Con người cũng vậy, không trải qua rèn luyện gian khổ thì không thể thành tài. Theo quan niệm Đạo gia, muốn trở thành chân nhân, căn cơ tiên thiên tuy quan trọng, nhưng sự mài giũa hậu thiên càng quan trọng hơn, ngoài ra không có con đường tắt nào khác.

Sau hai tháng bị giam trong phòng tối, Vương Lực Bình đã bước đầu ngộ Đạo. Ba vị lão đạo thấy tâm chí cậu kiên định, không lay chuyển, quyết định chính thức thu nhận làm đệ tử, chọn ngày lành tổ chức đại lễ.

Hôm ấy đúng là ngày Hoàng Đạo cát tường. Bầu trời trong xanh như được gột rửa, vầng trăng tròn treo lơ lửng ở phương Đông, tỏa ánh sáng dịu dàng khắp nhân gian. Gió nhẹ lướt qua, vài áng mây bồng bềnh trôi chậm rãi. Người dân sau một ngày lao động đã dần chìm vào giấc ngủ. Dãy núi xa xăm dưới ánh trăng chỉ phác họa những đường nét u tối, tựa đám lính canh hùng vĩ đứng im phăng phắc. Những ruộng ngô, lúa, đậu lặng yên đứng đó, thỉnh thoảng nghe tiếng lá xào xạc trong gió, nhưng chẳng còn thấy rõ màu xanh, vàng, đỏ rực rỡ như dưới nắng ban ngày. Đất trời chìm trong tĩnh lặng. Duy chỉ có trước xưởng rèn cũ kỹ, ba lão đạo và một chàng trai trẻ vẫn thức, dưới ánh trăng thiêng liêng đang cử hành một nghi thức trang trọng: ba vị lão đạo chính thức nhận Vương Lực Bình làm truyền nhân đời thứ 18 của Long Môn phái Đạo giáo.

Nghi lễ do Trương Hợp Đạo – truyền nhân đời thứ 16 – chủ trì. Cả bốn người đều đã tẩy trần tịnh thân. Ba vị lão đạo khoác đạo phục, tay cầm bảo kiếm. Bốn người xếp hàng theo thứ tự vai vế. Hương trầm tỏa khói, làn khói thanh khiết lượn lờ. Trương Hợp Đạo dẫn hai đồ đệ và Vương Lực Bình quỳ hướng Nam, tế trời đất trước, sau đó tế liệt tổ Đạo giáo. Lễ tế xong, mọi người đứng dậy, ba lão đạo ngồi xếp bằng theo thứ tự, bảo Vương Lực Bình hành đại lễ bái sư để định rõ thân phận thầy trò. Trương Hợp Đạo là truyền nhân đời thứ 16, làm sư gia của Vương Lực Bình; Vương Giáo Minh và Giả Giáo Nghĩa thuộc đời thứ 17, làm sư phụ của cậu; Vương Lực Bình là truyền nhân đời thứ 18. Theo bài phái 《Bách Tự Phái》 của Long Môn hậu duệ, Vương Lực Bình thuộc chữ “Vĩnh” đời thứ 18. Trương Hợp Đạo ban cho cậu đạo hiệu “Vĩnh Sinh”, pháp danh “Linh Linh Tử”. Sau đó, Trương Hợp Đạo giảng giải giới luật Đạo giáo, Vương Lực Bình lập lời thề trời đất, khắc ghi trong lòng, thân hành thực tiễn, tôn sư trọng đạo, tận tâm tận lực.

Lễ thành, Trương Hợp Đạo bảo Vương Lực Bình ngồi xuống, nhân lúc này truyền giảng tinh hoa Đạo giáo. Trương Hợp Đạo nói:

“Tiên Thiên Đại Đạo vô hình vô tượng, vô thủy vô chung, không thể dùng lời diễn tả. Gượng gọi chữ ‘Đạo’, hàm chứa huyền nghĩa thâm sâu. Chữ ‘Đạo 道’ này, trước viết hai chấm – trái là Thái Dương, phải là Thái Âm, tựa Thái Cực âm dương ôm ấp. Hai chấm ấy, trên trời là nhật nguyệt, dưới đất là thủy hỏa, nơi người là đôi mắt, lúc tu luyện tựa ánh sáng phản chiếu. Dưới hai chấm viết chữ ‘nhất’ – chữ ‘nhất’ tượng trưng cho vạn vật. Tiếp đến viết chữ ‘tự’ (自) – tức bản thân, ý nói thiên địa nhật nguyệt vạn vật đều quy tụ nơi thân, Đạo không rời khỏi tự thân. Trên dưới hợp thành chữ ‘thủ’ (首) – tức cái đầu, ngụ ý tu Đạo là việc trọng yếu bậc nhất. Cuối cùng viết chữ ‘tẩu’ (辶) – tẩu nghĩa là đi, khiến pháp luân trong người tự xoay, Đạo hành nơi thân, Đạo hành khắp thiên hạ. Đó chính là ý nghĩa của chữ ‘Đạo’.”

Trương Hợp Đạo dừng lời, im lặng giây lát. Ánh trăng đổ thẳng xuống, ông ngồi xếp bằng bất động như tượng thần, tiếp tục giảng giải:

“Đạo giáo Trung Hoa ta do Thái Thượng Lão Quân sáng lập, tinh hoa giáo nghĩa đều quy về chữ ‘Đạo’. Phép đắc Đạo lấy tĩnh làm gốc. Diệu lý của chữ ‘Tĩnh’ vô cùng vô tận. Trên có thể tham dự hóa công tạo vật, dưới có thể bao trùm vạn tượng, thiên địa nhân đều nằm trong đó. Người đời tuy nói đến tĩnh, nhưng chẳng thể thực sự nhập tĩnh, bởi chưa tìm được nguồn cội của tĩnh. Gốc của tĩnh nằm ở chỗ không, vạn vật biến hóa chỉ là trạng thái tạm thời, rốt cuộc trở về hư vô, quy về không. Tâm người không tĩnh ắt do dục niệm chưa trừ, đây là ma chướng lớn trong tu luyện. Tư dục nổi lên, thần tiên thiên bị nhiễu loạn, khí tiên thiên bị ngưng trệ, tu luyện uổng công. Diệt trừ tư dục, thân tâm nhập tĩnh, thì khí tiên thiên thăng hoa, thần tiên thiên sinh trưởng. Cửa vào tĩnh nằm ở chỗ chặt đứt tạp niệm tư dục, dọn đường cho thần khí tiên thiên phát triển. Lý ‘diệt kia sinh đây’ này, cái động lớn của tĩnh dừng ở chỗ chí thiện, không gì hơn được tĩnh. Vạn vật động bên ngoài, tâm ta bất động, chẳng biết nguyên do. Đợi đến khi tinh, khí, thần tiên thiên đầy đủ, tĩnh cực sinh động, ngoại động tất cảm ứng nội tâm, tự nhiên hiểu rõ nguyên do. Trường sinh của người cũng ở đường này. ‘Vĩnh Sinh’ đồ nhi, đã vào cửa Đạo, nên ngộ lý này, siêng năng ứng dụng, công phu tự nhiên tinh tiến.”

Nói xong, Trương Hợp Đạo đạp mạnh hai chân đứng thẳng, phất tay xuống dưới, nói:
“Mọi người hãy đứng dậy, giờ Tý đã hết, đi nghỉ ngơi đi.”

Vương Lực Bình nghe say sưa, vẫn đang ngẫm nghĩ lời chân ngôn của sư gia, thấy sư gia và sư phụ đều đứng lên, vội vàng đứng dậy, thi lễ với ba vị lão đạo, rồi theo sau họ vào nhà nghỉ ngơi.

Sáng hôm sau, cả bốn người đều dậy sớm. Ba vị sư phụ dạy Vĩnh Sinh tập luyện quyền cước một hồi, ăn sáng qua loa. Vô Cực đạo nhân và Thanh Hư đạo nhân xuống núi, chỉ còn Thanh Tĩnh đạo nhân và Vĩnh Sinh ở lại nơi ở.

Thanh Tĩnh đạo nhân Vương Tái Minh từng giữ chức giáo dục tại Hoàng Phố quân hiệu, nội công ngoại công đều thượng thừa, tính tình hào sảng nhưng nóng nảy, yêu cầu cực nghiêm với đồ đệ. Lúc này, ông gọi Vương Lực Bình đến trước mặt, nói: “Vĩnh Sinh, từ hôm nay bắt đầu bài mới. Qua xong cửa ải thứ nhất 《Hối Quá》, tiếp đến qua ải thứ hai: học xếp bằng trong phòng tối. Long Môn phái tu luyện coi trọng nền tảng vững chắc, để tạo căn cơ kiên cố cho về sau. Công phu xếp bằng này là bước đầu buộc phải luyện, luyện suốt đời. Dù tu đến đâu cũng không thể thiếu. Luyện thành thục, lợi ích vô cùng. Xếp bằng có ba loại: Tự nhiên bàn (còn gọi tản bàn), Đơn bàn (đặt một chân lên đùi kia), Song bàn (hai chân đều đặt lên đùi). Tự nhiên bàn là Địa, Đơn bàn là Nhân, Song bàn là Thiên. Thêm các thủ thức khác, tư thế xếp bằng biến hóa vô cùng. Hôm nay chỉ giảng Tự nhiên bàn. Khi ngồi, thân trên thẳng, mắt nhìn ngang, dần thu thần quang. Lưỡi chạm hàm trên, môi khép, răng trên dưới khẽ chạm. Hai tay đặt trên gối, lòng bàn tay úp. Tập trung tinh thần, dứt bỏ mọi tạp niệm. Trong phòng tối ít nhiễu loạn, thuận lợi luyện công. Con hãy đi đi.” Lời Thanh Tĩnh đạo nhân giống tính cách ông: dứt khoát, gọn gàng. Nói xong, ông nhìn thẳng Vương Lực Bình, Lực Bình hiểu ý – đây là mệnh lệnh sư phụ, không thể kháng cự, chỉ đành tuân theo.

Vương Lực Bình trước tiên ôm một đống cỏ khô vào phòng tối, trải đều lên sàn, tự đóng cửa lại, ngồi xếp bằng trên cỏ tập luyện. May thay sư phụ không yêu cầu gì thêm, để cậu tự do, lại nhờ thân thể thiếu niên còn đang phát triển, xương cốt mềm dẻo nên ba cách xếp bằng đều thực hiện được, chỉ là không duy trì được lâu. Lực Bình đã “tu luyện” trong phòng tối hai tháng, chưa thể nói là nhập tĩnh, nhưng đã thích nghi hoàn toàn với môi trường. Hôm ấy ngồi xếp bằng, dù bị gián đoạn nhiều lần, cậu vẫn kiên trì hoàn thành, thu được nhiều trải nghiệm. Qua vài ngày, công phu xếp bằng đã tiến bộ rõ rệt.

Một hôm, Thanh Tĩnh đạo nhân gọi Vương Lực Bình đến hỏi về kết quả luyện tập. Lực Bình kể lại quá trình và cảm nhận chi tiết, cuối cùng thưa: “Chỉ có điều tạp niệm trong đầu không dứt được, không tĩnh tâm nổi, mong sư phụ chỉ dạy phương pháp.”

Thanh Tĩnh đạo nhân đợi sẵn câu này, liền nói: “Phải rồi. Phép trừ tạp niệm, trước hết dùng phán đoán để xử lý. Tạp niệm vừa khởi, lập tức đưa ra phán đoán: hoặc nói ‘đúng’, hoặc ‘sai’, hoặc ‘dừng lại đây’. Giữ vững phán đoán, không để tư duy lan man, tạp niệm tự tiêu tan, từ đó nhập tĩnh.”

Vương Lực Bình trở về phòng tối, ngồi xếp bằng điều chỉnh thân tâm, tĩnh tọa. Mỗi khi tạp niệm ập đến, cậu liền dùng phương pháp sư phụ dạy để loại bỏ. Lặp lại nhiều lần đều hiệu quả. Hơn nữa, cậu thiếu niên mười ba tuổi này chưa vướng nhiều thế sự, dục vọng ít ỏi, tâm tính thuần phác hơn người thường nên tạp niệm dễ trừ. Lực Bình trong lòng vui mừng. Qua vài ngày rèn luyện, tạp niệm ngày một ít dần, dần phai nhạt, công phu nhập tĩnh tăng tiến.

Sau bốn mươi chín ngày xếp bằng trong phòng tối, Vương Lực Bình đã tích lũy được kinh nghiệm tĩnh tọa, học được chút công phu. Đến lúc này, công phu 《Hối Quá》 đã học gần xong, “bản tính hoang dã” phần lớn được thuần hóa. Nhìn cử chỉ, lời nói hằng ngày của cậu đã toát lên phong thái đạo đồng, vài tháng ngắn ngủi như hóa thân thành con người khác. Để không bỏ bê học vấn, ban ngày cậu vẫn đến trường, tan học liền về chỗ sư phụ luyện công, cả đạo nghiệp lẫn học nghiệp đều tiến bộ. Ban đầu cha mẹ Lực Bình lo lắng về sự thay đổi của con, sau tìm hiểu kỹ nguyên do, biết ba vị lão đạo nhân phẩm cao thượng, vừa chữa bệnh vừa dạy công phu, dẫn dắt con mình vào chính đạo, nên yên tâm, vui mừng khôn xiết.

Sau bốn mươi chín ngày xếp bằng trong phòng tối, sư gia và hai vị sư phụ đều có mặt, gọi Lực Bình đến trước mặt. Thanh Tĩnh đạo nhân lên tiếng: “Vĩnh Sinh, từ hôm nay bắt đầu bài mới. Con sẽ ngồi song bàn trong phòng này, mỗi lần hai thời thần (4 tiếng), luyện xong mới được về nhà.”

Vương Lực Bình nghĩ thầm: “Có gì khó đâu? Bốn mươi chín ngày còn qua được, hai thời thần này chẳng nhằm nhò gì. Sư phụ lại thử ta đây, cứ làm cho các ngài xem!” Cậu leo lên giường, đối diện sư phụ xếp chân song bàn, chỉnh tư thế, nhắm mắt tĩnh tọa. Quả thực Lực Bình đã có chút căn cơ, ngồi xếp bằng ra dáng lắm. Hai thời thần tương đương bốn tiếng đồng hồ, bằng nửa ngày làm việc. Người thường ngồi văn phòng nửa ngày còn phải thay đổi tư thế, vận động đôi chút. Huống chi đứa trẻ mười mấy tuổi phải ngồi song bàn suốt bốn tiếng – độ khó có thể tưởng tượng.

Một tiếng trôi qua, Vương Lực Bình bất động như tượng đá. Thêm một tiếng nữa, cậu vẫn kiên trì. Nhưng từ lúc này mới thật sự thử thách. “Chưa hết giờ sao? Cố lên, các sư phụ đang theo dõi. Nhất định phải chịu đựng.” Thời gian chậm rãi trôi từng giây. “Người thế nào rồi? Chân bắt đầu tê như thuở mới tập, đùi căng đau, xương ngồi còn chống đỡ được, lưng thẳng không sao. Giờ thì không ổn rồi: xương ngồi đau nhói, lưng mỏi nhừ, mồ hôi túa ra. Cố lên! Không ổn rồi, mồ hôi đầm đìa, đầu choáng váng…” Vương Lực Bình cuối cùng đổ gục xuống giường.

“Ngồi thẳng lên!” Vương Giáo Minh hét lệnh như huấn luyện quân đội.

Vương Lực Bình tỉnh táo lại, ngồi dậy nhưng chân tê cứng không xếp được. “Chỉnh lại tư thế song bàn!” Vương Giáo Minh ra lệnh tiếp.

Hai chân Lực Bình không nghe lời, thần sắc đờ đẫn. Hai sư phụ bước tới dùng dây trói chặt tay chân cậu, cố định tư thế bắt tiếp tục ngồi. Vương Lực Bình tuy nhỏ nhưng chí bền, nước mắt ngấn trong mắt không để rơi, nghiến răng chịu đựng.

“Nỗi khổ ấy thấu xương!” Khi được phỏng vấn, ông Vương Lực Bình nhớ lại đoạn này vô cùng cảm khái. Ánh mắt ông lấp lánh lệ. Nỗi cảm khái ấy chất chứa lòng biết ơn vô hạn với ba vị lão đạo – không có những vị sư phụ nghiêm khắc như cha, sẽ không có “Linh Linh Tử” ngày nay. Những giọt lệ ấy cũng hàm chứa chút “oán hận” với các ngài: những lão nhân từng dịu dàng như cha hiền, lại dùng thủ đoạn tàn nhẫn đến mức độ ấy để rèn luyện đứa trẻ non nớt chưa từng trải gió sương.

Ông Vương Lực Bình xúc động thật lòng, chìm đắm trong hồi ức. “Mười mấy năm rèn công học Đạo, chuyện như thế nhiều không kể xiết. Nhưng ba vị lão nhân ấy thật sự tốt! Giờ đây mỗi năm tôi lên núi Lão Sơn, sư phụ Vương Giáo Minh đã tiên thoát, sư gia và sư phụ Giả Giáo Nghĩa vẫn còn tại thế. Mỗi lần gặp lại, cái tình thân thiết ấy không sao tả nổi, vẫn như xưa, ôm tôi như đứa trẻ, hôn mãi không thôi. Thầy trò ngày nay đâu có tình cảm như vậy! Mỗi lần từ núi về, tôi đều ốm một trận, thân thể cần điều dưỡng. Cái cảm giác ấy thật khó chịu vô cùng.” Khi nghe Vương Lực Bình kể lại và ghi chép lại cuốn sách này, người chấp bút không khỏi xúc động sâu sắc trước cảnh tình ấy.

Nhắc lại chuyện xưa. Sau nửa năm rèn luyện khắc nghiệt, Vương Lực Bình cuối cùng đã vượt qua ải 《Hối Quá》. Cậu đã có thể tĩnh tọa suốt ngày đêm, thân định tâm an, không bị ngoại cảnh quấy nhiễu.

Chương 3 – Tụ Tinh Hội Thần

Ông Vương Lực Bình đáp ứng yêu cầu phỏng vấn lần này của chúng tôi, chia toàn bộ quá trình tu luyện hơn mười năm của mình thành chín giai đoạn, liệt kê đề cương chi tiết và kể lại từng giai đoạn. Giờ đây, chúng ta bước vào giai đoạn thứ hai là “Tu tâm dưỡng tính”, vẫn tập trung vào rèn luyện tâm tính nội tại, nhưng cao hơn so với giai đoạn “Hối Quá”, độ khó lớn hơn, yêu cầu nghiêm ngặt hơn, điều kiện bên ngoài khi tu luyện cũng khắc nghiệt hơn, buộc người tu phải tập trung tinh thần, dồn hết tâm trí để cảm nhận những biến đổi vi tế bên trong cơ thể, từ chỗ bình thường sinh ra công năng phi thường.

Lần này, sư phụ đưa Vương Lực Bình đến một hầm ngầm để tu luyện. Không gian trong hầm chật hẹp, tối tăm ẩm thấp, không có không khí trong lành lưu thông, theo lẽ thường là nơi bất lợi cho luyện công. Nhưng ba vị lão đạo đặc biệt chọn một nơi như vậy cho Lực Bình ngồi xếp bằng luyện công, ắt hẳn có lý do sâu xa. Lý do này không chỉ đơn giản là “dùng môi trường khắc nghiệt để rèn luyện con người phi thường” như mọi người thường nghĩ, mà còn ẩn chứa ý nghĩa tích cực hơn. Hầm ngầm sâu dưới đất, tối tăm ẩm ướt, lý ở chỗ nào? Đất thuộc hành Thổ trong Ngũ Hành, hấp thụ địa khí nặng nề. Tối tăm là cực Âm, Âm cực sinh Dương. Ẩm ướt thuộc hành Thủy, nguồn gốc của sự sống. Theo phương vị Bát Quái, Tiên Thiên và Hậu Thiên, Khôn Thổ và Khảm Thủy đều ở phía dưới.

 《Dịch Truyện》: “Chí tai Khôn nguyên, vạn vật tư sinh, nãi thuận thừa thiên. Khôn hậu tái vật, đức hợp vô cương, hàm hoằng quang đại, phẩm vật hàm hanh.”

《Lão Tử》 “Đạo pháp tự nhiên”, sùng bái tĩnh hư thủ trung, đều giống đức Khôn. Khảm tượng Âm bao ngoài, Dương ở giữa, “Dương hãm trong Âm, ngoài hư mà trong thực.” 

《Dịch Truyện》: “Hành hiểm nhi bất thất kỳ tín, duy tâm hanh, nãi dĩ cương trung dã.”

Ba vị lão đạo dùng hầm ngầm để rèn Lực Bình, có phải là vì lý này chăng?

Vương Lực Bình đương nhiên không hiểu ý đồ của sư phụ khi bắt cậu luyện công trong hầm. Cậu nhảy xuống hầm, theo lời dặn của sư phụ, đốt ba nén hương ở bốn góc, khói tỏa nhanh chóng làm đầy căn hầm nhỏ, Lực Bình bắt đầu ngồi xếp bằng luyện công. Ban đầu, cậu còn có thể ngồi yên tĩnh. Nhưng chẳng bao lâu, khói trong hầm ngày càng đặc, cộng thêm hơi ẩm lạnh khiến khói lắng xuống, không khí trở nên ngột ngạt khó thở. “Bản tính hoang dã” của Vương Lực Bình lại không chịu nổi, cậu hét lên trong hầm: “Ngạt chết mất!”, đòi sư phụ thả cậu ra. Vương Giáo Minh đến quở trách, bắt cậu tuân thủ nghiêm ngặt lời dạy, không được ồn ào. Nếu tiếp tục như trước, công phu trước đây sẽ tiêu tan, lại dùng giới luật để răn đe, nếu không tuân theo ắt bị trừng phạt nặng. Vương Lực Bình đành phải nghe lời, làm theo quy định của sư phụ.

Đành rằng cái hầm này nhỏ hẹp, tối tăm, ẩm thấp lại ngột ngạt, ngồi xếp bằng thật khó chịu. “Sư phụ đã khóa cửa rồi,” Vương Lực Bình nghĩ, “họ sẽ không đến đâu. Sao ta không thay đổi tư thế, thả lỏng gân cốt một chút?” Cậu dựa lưng vào vách hầm, giơ hai nắm đấm lên trời, duỗi thẳng hai chân. Đang lúc thích chí, đột nhiên ánh sáng lóe lên, căn hầm chật hẹp bỗng biến hình – không gian mở rộng như đại sảnh, hào quang tỏa khắp, sư gia và hai sư phụ uy nghiêm như tiên nhân hiện ra trước mặt. Sư gia mặt hồng hào, dùng phất trần phẩy nhẹ trước mặt cậu, nghiêm giọng: “Hỗn hào! Kẻ phàm tục như ngươi dám giở trò trước mặt ta, sao lừa được? Ngươi đã thề thốt làm đồ đệ, dù thầy có mặt hay không, phải tự giác. Đạo pháp truyền dạy, quan trọng ở bản thân khổ luyện. Tâm còn chứa tam độc lục tặc, không dứt sạch, thu tâm dưỡng tính, làm sao đắc Đạo?” Dứt lời, ngài khép mắt. Một sư phụ giơ thước quở lên nhưng không đánh, người kia lắc dây thừng rồi dừng lại. Cả hai quát: “Lừa Trời dối Đạo, kẻ bất chính!” Vương Lực Bình vội quỳ xuống, nước mắt giàn dụa: “Đệ tử biết lỗi, sau này không dám nữa!” Ngẩng đầu lên, cảnh tượng biến mất, hầm vẫn chật hẹp, tối tăm. Bỗng thấy lòng bàn tay đau nhói, chân tay đã bị trói chặt, mới biết sư gia và sư phụ dùng phép trừng phạt. Lực Bình hổ thẹn vô cùng, nhận ra công lực thâm hậu của các ngài, cũng hiểu tâm mình chưa tịnh, còn xa Đạo, từ đó không dám khởi vọng niệm, chỉ chuyên tâm tu luyện “thu tâm dưỡng tính”, “tĩnh hư thủ trung”.

Khi Vương Lực Bình đã ngồi xếp bằng được hai thời thần trong hầm khói, sư gia và sư phụ bắt đầu truyền dạy 《Cổ Điển Linh Bảo Thông Trí Năng Nội Công Thuật》 của Toàn Chân Long Môn phái. Vừa nghe giảng vừa thực hành, công phu cậu dần nhập chân Đạo.

“Cổ Điển Linh Bảo Thông Trí Năng Nội Công Thuật” là một trong những nội công pháp cổ của Đạo gia, lấy tôn chỉ “sống chết quân tử trước, an lạc trường thọ sau”, đặc điểm là động tĩnh kết hợp, tu tính lẫn mệnh, thủ pháp đa dạng, dễ thực hành, tạo thành hệ thống tu luyện chặt chẽ. Pháp này lưu truyền nội bộ, chỉ truyền khẩu từ thầy sang trò, bí mật không tiết lộ. Việc Vương Lực Bình được học từ sư gia và sư phụ là phúc phần hiếm có trong hàng vạn người.

Linh Bảo Thông Trí Năng Nội Công Thuật chia làm “Tam Công” và “Cửu Pháp”. “Tam Công” gồm:

  • “Tam Tiên Công”: Tĩnh tọa công.
  • “Bình Hành Công”: Động công ngoại luyện.
  • “Thụy Công”: Công phu lúc nghỉ ngơi.

“Cửu Pháp” bao gồm:

  1. Trí Năng Pháp: Phương pháp khai mở trí tuệ.
  2. Đoạn Tật Pháp: Đoạn trừ bệnh tật.
  3. Trị Tật Pháp: Chữa trị bệnh.
  4. Truyền Linh Pháp: Truyền dẫn linh lực (kiêm chức năng chế ngự đối phương).
  5. Định Tâm Pháp: Ổn định tâm thần.
  6. Định Quân Sinh Tử Pháp: Xác định sinh tử.
  7. Cầu Tiên Pháp: Cầu đạo thành tiên.
  8. Đoạn Hồn Pháp: Đoạn tuyệt hồn phách.
  9. Thừa Tượng Pháp: Tiếp nhận thiên tượng.

Trong đó, bốn pháp đầu thuộc “giúp người vui vẻ”, năm pháp sau là “chế ngự” và “khống chế” người khác. Pháp thứ tư “Truyền Linh Pháp” còn có công năng khống chế.

Hôm ấy, sư gia và sư phụ gọi Lực Bình đến, giảng giải từ cạn đến sâu về “Trí Năng Pháp” – pháp đầu tiên của “Linh Bảo Thông”.

Vô Cực đạo nhân Trương Hợp Đạo nói: “Trí Năng Pháp” thuộc tĩnh công, lấy xếp bằng làm chủ để tu luyện. Vĩnh Sinh, con đã nắm cơ bản xếp bằng, giờ có thể tu pháp này. “Trí Năng Pháp” chia chín bước:

  1. Hồi Anh Ức Vọng (Quay về thời ấu thơ, nhìn lại quá khứ).
  2. Chân Giả Phân Minh (Phân biệt thật giả).
  3. Thần Chí Thanh Thanh (Tâm thần trong sáng).
  4. Tri Ngã Tiền Trình (Biết trước cuộc đời mình).
  5. Đình Thực Cầu Sinh (Ngừng ăn để cầu sống).
  6. Trọng Hoán Tân Y (Thay đổi áo mới).
  7. Khán Phá Thiên Cơ (Thấu hiểu thiên cơ).
  8. Hồi Hoàn Bách Thế (Xoay vòng trăm kiếp).
  9. Đăng Nguyệt Vọng Hành (Lên trăng dạo bước).

Hôm nay, con bắt đầu luyện bước đầu tiên: Hồi Anh Ức Vọng.” Vương Lực Bình thầm khen: “Kiến thức uyên thâm thế này, không trách sư phụ bắt ta luyện tĩnh tọa lâu đến vậy. Phần tinh túy thật sự nằm ở đằng sau!”

Thanh Hư đạo nhân Giả Giáo Nghĩa tiếp lời: “Khi xếp bằng nhập tĩnh, tạp niệm đã trừ, tĩnh cực sinh động, lúc này não bộ bắt đầu xuất hiện ảo giác. Nhắm mắt lại, con sẽ thấy cảnh tượng chân thực: chim bay trên trời, thú chạy nhảy dưới đất, cây cỏ mọc trên đồng, người đang làm việc. Những cảnh ấy không phải ảo, mà là não phục hiện những hình ảnh thực từng thấy – đó là hồi ức. Người thường nhớ lại quá khứ không thể thấy rõ hình ảnh, nhưng khi công phu nhập tĩnh đã thành, con sẽ ‘thấy’ rõ trong tâm. Dần dần, con còn thấy những sự rất xưa mà trí nhớ bình thường không thể nhớ nổi. Những sự này có thể lùi dần về thời thơ ấu, vì tư duy con đảo ngược. Đây gọi là 《Hồi Anh Ức Vọng》 – tư duy quay về, gọi là ‘ức’ nhưng thực là ‘vọng’ (nhìn rõ hình ảnh). Khi hiện tượng này xảy ra, đừng sợ, hãy để nó biến đổi, nhưng phải quan sát kỹ, đừng lơ là bỏ qua. Giờ con hãy vào hầm xếp bằng, tĩnh tâm xem điều gì xuất hiện.”

Vương Lực Bình trở lại địa đạo, một mình đóng cửa lại, thắp ba nén hương, làn khói nhẹ bay lên từ từ. Lực Bình ngồi xếp bằng trên đệm cỏ, dần nhập định. Quả nhiên địa đạo này phong thủy rất tốt, sau nhiều ngày tu luyện, chàng đã cảm nhận được lợi ích khi luyện công nơi đây. Khói hương không còn gây ngạt nữa mà mang một vẻ huyền diệu khác. Ngồi một lúc, Lực Bình cảm thấy toàn thân nhẹ bẫng, đầu óc trống rỗng. Rồi đột nhiên, hình ảnh hiện lên trong tâm trí. Lần này khác hẳn lần trước trong căn phòng tối khi chủ động “tưởng tượng”, giờ đây mọi thứ hiện ra tự nhiên, rõ ràng như thật, từng chi tiết sống động. Theo lời sư phụ, chàng không sợ hãi, tập trung quan sát kỹ lưỡng cách cảnh tượng hiển hiện, biến hóa, ghi nhớ từng diễn biến. Lực Bình không ngờ không gian và thời gian lại có thể biến đổi kỳ lạ đến thế: không gian xoay chuyển, thời gian đảo ngược. Trong trạng thái tĩnh tọa, chàng đã trải nghiệm cảnh giới “hồi anh ức vọng”. Chàng không biết thời gian thực tế đã trôi qua bao lâu, chỉ đến khi hình ảnh trong đầu nhạt dần rồi biến mất, chàng mới thu công, bước ra khỏi địa đạo. Bên ngoài trời đã khuya, hóa ra một lần tọa thiền lại kéo dài hai canh giờ. Những gì chàng “thấy” trong trạng thái “hồi anh ức vọng” vô cùng chân thực, như đã đi qua nhiều nơi, trải nghiệm hàng năm trời.

Lực Bình kể lại cảnh tượng nội quan lần này với ba vị lão sư. Ba vị biết đồ đệ này căn cơ cao, tâm thành, nhập đạo nhanh nên đều vui mừng, ân cần dặn dò: “Tiếp tục tu trì, nhất định phải củng cố tâm tính.”

Từ đó về sau, Vương Lực Bình càng chuyên tâm học đạo. Một hôm, chàng như thường lệ vào địa đạo ngồi thiền. Vừa nhập định không lâu, khi nội thị, chàng bỗng thấy rõ mồn một toàn bộ cơ thể mình từ ngoài vào trong. Tâm tính thuần khiết của tuổi trẻ khiến chàng không sợ hãi, chỉ cảm thấy kỳ lạ, bình tĩnh quan sát tỉ mỉ. Sau khi thu công, Lực Bình lại kể chuyện nội quan lần này với ba vị lão sư. Ba vị nhìn nhau ánh mắt giao hội, mỉm cười không nói. Lực Bình lĩnh hội ý tứ, biết ẩn chứa đạo lý sâu xa, liền cung kính thỉnh giáo sư phụ.

Thanh Hư đạo nhân cười nói: “Đồ nhi Vĩnh Sinh, tĩnh tọa của ngươi lại tiến bộ. Giờ đã bước vào bước thứ hai của ‘Trí Năng Pháp’, gọi là ‘Chân Giả Phân Minh’. Sau khi nhập tĩnh, nội thị thân thể, dù nhắm mắt trong bóng tối, vẫn thấy rõ ràng từng chi tiết bên trong. Lúc này, ngươi chớ kinh ngạc, chớ sợ hãi, chớ động tác, phải thật tập trung quan sát, phân biệt. Xem xương cốt trong người có bao nhiêu khúc? Hình dáng ra sao? Kết nối thế nào? Tạng phủ hình thù thế nào? Màu sắc gì? Có vết đốm không? Phải xem cho thấu đáo, nhớ kỹ để sau này ứng dụng. Công phu này là nền tảng để chẩn bệnh, trị bệnh. Bề ngoài người ta có vẻ khỏe mạnh, nhưng nhìn vào nội tạng mới biết có bệnh hay không, bệnh ở đâu. Bước này gọi là ‘Chân Giả Phân Minh’. Nay ngươi đã vào cảnh giới này, hãy tiếp tục luyện tập, quan sát kỹ cấu trúc thân thể, ghi nhớ từng chi tiết.”

Vô Cực đạo nhân trầm ngâm một lát, tiếp lời: “Sau khi hoàn thành hai bước này, nền tảng nội công của ngươi đã vững, cần hiểu thêm đạo lý tu luyện nội công của cổ nhân. Tu luyện nội công bao gồm cả ‘tính’ và ‘mệnh’. Tu ‘tính’ là rèn luyện thần, hồn, chí, linh, tĩnh, định; tu ‘mệnh’ là rèn luyện khí, huyết, tinh, gân, xương, da. Phép tu phối hợp tĩnh và động, có thứ tự, độ lượng, thuận theo tự nhiên, linh hoạt biến hóa. Dưỡng sinh Long Môn bắt nguồn từ Bành lão, lấy âm dương làm phép, hòa hợp thuật số. Âm dương là đạo thường của trời đất; thuật số là đại luân bảo sinh. Linh Thất nội công bao hàm tương quan thiên – địa – nhân, lấy âm dương, ngũ hành, bát quái bên ngoài phối hợp với âm dương, ngũ hành, bát quái bên trong mà tu luyện. Đây là căn bản của lập tính – lập mệnh, tu tính – tu mệnh. Trời đất và con người đều là một vũ trụ, con người là tiểu vũ trụ. Biến hóa của đại vũ trụ không gì không ảnh hưởng đến tiểu vũ trụ, biến hóa của tiểu vũ trụ không gì không ứng với đại vũ trụ. Dựa vào chu kỳ mặt trăng quay quanh đất mà tu luyện tiểu chu thiên, vượt Tam Quan, phá Thiên Môn, mở Thiên Mục, hạ Tam Điền. Thiên Mục huyệt mở, liền có thể nội thị. Thiên Mục huyệt gồm ba điểm một đường, từ ngoài vào trong, hợp thành Thượng Đan. ‘Huyệt’ ở giữa lông mày, ‘Mục’ nằm bên trong, gọi là ‘Nê Hoàn’, ‘Thiên’ ở phía sau, còn gọi ‘Thiên Kính’. Huyệt vốn thường mở, nhưng ‘Mục’ cần tu luyện, ‘Thiên’ vốn có từ tiên thiên. Huyệt mở không thấy vật, Mục hợp lại thấy được, thông thiên phản quang. Nay Thiên Mục huyệt của ngươi đã mở, có thể nội thị, đó là do phối hợp nhật nguyệt vận chuyển mà thành tựu. Sau đó, nội khí phát ra ngoài, sẽ dẫn dụ tiểu động vật đến gần, đó chính là bước thứ ba của ‘Trí Năng Pháp’ – ‘Thần Chí Thanh Thanh’.”

Vô Cực đạo nhân thao thao bất tuyệt giảng giải, khiến Vương Lực Bình chăm chú lắng nghe, sợ bỏ sót một câu, một chữ. Tuy nhiên, nghe thì nghe được, nhưng nhiều điều vẫn không thể nhớ hết, chưa thấu hiểu ngay, đều nhờ Thanh Hư đạo nhân giảng giải tỉ mỉ lại, mới dần hiểu ra và ghi nhớ.

Thanh Hư đạo nhân nói: “Giờ nói trước về ‘Thần Chí Thanh Thanh’ là để phòng ngừa trước, đừng để bị kinh hãi. Dù có chuyện gì xảy ra, nhất định phải giữ thần trí tỉnh táo. Hai bước trước, cảnh tượng hiện ra đều ở trong não, hoặc là nội thị. Đến bước thứ ba này, nội khí phát ra ngoài, những sinh vật nhỏ có linh khí sẽ theo khí mà đến, tập hợp xung quanh ngươi. Lúc này, ngươi tuyệt đối không được cử động, không sợ hãi, không để ý đến chúng, cứ để tự nhiên. Những sinh vật nhỏ này dù đến gần nhưng sẽ không gây hại, khi ngươi thu công, chúng tự khắc rời đi. Chúng thường là chuột, chồn hôi, hoặc các loài chim có lông vũ. Chúng rất thông minh, có linh khí, một số còn biết vái trăng, tiếp nhận tinh hoa nhật nguyệt, tu luyện theo tự nhiên. Chỉ cần ngươi bình thản, không khiêu khích, chúng sẽ không quấy rầy.”

Vương Lực Bình nghe sư phụ giảng đến đây, bất giác nghĩ: “Thế giới này thật kỳ diệu! Không ngờ những sinh vật nhỏ đáng yêu ấy lại có linh khí, chúng cũng biết ‘nghiên cứu’ bí ẩn của tự nhiên, muốn trường sinh bất tử. Thật thú vị!” Từ đó, chàng luyện tập “Chân Giả Phân Minh” một thời gian, hiểu rõ cấu trúc cơ thể, rồi chuyển sang luyện công phát ngoại. Quả nhiên thấy nhiều sinh vật nhỏ tụ tập xung quanh, nằm phục ở khoảng cách gần, như đang nghe chàng kể chuyện thú vị hay hát khúc ca du dương. Vương Lực Bình làm theo lời sư phụ, không để ý đến chúng, giữ “Thần Chí Thanh Thanh”, kiên trì luyện công. Khi thu công, lũ vật nhỏ cũng “rút quân”, đôi bên chẳng làm phiền nhau. Mỗi lần chứng kiến cảnh ấy, chàng đều thấy buồn cười, nhưng trong lòng lại càng thấm thía sự huyền diệu của tự nhiên.

Sau khi hoàn thành ba bước công phu này, sư phụ lại dạy chàng bước thứ tư: “Tri Ngã Tiền Trình”.

“Tri Ngã Tiền Trình” có nghĩa là gì? Đó là trên nền tảng dưỡng tâm tính, không một chút tạp niệm, sau khi đã có công năng nội thị và ngoại phát, giờ cần rèn luyện tư duy ở cấp độ cao hơn một cách có ý thức. Lúc này, tư duy không phải là “tưởng tượng” trong phòng tối như trước, cũng không phải hình ảnh “thấy” được qua nội thị ở bước một, hai của “Trí Năng Pháp”, mà là đặt ra một vấn đề, suy luận hậu quả, đề xuất giải pháp.

“Tri Ngã Tiền Trình” không phải là suy nghĩ lung tung, trước hết phải “đặt đề tài”. Nếu chưa trải qua quá trình luyện tập nhập tĩnh, đầu óc sẽ đầy những suy nghĩ tạp loạn, dù muốn tập trung suy nghĩ một vấn đề cũng rất khó khăn. Sau khi luyện tập nhập tĩnh, những suy nghĩ tạp loạn đã được loại bỏ, năng lực não bộ giờ đây vượt trội gấp mười, trăm, ngàn lần trước đây. Việc “đặt đề tài” ở đây không phải là nhìn về quá khứ mà là hướng đến tương lai, xác định những vấn đề quan trọng trong đời sống thực tế mà phương pháp thông thường khó giải quyết nhưng lại cần phải giải quyết, sau đó tìm kiếm phương pháp giải quyết. Loại hình luyện tập năng lực não bộ hoặc tư duy này được gọi là “biết tiền trình của ta”. “Tiền trình” ở đây chính là những vấn đề cần giải quyết trước mắt, đương nhiên đây mới chỉ là bước đầu. Đối với những dự đoán tiền trình dài hạn và quy mô lớn hơn, cần phải tiếp tục luyện tập thêm. Tuy nhiên, bước đầu tiên của “biết tiền trình của ta” là nền tảng quan trọng cho sự phát triển trong tương lai. Mục đích của “Trí Năng Pháp” là dùng để chữa bệnh cứu người, vì vậy “biết tiền trình của ta” cũng được áp dụng trong việc chữa bệnh cho bệnh nhân. Ban ngày khám bệnh, nếu chưa rõ bệnh tình hoặc chưa nghĩ ra phương pháp chữa trị, đến giờ Tý (khoảng 23h-1h) luyện công, đặt ra vấn đề này, quan sát kỹ bệnh tình để tìm phương án giải quyết.

Vương Lực Bình theo lời sư phụ, từng bước tu luyện, năng lực não bộ tiến bộ vượt bậc, không chỉ vượt xa bạn cùng trang lứa mà ngay cả người lớn cũng không sánh bằng. Việc học tập ở trường đã đành, việc suy nghĩ và giải quyết các vấn đề thực tế trong cuộc sống cũng không làm khó được chàng. Tuy nhiên, Lực Bình vốn thông minh xuất chúng, khi giao tiếp với mọi người luôn vui vẻ hồn nhiên, giấu kín chân công không lộ ra ngoài, nên mọi người chỉ xem chàng như một người bình thường. Trong vai trò một người phàm tục, chàng cũng diễn xuất “chân thành” lắm.

Nói về ba vị lão sư trong việc giáo dục, quả thực họ đã dồn hết tâm huyết, trăm năm dưỡng nhân như vun bồi gốc rễ. Học vấn nội công ngày càng tiến triển, nhưng ngoại công vẫn chưa khai phá. Khi bàn đến chỗ tinh túy của nội ngoại công, đều nhấn mạnh vào “kỷ” và “vi”. “Kỷ” là ẩn vi, tinh tế, là điềm báo của sự việc, là then chốt của mọi chuyện. “Vi” là nhỏ bé, thâm sâu, tinh diệu. “Kinh Dịch” viết: “Dịch là thứ thánh nhân dùng để thâm cứu kỷ vi.” Lại nói: “Quân tử thấy điềm báo liền hành động, không đợi qua ngày.” Lại nói: “Quân tử biết vi biết chương, biết nhu biết cương.” “Lão Tử” nói: “Người xưa giỏi làm chủ, vi diệu huyền thông, sâu không thể lường.” “Quản Tử” viết: “Điều tâm trí suy nghĩ không chỉ biết đến cái thô thiển, mà còn xét đến chỗ vi diệu, nên tu luyện đến chỗ tinh túy.” Nơi chỗ vi diệu, tu luyện tính mệnh. Sai một ly, đi một dặm. Không xét kỷ vi, khó đạt đến cảnh giới hóa thần. Thấu hiểu điều này, sau khi Vương Lực Bình hoàn thành công phu địa đạo, ba vị lão sư lại tiếp tục huấn luyện chàng những bài tập đặc biệt hơn nữa.

Vương Lực Bình bị nhốt vào một chiếc hộp gỗ lớn. Hộp gỗ được chế tác đặc biệt để luyện công, chiều cao vừa bằng thân hình chàng, bốn phía trước sau trái phải hơi rộng rãi nhưng phía trên đóng đầy đinh dài khoảng một tấc. Lực Bình đứng trong hộp không thể cử động, chỉ hơi động đậy là bị đâm. Chưa kể, còn thêm một lớp thử thách: sau khi chàng bước vào hộp, cửa khóa chặt, chàng phải dựa vào công phu tĩnh tọa tu luyện hàng tháng trời để đứng yên trong hộp. Lực Bình nghĩ: “Có gì khó? Dễ hơn ngồi xếp bằng kiểu song liên nhiều!” Không ngờ lúc này, Thanh Tĩnh đạo nhân giật dây kéo chiếc hộp treo lủng lẳng dưới gốc cây lớn, lơ lửng giữa trời đất. Gió thổi cây lay, hộp gỗ đung đưa theo. Lực Bình không ngờ sư phụ còn chiêu này, buộc chàng phải tập trung toàn bộ tinh thần giữ thăng bằng trong hộp để tránh bị đâm. Chàng tỉ mỉ cảm nhận mối quan hệ vi diệu giữa gió động, cây động, hộp động và người động, dần dần nắm được quy luật. Tuy không tốn sức nhưng đòi hỏi sự tập trung cao độ. Cứ thế hơn hai tháng, chàng luyện đến mức chỉ cần gió thoảng cỏ lay cũng cảm nhận được. Đêm xuống hành công trên núi, dù chuột chạy lén lút cách xa vài mét chàng cũng phát hiện.

Ba vị lão sư thấy Lực Bình vượt qua ải này, liền thu nhỏ hộp gỗ hơn, chỉ vừa đủ cho chàng chui vào, không chút khe hở cử động. Để tránh bị đâm, chàng phải điều chỉnh cơ thể như đóng băng trong hộp. Nhưng nhờ công phu tĩnh tọa, tĩnh đứng tích lũy hàng tháng trước, giờ luyện tập chỉ là tinh chỉnh đến mức hoàn hảo. Sau một thời gian, chàng hoàn toàn làm chủ được.

Sư phụ vẫn khéo léo đặt những “cơ quan bí mật” khắp nơi để thử thách khả năng tập trung và khơi gợi linh tính phản ứng nhạy bén của Lực Bình. Một lần, chàng rón rén đến chỗ ở của sư phụ, lén nhìn qua cửa xem thầy đang làm gì. Không ngờ cánh cửa “vù” một tiếng đập mạnh, hất chàng văng ra xa mấy mét, sờ đầu thấy nổi cục u to. Thanh Tĩnh đạo nhân trong phòng cười lớn: “Thằng ngốc, sao lại ngồi thiền ngoài cửa?” Lực Bình bừng tỉnh, biết mình bị lão đạo này chơi khăm, từ đó cẩn trọng hơn.

Lần khác, chàng vào nhà vệ sinh. Trên hố xí có đặt tấm ván để ngồi. Lực Bình như thường lệ định ngồi xuống, bỗng nghe “rầm rập” hai tiếng, người đã rơi tõm xuống hố, toàn thân dính đầy phân. Chàng đang định chửi ầm lên thì nghe tiếng cười giòn tan của ba lão sư vang từ trong nhà. Lực Bình nén giận, nghĩ thầm: “Lại bị mấy lão đạo này hại nữa rồi! Để rồi xem, ta cũng sẽ trả đũa cho các ngươi biết tay!”

Hóa ra đây là kế của Thanh Hư đạo nhân, mục đích rèn Lực Bình luôn giữ cảnh giác cao độ trong sinh hoạt hàng ngày, không được sơ suất dù là chi tiết nhỏ. Sau bài học này, Vương Lực Bình đương nhiên càng thêm đề phòng.

Lại một lần nữa, Lực Bình vào nhà vệ sinh đại tiện. Trên hố xí có đặt một tấm ván để người ta ngồi xổm.

Như thường lệ, Lực Bình vừa định ngồi xuống thì nghe thấy tiếng “rắc rẹt” liên tiếp hai cái, người đã rơi tõm xuống hố phân, toàn thân dính đầy chất thải. Lực Bình đang định chửi ầm lên thì nghe từ trong phòng vọng ra tiếng cười ha hả của ba lão đạo. Lực Bình nén cơn tức trong lòng, nghĩ thầm: “Lại bị mấy ‘lão đạo’ này chơi xỏ rồi! Để ta cũng cho các ngươi nếm mùi đau khổ, xem còn cười được không!”

Hóa ra đây là kế của Thanh Hư đạo nhân, mục đích là rèn luyện Lực Bình, buộc hắn phải luôn cảnh giác cao độ trong sinh hoạt hàng ngày, không được sơ suất dù là chi tiết nhỏ. Sau bài học này, Vương Lực Bình đương nhiên càng thêm cẩn trọng.

Một hôm, Lực Bình tình cờ thấy chiếc đinh gỉ trên tường, liền nảy ra kế. Hắn lấy đinh xuống, khéo léo đặt vào chỗ Thanh Hư đạo nhân thường nằm ngủ. Xong xuôi, hắn giả vờ như không có chuyện gì, bận rộn việc khác, âm thầm chờ “lão đạo” gặp họa để trả thù. Không ngờ, đến tối khi leo lên giường luyện công, chính chiếc đinh ấy lại đâm vào người hắn. Dù tự chuốc khổ nhưng hắn chẳng thể nói ra. Thanh Hư đạo nhân sớm nhìn thấu nỗi khổ không thể thổ lộ của Lực Bình, chỉ nhẹ nhàng nói: “Chàng trai trẻ, cậu còn non lắm!” Lực Bình hiểu ý, đắng cay cười: “Sư phụ thật tàn nhẫn!” Những trò “pháp thuật” nho nhỏ giữa thầy trò đã thêm phần thú vị cho cuộc sống tu đạo.

Giai đoạn tiếp theo là luyện công trong một chiếc vạc lớn. Chiếc vạc được úp ngược, chỉ đủ chỗ cho Vương Lực Bình cúi đầu ngồi xổm bên trong. Trong vạc có hai viên gạch vỡ, sư phụ yêu cầu hắn chỉ được đứng trên đó. Chiếc vạc đặt ngay cạnh hố phân, khe hở bên thành vạc để hở. Lúc này đang giữa mùa hè nóng nực, ánh nắng thiêu đốt khiến chiếc vạc nóng như lửa. Ngồi trong đó, mồ hôi ướt đẫm người, cộng thêm mùi hôi thối từ hố phân, ruồi vo ve, giòi bò lúc nhúc khiến Lực Bình muốn nôn cả ruột gan. Sư phụ dùng phương pháp này để rèn hắn có thể “tĩnh tâm dưỡng tính”, “tập trung tinh thần” trong bất kỳ hoàn cảnh khắc nghiệt nào. Trên ngọn núi hoang vắng ngoại ô này, có lẽ chỉ có hố phân và chiếc vạc là “đạo cụ” luyện công tuyệt nhất. Ba lão đạo quả thật biết tận dụng địa hình, khéo léo sắp đặt nơi luyện tập.

Đang lúc Lực Bình bị ngoại cảnh quấy nhiễu, không thể nhập tĩnh, bỗng nghe thấy tiếng “lạch cạch” trên thành vạc, tiếp theo là giọng trầm hùng của Thanh Tĩnh đạo nhân: “Dứt bỏ tạp niệm, chuyên tâm luyện công!” Một lúc sau, Thanh Tĩnh đạo nhân lại cố tình phá rối, lấy gạch vỡ cọ xát lên thành vạc để thử xem Lực Bình có thể không bị ảnh hưởng. Dường như thấy những chiêu này chưa đủ “độ”, sư phụ múc phân từ hố xối xuống vạc. Mùi hôi càng nồng nặc, giòi bò lúc nhúc chui vào trong. Lần này Lực Bình thật sự không chịu nổi, hét lên: “Xin sư phụ tha cho!” Không xin thì thôi, xin lại càng thêm họa. Thấy Lực Bình vẫn không tĩnh tâm, sư phụ tiếp tục “đổ thêm dầu vào lửa”, dùng gáo hất phân qua khe hở vào người hắn. Chất bẩn bắn đầy mặt mũi, quần áo. Lực Bình biết tính Thanh Tĩnh đạo nhân cực kỳ nghiêm khắc khi luyện tập, xin xỏ chẳng ích gì, đành cắn răng chịu đựng, im thin thít.

Kể từ lần bị nhốt trong phòng tối, chịu cảnh không có chỗ giải quyết nhu cầu, mỗi lần hành động, Vương Lực Bình đều chuẩn bị kỹ càng. Hắn đã có kinh nghiệm xử lý việc này. Nhưng lần này lại gặp phải tình huống tương tự, thật sự không nhịn được nữa, Lực Bình định lật vạc chui ra. Sư phụ thấy động tĩnh trong vạc, liền cầm cành cây chọc vào, khiến hắn bị thương mấy chỗ.

Không ra được, lại không thể nhịn, Lực Bình đành phải giải quyết ngay trong vạc. Sư phụ biết chuyện, mắng hắn làm ô uế nơi luyện công, bắt phải dùng quần áo lau sạch chất thải. Lực Bình hiểu giới luật không thể vi phạm, đã dâng mình cho đạo, đâu dám trái lệnh sư phụ, đành dùng quần áo thấm khô, cọ sạch.

Mấy ngày như vậy, Vương Lực Bình dần thích nghi với hoàn cảnh, sư phụ cũng không còn “quấy rối” hắn luyện công. Quả là thiếu niên phi phàm, hắn lại vượt qua được ải này. Lấy tĩnh chế loạn, chế hôi thối, chế ô uế, thu tâm dưỡng tính, tâm tính hắn càng thêm tinh khiết.

Tiếp theo, ba lão đạo thấy khu nghĩa địa gần đó có thể dùng để luyện công, bèn tận dụng địa hình, thêm vào quá trình “thu tâm dưỡng tính” một nội dung mới: an thần thủ xá.

Ba lão biết, Lực Bình tuy tâm tính thuần chính, lại được rèn luyện càng thêm điềm đạm, nhưng thần hồn chưa từng bị nhiễu loạn, an thì an đấy, chưa thấy vững chắc. Cần dùng pháp thuật rèn luyện để thần hồn hắn an định.

Pháp này người thường khó lòng thực hiện, nên ba lão gọi Lực Bình đến. Vô Cực đạo nhân ôn tồn khuyên bảo: “Đồ nhi nhỏ, nhập đạo tu luyện nhiều năm, công phu đã tiến bộ. Nay muốn truyền thêm công pháp để tăng dũng khí, củng cố thần hồn, ngươi dám nhận không?”

Vương Lực Bình chỉ biết sư phụ truyền công ắt phải học, không rõ công pháp là gì, cũng chẳng suy nghĩ, đáp ngay: “Dám! Có gì không dám?”

Vô Cực đạo nhân cười: “Tốt lắm! Pháp này là đêm đến luyện công một mình trong nghĩa địa, ngươi dám đi không?”

Lực Bình đáp: “Việc này có gì khó?”

Vô Cực đạo nhân thấy tinh thần hắn đáng khen, bèn nói: “Cổ nhân dạy: Tinh thần với hình hài, như nước có quân vương. Thần hồn náo động bên trong, hình hài suy tàn bên ngoài, tựa vua hôn ám trên cao, nước loạn dưới thấp. Bậc quân tử biết hình hài nương tựa thần hồn mà đứng vững, thần hồn cần hình hài để tồn tại. Vậy nên tu tính bảo thần, an tâm toàn thân, hình thần hòa hợp, trong ngoài viên mãn. Người giỏi dưỡng sinh, thanh tĩnh an nhiên, ít tư dục, không để ngoại vật vướng bận, thần khí đầy đặn, khoáng đạt không ưu phiền, tịch tĩnh không vọng niệm, giữ lấy nhất tâm, dưỡng bằng hòa khí. Hòa lý ngày thêm, thuận theo đại đạo. Nay ngươi thu tâm dưỡng tính đã thấy thành tựu, nhưng phần an thần kiện phách vẫn chưa thông suốt. Vì thế, ta truyền thêm công pháp để định thần.”

Lực Bình gật đầu, hiểu đại ý lời sư phụ, chỉ cần làm theo chỉ dẫn của ba lão là được.

Đêm đã khuya, vạn vật chìm vào tĩnh lặng. Nghĩa địa im ắng như chết, không ánh trăng, mây đen che kín bầu trời. Trong khoảng không hoang vắng, chỉ có ba lão đạo và một thiếu niên đang luyện công. Ba lão đã chọn chỗ ngồi riêng. Thanh Tĩnh đạo nhân bảo Vương Lực Bình cũng chọn một chỗ ngồi xếp bằng, luyện công hai canh giờ, đến giờ Tý thì thu công trở về.

Vương Lực Bình ngồi yên, nghĩ thầm: “Ba sư phụ ở đây, việc này có gì khó.” Nào ngờ, ba lão đã lặng lẽ đứng dậy, Vô Cực đạo nhân và Thanh Hư đạo nhân trở về nơi ở, chỉ còn Thanh Tĩnh đạo nhân đứng từ xa giám sát Lực Bình luyện công. Thanh Tĩnh đạo nhân vốn rất “giỏi trêu chọc”, khi Lực Bình nhập tĩnh, liền tạo ra đủ thứ tiếng ma kêu sói tru để quấy nhiễu. May thay, Lực Bình đã có công lực nhất định, dù những âm thanh kinh hãi ấy cũng không làm hắn sợ hãi, cứ mặc kệ mà tiếp tục luyện công. Đến giờ Tý, Lực Bình thu công, mở mắt nhìn thì ba lão đã đi đâu mất, hắn chẳng bận tâm, quay người bước đi. Bỗng thấy một bóng đen lởn vởn trước mặt, cách không xa không gần, muốn chặn đường. Lực Bình nghĩ: “Chẳng lẽ thật sự gặp ma? Dù có ma ta cũng chẳng sợ!” Hắn thản nhiên bước tới, bóng đen lại lúc trái lúc phải dụ dỗ, muốn hắn đi vòng quanh. Vương Lực Bình hít một hơi, vận chân khí, tay phải chĩa ra như kiếm, hét lớn một tiếng đâm thẳng vào bóng đen. Bóng đen lập tức biến mất. Bỗng bên tai vang lên tiếng cười trong trẻo, Lực Bình nhận ra là giọng sư phụ Thanh Tĩnh đạo nhân, vội nói: “Sư phụ lại trêu đùa đồ nhi rồi!” Sư phụ hiện hình, khen ngợi hắn vài câu, nắm tay dẫn về.

Hóa ra luyện công trong nghĩa địa cũng có nhiều lợi ích. Sau một thời gian, Lực Bình cảm thấy âm dương trong người hòa hợp, chân khí dồi dào, công phu an thần thủ xá cũng đã có nền tảng.

Thanh Tĩnh đạo nhân thật sự khổ tâm rèn luyện đệ tử nhỏ. Ông xem Lực Bình như con ruột, thậm chí còn hơn cả con đẻ trăm lần. Tình phụ tử thường tình thì sao? Có người yêu chiều mà không dạy dỗ, có người yêu mà không biết dạy, có kẻ mặc con tự do. Sinh ra thì sinh, nuôi thì nuôi, dạy thì dạy, nhưng xét về nội dung và phương pháp dạy dỗ thì đầy khiếm khuyết. Thường thấy kẻ được nuông chiều vật chất nhưng tâm tính hư hỏng. Xuất thân quyền quý mà hành vi bất chính, không thiếu ví dụ. Công lao của bậc thầy thật là trọng đại cho sự phát triển nhân loại. Nhìn ba lão đạo, tạo thành một “ban lãnh đạo” mạnh mẽ, hiện đang dốc lòng đào tạo người kế thừa. Thanh Tĩnh đạo nhân tuy nghiêm khắc nhưng tấm lòng nào đâu xấu? Đã ngoài bảy mươi tuổi, lại tiếp tục nghiệp dạy dỗ. Ngày đi khắp nơi tìm kiếm “địa điểm” lý tưởng, chế tạo “đạo cụ” cho Lực Bình luyện công, đêm lại tự mình giám sát, vừa dạy dỗ khuyên răn, vừa uy nghiêm bảo vệ, hao tâm tổn trí, mấy ai trong đời làm được? Mỗi khi nhớ lại nỗi khổ luyện công ngày xưa, mà nay đạo thành danh toại, Vương Lực Bình luôn dành vạn phần tình cảm cho vị sư phụ đã khuất. Điều này chỉ có chính ông mới thấu hiểu sâu sắc: “Thật là một lão sư phụ tuyệt vời!”

Đêm đêm luyện công trong nghĩa địa, hoàn cảnh thật khắc nghiệt, điều kiện vô cùng gian khổ. Nhưng chỉ cần dũng cảm, giữ vững hồn phách, trong trời đất này, chỉ ta là lớn nhất, khiến mọi thứ trở nên tĩnh lặng, yên ắng như chết. Chỉ ta là sinh linh: hình hài và thần hồn đều hiện hữu, ta làm chủ nơi này. Giờ đây ta cũng nhập tĩnh, tĩnh lặng, tĩnh lặng, tĩnh lặng. “Tâm đã tự tĩnh, thần ắt không loạn; thần không loạn, thường thanh tĩnh.” Tâm đã tĩnh, thần đã an, thúc đẩy ngộ ra cái “không”, “không” chính là đạo. Đây lại là một tầng trời đất mới, một cảnh giới khác.

Về sau, trải qua nhiều lần rèn luyện như thế, Vương Lực Bình càng thêm điềm nhiên tự tại, ra vào nghĩa địa như qua cửa nhà, dù có người chết hay không cũng chẳng liên quan đến hắn. Thần hồn không bị quấy nhiễu, công lực đã đạt đến trình độ đáng kể.

Vương Lực Bình trải qua loạt huấn luyện này, liên tiếp vượt ải, kết hợp với luyện tập ngoại công, cả nội công lẫn ngoại công đều có nền tảng vững chắc. Điều này với người thường đã là phi phàm, nhưng ba lão đạo biết rõ: đệ tử thiếu niên này vẫn còn loanh quanh ở hạ tam giới, cách trung tam giới vẫn xa lắm.

Chương 4: Khổ Tu Tam Giới

Bạn đọc nên xem đoạn hội thoại dưới đây trích từ sách “Chung Lữ Truyền Đạo Tập”. Chung là Hán Chung Ly một trong Bát Tiên. Lữ là Lữ Động Tân một trong Bát Tiên. “Chung Lữ Truyền Đạo Tập” chép sự hỏi đáp của Chung và Lữ về tu luyện nội đan, sách do Hoa Dương Chân Nhân chỉnh lý biên tập truyền cho hậu thế.

Lữ (Lữ Động Tân) hỏi: Lý lẽ của Đạo lớn khó biết, khó hành là thế nào?
Chung (Hán Chung Ly) đáp: Bàng môn tiểu pháp dễ thấy công hiệu, nên kẻ tục thường truyền dạy lẫn nhau, đến chết vẫn không giác ngộ, từ đó thành thói tục làm hỏng Đạo lớn.

Lữ hỏi: Bàng môn tiểu pháp đã rõ, vậy Đạo lớn có thể được nghe chăng?
Chung đáp: Đạo vốn không hỏi, hỏi vốn không đáp. Khi chân nhất đã phân, đại phác đã tan. Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba. Một là Thể, hai là Dụng, ba là Tạo hóa. Thể-Dụng không ngoài Âm-Dương, Tạo hóa đều do giao hợp. Trên-giữa-dưới làm thành Tam tài, trời-đất-người cùng chung một Đạo. Đạo sinh hai khí, hai khí sinh Tam tài, Tam tài sinh Ngũ hành, Ngũ hành sinh vạn vật. Trong vạn vật, linh thiêng và quý nhất là con người. Duy con người thấu lý vạn vật, tận cùng bản tính, thấu lý tận tính để đạt đến Mệnh, giữ trọn sinh mạng để hợp với Đạo, nên cùng trời đất vững bền và được trường cửu.

Lữ hỏi: Trời đất trường tồn, xuyên ngàn xưa vô tận, người thọ trăm năm, đến bảy mươi đã hiếm. Sao Đạo chỉ ở nơi trời đất mà xa cách con người?
Chung đáp: Đạo không xa người, người tự xa Đạo. Lý do xa Đạo là vì dưỡng mệnh không biết phép; không biết phép là vì dụng công không hiểu thời; không hiểu thời là vì không thông thiên địa chi cơ.

“Thiên địa chi cơ” chính là quy luật vận hành của trời đất. Con người sinh ra trong khoảng trời đất, là một tiểu vũ trụ, chịu sự ảnh hưởng và chi phối của đại vũ trụ. Học đạo mà không ngộ được quy luật vận hành của trời đất, không biết thời cơ và phép tắc, thì việc học đạo sẽ chẳng thành.

Gột rửa tính tục, bản tính tự hiện. Vứt bỏ tâm phàm, giữ lại chân tâm. Chân tâm quy về đâu? Quy về tự nhiên. 

Thu nhiếp tâm tính, một năm công thành. Vương Lực Bình từ căn phòng tối, từ hầm đất, từ dưới chiếc vạc lớn, từ nơi mộ địa bước ra, hướng về đại tự nhiên. 

Thiên – Địa – Nhân, không gian mênh mông biết bao! Anh linh của trời, tinh túy của đất, linh thiêng của con người, phồn hoa của vạn vật đẹp đẽ làm sao! Nhật nguyệt tinh tú, sông núi khe ngòi, cỏ cây hoa lá, chim bay thú chạy, mưa gió sấm chớp, nóng lạnh thay mùa, xuân hạ thu đông, đông tây nam bắc, bốn biển chín châu, bát quái ngũ hành, trong tam giới — tất thảy đều hàm chứa tạo hóa, ẩn giấu tinh vi, đều là đối tượng để con người ngộ đạo tu luyện.

Giờ đây, dưới sự chỉ dạy của Tam Lão, Vương Lực Bình bắt đầu khổ luyện công phu tam giới.

Mặt trời mọc lặn, trăng khuyết trăng tròn, sao chuyển sao dời, xuân sinh thu diệt, hạ trưởng đông tàng, biển cạn đá mọc, triều đại đổi thay — trời, đất, người trong tam giới khi suy khi thịnh, hư hư thực thực, biến hóa vạn nghìn, nhưng lại tương đối tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh, chống đối lẫn nhau, từ bất cân bằng tiến về cân bằng, trong cân bằng lại ẩn chứa mầm mống bất cân bằng, thể hiện một vận động có quy luật và nhịp điệu. Con người ở trong đó, thuận theo mệnh tự nhiên mà sinh tồn, gánh chịu áp lực từ muôn phương của tự nhiên và xã hội. Những lực này không chỉ khác hướng, phân bố thời gian không đều, mà bản chất còn vô cùng đa dạng. Có lực mà ngũ quan cảm nhận được, có lực ngũ quan không thể cảm nhận; có lực có lợi cho thân thể, có lực gây hại. Khoa học hiện đại nghiên cứu tỉ mỉ những lực cảm nhận được, nhưng không thừa nhận rằng đằng sau chúng vẫn tồn tại vô số lực vô hình — những lực này tác động đến sinh mệnh con người còn lớn hơn cả lực hữu hình. Văn hóa cổ đại Trung Quốc cùng các dân tộc khác không mắc phải khuyết điểm này, trước hết chúng thừa nhận sự tồn tại của những lực ấy. Đúng vậy, chúng thực sự tồn tại. Tiến xa hơn, các nền văn hóa này dùng phương pháp khác nhau để nghiên cứu, kiểm chứng và vận dụng chúng. Ưu điểm vốn có của văn hóa truyền thống Trung Quốc nằm ở quan điểm toàn diện — “thiên địa nhân hợp nhất”, nhờ đó tránh được thiếu sót, không rơi vào cực đoan, không phiến diện. Còn việc nó đạt đến trình độ nhận thức nào, dùng ngôn ngữ gì để miêu tả — đó là vấn đề khác. Văn hóa Đạo gia là một trụ cột quan trọng của văn hóa truyền thống Trung Quốc. Phương pháp và chiều sâu nhận thức về vũ trụ cùng thân thể người của nó khiến người hiện đại kinh ngạc, phương Tây thậm chí còn hiểu rõ giá trị của nó hơn cả người Trung Quốc, xem nó như viên ngọc sáng chói trong văn minh nhân loại.

“Thiên địa nhân nhất thống, nhân cư thiên địa trung. Đại đạo hành vũ trụ, xung hòa tự cân bằng.”
(Trời đất người hợp nhất, con người ở giữa trời đất. Đạo lớn vận hành vũ trụ, hài hòa tự cân bằng.)

Đạo gia qua hàng ngàn năm luôn nắm chữ “Đạo” làm trung tâm, dùng nó để nhận thức vũ trụ, tu luyện thân thể, để lại vạn quyển kinh điển và kho tàng vô tận.

Giờ đây, ba vị lão đạo Long Môn ở núi Lao Sơn đang dùng phương pháp tổ truyền này để huấn luyện đệ tử Vương Lực Bình suốt hai năm.

Đối diện cây cổ thụ sừng sững, sư phụ dạy anh bài “Bình Hành Công” trong “Cổ Điển Linh Bảo Thông Trí Năng Nội Công Thuật”.

Bình Hành dịch sang tiếng Việt là Cân Bằng, bài công pháp này  là một trong những công pháp của “Linh Bảo Thông”, thuộc ngoại động công, tiến hóa từ “Thổ Nạp Thuật” cổ xưa. Công pháp này yêu cầu người tu luyện kết hợp “chuyển động có quy tắc của cơ thể với phương pháp hô hấp nghiêm ngặt”, dùng ý, dùng khí, dùng trăm khiếu để trao đổi “khí” với thực vật, động vật, con người và các vật thể tự nhiên khác. Nhờ đó, người tu đạt được trạng thái cân bằng giữa “khí” của con người với thực vật, động vật, và tự nhiên — nên gọi là Cân Bằng Công.

Từ tên gọi, lý luận đến phương pháp, công pháp này đều thể hiện tư tưởng triết học sâu sắc: xem xét mối quan hệ giữa con người và vạn vật trong hệ thống tổng thể, xử lý toàn diện với thái độ thận trọng. Trong phạm vi không phá vỡ cân bằng tổng thể, nó tối đa hóa việc phát hiện và sử dụng “khí” hữu ích cho bản thân, thiết lập cân bằng mới giữa “ta” và ngoại giới, nhằm mục đích dưỡng sinh, cường thân, trường thọ.

Thanh Tĩnh Đạo Nhân chỉ vào cây tùng lớn trước mặt, nói với Vương Lực Bình: “Con thấy cây này chưa? Hôm nay ta luyện công với nó. Luyện công với cây xưa gọi là ‘Tẩu Thụ’. Cây này cao lớn hiên ngang, trải qua bao nắng gió, mưa bão, sức sống cực kỳ mãnh liệt, trong nó chứa thứ có ích cho tu luyện. Trong cơ thể người có đường khí vận, đường huyết lưu, đường bài tiết; cây cũng có đường khí vận, đường nước chảy, đường hấp thu dinh dưỡng, đường bài tiết. Bình Hành  Công chủ yếu rèn luyện phương pháp phóng thu ngoại linh của cơ thể. Luyện với cây là trao đổi khí với cây, đạt cân bằng âm dương ngũ hành trong người. Cây có sắc tố khác nhau, phân thuộc ngũ hành. Sắc tố cây tùng là xanh, ngũ hành thuộc Mộc, ứng với tạng Can trong cơ thể. Nếu gan có bệnh do Thủy suy (Thủy yếu thì Mộc không sinh, Thận chủ Thủy, sắc Thủy là đen), trong các loại cây, cây bách thuộc hành Thủy (sắc đen), nên trước tiên luyện với cây bách để bổ Thận Thủy, sau đó luyện với cây tùng để trị bệnh gan. Bệnh gan cũng có thể do Hỏa vượng (Hỏa mạnh làm hao tán Mộc khí), cần chế Hỏa mới trị được. Hoặc do Kim thịnh (Kim mạnh khắc Mộc), cũng cần chế Kim. Phải tìm đúng loại cây tương ứng để tu luyện, mới điều hòa âm dương ngũ hành trong cơ thể, trừ bệnh cường thân.”

Những lý luận về Ngũ Hành sinh khắc mà Thanh Tĩnh Đạo Nhân giảng đã được Vương Lực Bình nghe qua từ Vô Cực Đạo Nhân trước đây, nên giờ nghe lại càng thấu hiểu. Thanh Tĩnh Đạo Nhân còn đề cập đến vấn đề “Tín linh”, Lực Bình cũng đã biết rõ. Những điều này tạm thời chưa bàn sâu, sau sẽ có dịp thảo luận thêm.

Thanh Tĩnh Đạo Nhân tiếp tục nói: “Bình Hành Công có tổng cộng chín động tác cơ bản. Từ hôm nay, con sẽ học từng động tác một.”

Nói xong, sư phụ bước đến cách cây khoảng nửa mét: “Quan sát động tác của ta.” Sư phụ dang hai chân tự nhiên, rộng bằng vai, đầu gối hơi khuỵu, thân trên giữ thẳng. Lực Bình thấy sư phụ đưa hai tay lên, duỗi thẳng về phía trước, tay thẳng nhưng không cứng nhắc, nách thả lỏng, lòng bàn tay hướng về cây. Lúc này, sư phụ khép nhẹ mắt, ánh nhìn ngang tầm, đôi chân từ từ co duỗi, thân trên di chuyển lên xuống giữ nguyên tư thế thẳng, hai tay theo đó kéo lên kéo xuống dọc thân cây một cách chậm rãi.

Vừa làm mẫu, sư phụ vừa giải thích: “Chú ý điều chỉnh hơi thở: kéo lên thì hít vào, kéo xuống thì thở ra. Động tác thân thể phải chậm rãi, hơi thở cần nhẹ, đều, sâu, dài. Đồng thời phải kết hợp ý niệm. Tập trung ý vào lòng bàn tay. Hãy tưởng tượng cây đại thụ này là một trụ khí mang sắc tố đặc định — cây tùng này chính là trụ khí màu xanh. Tưởng tượng lòng bàn tay mình cũng phát ra khí xanh tương tự, trao đổi với khí của cây. Được rồi, con hãy tập theo lời ta.”

Vương Lực Bình bắt chước động tác của sư phụ, luyện tập theo. Sư phụ đứng bên quan sát kỹ, nhắc nhở từng chi tiết cho đến khi Lực Bình thực hiện chuẩn xác và cảm nhận rõ ràng sự biến chuyển bên trong.

Trên đỉnh Tây Sơn Phủ Thuận, nơi có vô số loài cây, là địa điểm lý tưởng để “Tẩu Thụ” (luyện công với cây). Mỗi ngày lúc mặt trời mọc và lặn, Lực Bình đều tuân theo thời gian quy định của sư phụ, lần lượt đến trước những cây đại thụ được chọn để luyện tập. Anh đã học thêm từ sư phụ vài chiêu thức mới: “Thập Chỉ Tòng Hướng Thiết Cát”, “Thập Chỉ Hoành Hướng Thiết Cát” , “Song Thủ Đối Lạp”, “Kiếm Thức Lạp Động” , “Bát Quái Ý Cầu” , “Bối Thụ Trạm Trang”.

Thanh Tĩnh Đạo Nhân vốn dạy đệ tử vô cùng nghiêm khắc và tận tâm, lần này ông lại nghĩ ra phương pháp mới. Ông lắp một ròng rọc trên cây luyện công, treo một tạ đá lớn bên dưới, sợi dây kéo tạ có thể di chuyển lên xuống. Khi Vương Lực Bình luyện công, sư phụ dùng chân điều khiển đầu dây, đặt tạ đá lên đỉnh đầu Lực Bình, buộc anh phải di chuyển thân thể theo tốc độ lên xuống của tạ trong khi giữ thân trên thẳng tắp. Sư phụ cố tình “chống đối” Lực Bình — kéo dây khiến tạ đá chỉ di chuyển lên xuống mỗi nửa giờ với tốc độ cực chậm, khó hơn cả việc giữ nguyên một tư thế. Hơi thở cũng phải phối hợp chậm rãi, khiến việc luyện tập càng gian nan. Trong hai giờ đồng hồ, tạ chỉ di chuyển vài lần, khiến chàng trai trẻ này đau nhức đầu gối, chân mỏi rã rời, lưng eo tê dại. Nhưng với tạ đá đè trên đầu và sư phụ giám sát nghiêm ngặt, dù khổ cực đến đâu, anh vẫn kiên trì. Khi thu công, áo anh ướt đẫm mồ hôi, chẳng còn sức đi lại. Sư phụ tuy xót lòng, nhưng biết rằng không luyện tập khắc nghiệt thì đệ tử sao thành tài? Ông chẳng nói gì, bế Lực Bình rời đi. Thực chất, bản thân sư phụ cũng chẳng nhàn hạ — đệ tử luyện công, sư phụ cũng như luyện một trận đại công.

Sau khi đã thuần thục việc luyện công dưới tạ đá, khả năng điều thân, điều tức và đổi khí của Vương Lực Bình khi luyện với cây đã đạt đến cảnh giới phi phàm. Dù không có sư phụ giám sát, anh vẫn thực hiện xuất sắc.

Vì đang luyện động công, di chuyển cũng là một phần căn bản. Để Lực Bình xây nền tảng vững chắc ngay từ đầu, sư phụ lại thiết kế bài tập mới. Tam Lão phát hiện một địa điểm kỳ lạ trên núi cao — nơi nhỏ hẹp nhưng có năm cây đại thụ mọc theo năm phương vị: tùng phương Đông, ngô đồng phương Nam, dương phương Tây, bách phương Bắc, liễu ở trung tâm, tạo thành trận Ngũ Hành tự nhiên, dùng ngoại Ngũ Hành luyện nội Ngũ Hành trong cơ thể.

Tam Lão nhìn nhau kinh ngạc. Vô Cực Đạo Nhân chắp tay nói: “Đây là trời giúp ta.” Họ liền giăng một lưới dây cao ngang người giữa năm cây, yêu cầu Lực Bình chỉ được đi khom gối, thẳng lưng dưới lưới, đỉnh đầu chạm nhẹ vào lưới, không cao không thấp. Sau hai tháng khổ luyện, Lực Bình có thể đi mã bộ xuyên qua năm cây, đầu đội bát nước, múa nhanh mà nước không đổ, mặt nước phẳng lặng như gương.

Năm cây này bố trí bên ngoài, khi người đi qua lại giữa chúng, Ngũ Hành bên trong cơ thể tương ứng một-một với Ngũ Hành bên ngoài của cây. Sư phụ dạy Lực Bình di chuyển theo lộ trình nhất định, dựa trên nguyên lý tương sinh tương khắc của Ngũ Hành để điều hòa nội Ngũ Hành trong cơ thể, lấy ngoại Ngũ Hành dẫn động nội Ngũ Hành, đạt đến mục đích cân bằng nội Ngũ Hành, trừ bệnh, trường thọ. Nhờ thay đổi lộ trình di chuyển, kết hợp động tác tay và hơi thở, còn có thể khơi dậy tiềm năng ẩn giấu trong cơ thể, luyện thành năng lực đặc dị.

Vương Lực Bình từ những cây bình thường trong tự nhiên này đã khơi gợi và hấp thu được “năng lượng” phi thường. Cách “bày trận” đơn giản ấy lại ẩn chứa sức mạnh thần kỳ đến khó tin, khiến người ta liên tưởng đến “trận Bát Quái” của Gia Cát Lượng — sức mạnh tiềm ẩn có thể chống lại nghìn quân, quả thực danh bất hư truyền.

Cây là loài thực vật to lớn, phân chia theo Ngũ Hành. Các loài thực vật khác cũng thuộc Ngũ Hành, chứa tinh khí, có thể dùng để luyện công. Người tu luyện căn cứ vào trạng thái cơ thể và nhu cầu công năng, theo phương thức Cân Bằng Công, hấp thu, trao đổi “khí” đối kháng với chúng, từng bước đạt lợi ích lớn.

Động vật cũng như thực vật, đều phân Ngũ Hành, con người có thể đối luyện. Sư phụ đã dạy Lực Bình luyện tập tất cả những điều này.

Một ngày nọ, Thanh Hư Đạo Nhân gọi Lực Bình đến, chỉ vào một chiếc giỏ trên mặt đất: “Trong giỏ này có vật, con hãy xem kỹ.” Lực Bình nhìn vào, thấy đầy rắn đang bò lúc nhúc, giật mình. Người phương Bắc vốn sợ rắn, anh hỏi: “Thưa sư phụ, dùng nhiều rắn thế này để làm gì?” Sư phụ đáp: “Dùng chúng để luyện công.” Lực Bình không hiểu.

Sư phụ giải thích: Cân Bằng Công diệu ở chỗ đối luyện, đối luyện cần đối tượng. Trong tam giới, không gì không thể thành đối tượng đối luyện. Rắn thuộc động vật, thường sống nơi âm ẩm, tính cực âm. Đối luyện với chúng giúp rèn luyện năng lực đặc dị của cơ thể.

Nói xong, sư phụ khẽ mấp máy môi, phát ra âm thanh kỳ lạ như tiếng rắn, lũ rắn trong giỏ lập tức nằm im. Sư phụ bảo Lực Bình: “Đừng sợ, hãy đối luyện với chúng”, rồi truyền thụ phương pháp. Sau vài ngày, Lực Bình bắt đầu cảm nhận những thay đổi khác thường trong cơ thể.

Đêm ấy, trăng sáng như nước. Thanh Hư Đạo Nhân dẫn Vương Lực Bình đến trước một hang động nhỏ phủ đầy rêu phong, bảo anh đứng cách cửa hang không xa. Sư phụ khẽ phát ra tiếng “tặc tặc”, chẳng mấy chốc, những con rắn lớn nhỏ ẩn nấp quanh đây lần lượt bò về phía cửa hang. Dưới ánh trăng, lũ rắn lấp lánh ánh sáng lạnh lẽo. Chúng dừng lại gần chỗ Lực Bình đứng, uốn éo trên cỏ, ngẩng đầu phì phò lưỡi. Lực Bình không còn sợ hãi, trấn tĩnh tâm thần. Sư phụ ra lệnh anh luyện công theo pháp. Lực Bình lập tức vào thế, nhắm mắt, dùng cảm giác nội tại để đối luyện với rắn. Hơn chục con rắn theo động tác tay và khí của anh, bắt đầu di chuyển xung quanh theo hướng nhất định — từ chậm đến nhanh, rồi từ nhanh chậm dần, sau đó nhảy múa dưới trăng, ánh lên màu sắc huyền bí. Khi Lực Bình chuyển công pháp, lũ rắn đột ngột dừng lại, bất động như chết. Sau hai giờ, Lực Bình thu công, lũ rắn mới tỉnh lại, bò về chỗ cũ. Sư phụ đứng bên hộ pháp, thấy đệ tử đã nắm vững phương pháp, lòng vui khôn xiết.

Về sau, Thanh Hư Đạo Nhân lại truyền cho Lực Bình các phương pháp đối luyện với động vật nhỏ như cáo, chồn, chuột… Anh đều miệt mài luyện tập giữa đêm hoang vắng, thông thạo mọi kỹ pháp.

Việc đối luyện với các sinh vật này đều diễn ra ban đêm — vì chúng mang tính thuần Âm, thường hoạt động về đêm. Những linh vật này thường bái nguyệt dưới trời quang mây tạnh, gió lặng, cũng là cách tu luyện thành hình. Độc giả quen thuộc truyền thuyết dân gian hoặc tiểu thuyết cổ điển có lẽ không lạ với cảnh này, nhưng ít ai hiểu sâu lý lẽ: theo lý thuyết tam giới của Đạo gia, mọi sinh vật hữu hình đều mang “tín linh” — xét ở tầng hạ giới “nhân – sự – vật”. Nếu thăng lên tầng trung giới “thiên – địa – nhân”, tồn tại của vạn vật lại cao hơn một bậc. Đạo gia, Phật giáo tránh sát sinh cũng bắt nguồn từ đạo lý thâm sâu này.

Một đêm trăng thanh gió mát đầu thu, gần giờ Tý. Vô Cực Đạo Nhân quyết định không luyện Tý thời công mà dẫn Thanh Tĩnh Đạo Nhân, Thanh Hư Đạo Nhân và Vương Lực Bình thong thả xuống núi, dừng chân trước ngọn đồi nhỏ nơi khúc quanh con suối.

Vô Cực Đạo Nhân quan sát một lúc, quay lại bảo hai đệ tử: “Các ngươi có thấy chân khí trong núi không?” Thanh Tĩnh và Thanh Hư đáp: “Thấy chân khí màu lam, rất hùng hậu.”

Ngài lại nói với Lực Bình: “Này chàng trai, nơi đây Âm Dương nhị khí giao hòa, phong thủy cực tốt. Chân khí trên núi bốc lên, rất thích hợp luyện công. Chúng ta hãy luyện tại đây.”

Ngài giảng tỉ mỉ phương pháp “đối luyện với núi” rồi truyền dạy Lực Bình. Xong, cả bốn người vào thế luyện công. Nhờ thông “tiểu chu thiên”, mở “thiên mục”, thành thục Bình Hành Công, lại được truyền “Trí Năng Pháp”, chỉ sau một giờ, Lực Bình đã thấy khí xanh từ núi dâng lên, đối luyện khiến công lực trong người tăng vọt. Hai giờ sau, thu công, Lực Bình thưa: “Sư gia, sư phụ nói đúng, con đã thấy chân khí của núi, thu hoạch rất lớn.” Tam Lão gật đầu hài lòng.

Một hôm, Thanh Tĩnh Đạo Nhân dẫn Vương Lực Bình đến bờ hồ nước, nơi đã chuẩn bị sẵn một tấm ván lớn. Sư phụ bảo Lực Bình ngồi kiết già trên tấm ván, rồi từ từ đẩy ván trôi ra giữa hồ. Lực Bình ngồi tĩnh tọa luyện công trên mặt nước, đạt đến cảnh giới mới theo lời dạy của sư phụ. Hai giờ trôi qua, sư phụ biết công lực đệ tử đã thành, liền dùng tay khuấy mặt nước phẳng lặng. Gợn sóng lan dần về phía tấm ván, khiến bóng Lực Bình dưới nước chao đảo, thân tâm anh chợt chấn động. Khi sóng lặng, mặt hồ lại phẳng như gương, Lực Bình cũng trở về trạng thái tĩnh lặng. Sư phụ thử nghiệm nhiều lần, thấy đệ tử đều ứng phó được, biết công phu anh đã thâm hậu, liền bảo thu công chèo vào bờ. Lực Bình kể lại cảm giác kỳ lạ dưới nước, lòng đầy thắc mắc.

Trở về nơi ở, sư phụ mới giảng giải: “Lực Bình qua quá trình đối luyện với vạn vật, nội ngoại công đều tinh tiến. Dương hồn Âm phách trong cơ thể cũng trở nên mạnh mẽ, nhạy cảm. Với người thường, bóng dưới nước chỉ là ảo ảnh ‘hữu hình vô chất’, vô giá trị. Nhưng theo Đạo gia, ngay cả ảnh ấy cũng mang linh khí. Người không tu luyện thì mất cảm giác, còn người công lực cao sẽ nhận rõ từng dao động vi tế. Đây chính là lý do bóng lay động khiến thân tâm con chấn động. Khi lên tầng ‘trung giới’, ảnh ảo không còn ‘vô chất’ mà trở thành ‘hữu hình hữu chất’. Sau này, ta sẽ dạy con dùng bóng người để trị bệnh — nguyên lý sâu xa nằm ở đây.”

Từ đó, Vương Lực Bình không ngừng luyện tập “Bát Quái Ý Cầu” do sư phụ truyền dạy. Những khối khí màu sắc không đồng nhất đã tăng từ một lên chín, xoay quanh thân thể anh theo mọi hướng trên dưới trái phải. Lực Bình di chuyển nhẹ nhàng như bay giữa các quẻ Bát Quái, tuân theo phương hướng và thứ tự nhất định, từ phương vị của quẻ này đến phương vị của quẻ khác. Thân trên luôn giữ thẳng, cân bằng, kết hợp động tác tay và nhịp thở biến hóa thành nghìn vạn tư thế trạng thái khác nhau. Mà chín khối khí khác màu sắc di chuyển tên dưới trái phải có quy luật xung quanh người. Nhờ công phu thâm hậu này, anh có thể dùng ý niệm lấy nội tạng từ trong cơ thể ra ngoài, xoay chuyển trên không, nắn bóp, chơi đùa rồi đặt lại vào bụng — giúp tạng phủ ngày càng cường tráng. Đối với người bình thường mà nói thì những công pháp này quả thật không thể tin được!

Lực Bình khổ tu tam giới, công phu ngày càng tinh tấn. Thanh Hư Đạo Nhân tiếp tục truyền dạy “Thụy Công” và “Tự Nhiên Hoán Khí Pháp” trong “Linh Bảo Thông Trí Năng Nội Công Thuật”. Thụy Công là một trong tam đại công pháp, luyện trong lúc nghỉ ngơi. Người tu giữ tư thế ngủ nhưng ý thức vận động, tức là ngủ cũng có thể luyện công — “Thể tĩnh, Ý động”, ý dẫn khí hành, an thần kiện thể. Thụy Công gồm 11 thức, mỗi thức đạt hiệu quả riêng, kết hợp thành hệ thống hoàn chỉnh giúp âm dương toàn thân cân bằng.

Tự Nhiên Hoán Khí Pháp là công pháp phụ trợ của Linh Bảo Thông, còn được gọi là Tự Nhiên Nạp Khí Pháp. Tu luyện phương pháp này không bị giới hạn thời gian hay địa điểm, nhưng nơi có nhiều cây cối xanh tươi, không khí trong lành là lý tưởng nhất. Công pháp cơ bản là kết hợp ý và khí khi đi bộ tự nhiên. Ví dụ:

  • Hít một hơi đi ba bước, thở một hơi cũng đi ba bước.
  • Khi đã quen, tăng dần lên: hít một hơi đi sáu bước, thở một hơi đi sáu bước.
  • Tiếp tục tăng đến hít một hơi đi 12 bước, 24 bước, thở một hơi đi 12 bước, 24 bước, sao cho hơi thở và bước đi đều tự nhiên, nhẹ nhàng, không khó chịu.

Sau khi thành thục, chuyển sang phương thức mới:

  • Hít một hơi đi ba bước → nín thở đi ba bước → thở một hơi đi ba bước → nín thở đi ba bước.
  • Chu kỳ “hít – nín – thở – nín” được lặp lại nhịp nhàng.
  • Dần dần kéo dài thời gian vận khí: hít một hơi đi sáu bước, nín thở đi sáu bước, thở một hơi đi sáu bước, nín thở đi sáu bước… tăng lên đến 12, 24 bước.

Khi luyện tập, ý niệm phối hợp như sau:

  • Hít vào: Tưởng tượng khí từ khắp nơi thẩm thấu qua da vào cơ thể.
  • Nín thở: Tưởng tượng toàn thân thành một khối thống nhất.
  • Thở ra: Tưởng tượng khí từ da tỏa ra tám hướng.
  • Nín thở sau thở: Tưởng tượng bản thân đang đứng giữa mây mù.

Vương Lực Bình áp dụng phương pháp này vào mọi lúc — đi lại, ngủ nghỉ — toàn thân luôn trong trạng thái luyện công.

Tam Lão thấy Lực Bình chuyên tâm tu luyện, công lực tiến bộ vượt bậc, lòng đầy vui mừng. Một hôm, Lực Bình đi học về, giúp sư phụ nấu cơm tối. Bốn thầy trò quây quần ăn uống đơn giản, vui đùa thân mật. Sư phụ hỏi về cảm nhận luyện công, Lực Bình đều thành thật kể lại từng chi tiết.

Vô Cực Đạo Nhân ra hiệu cho Lực Bình ngồi xuống, bắt đầu giảng giải những lý thuyết Đạo gia. Những khái niệm căn bản như Thái Cực, Âm Dương, Tam Tài, Tứ Tượng, Ngũ Hành, Lục Khí, Thất Bảo, Bát Quái, Cửu Cung… anh đều đã học qua. Những kinh điển cổ xưa nhất của Đạo gia như “Lão Tử”, “Trang Tử”… anh cũng đã nắm được đại ý, thậm chí thuộc lòng nhiều đoạn quan trọng. Sư gia và sư phụ tiếp tục dạy anh nhiều trước tác trọng yếu trong “Đạo Tạng”, như “Chu Dịch”, “Hoàng Đế Nội Kinh”, “Hoàng Đình Kinh”, “Âm Phù Kinh”, “Thanh Tĩnh Kinh”… cùng những giai thoại về việc tổ sư tu luyện, truyền đạo, độ người.

Vương Lực Bình học văn hóa phổ thông ở trường — ngữ văn, toán học, tự nhiên, địa lý, lịch sử, sinh lý… nhưng từ Tam Lão, anh tiếp thu một hệ thống lý luận văn hóa rộng lớn, phong phú và thâm sâu hơn nhiều. Nhờ tu luyện “Linh Bảo Thông” (nội công, ngoại công, thụy công), trí lực của anh đã vượt xa người thường. Dù Tam Lão truyền dạy những tri thức huyền áo, anh đều thấu hiểu và ghi nhớ trọn vẹn.

Vô Cực Đạo Nhân đêm nay lại dạy Lực Bình lý luận tu luyện. Ngài nói:
“Tổ sư Trùng Dương từng dạy: Tiên có năm bậc. Quỷ tiên không đáng lấy, Nhân tiên không cần bàn. Địa tiên trường thọ tại thế, Thần tiên xuất hữu nhập vô, ẩn hiện khôn lường, thân ngoài có thân, có thể phân thân — đó gọi là Thần tiên. Thiên tiên đứng trên Thần tiên. Người học Đạo chớ làm kẻ trung hạ, nên học chân pháp thượng thừa, diệu đạo vô thượng, thấu suốt Âm Dương trời đất, thông đạt tạo hóa Ngũ Hành. Lý lẽ của Âm Dương vô cùng lớn lao, trời đất nhật nguyệt Ngũ Hành đều từ đó mà hóa sinh. Thái Cực phân định, thanh khí thăng lên thành tượng trời, trọc khí giáng xuống thành hình đất. Tinh hoa Mộc Hỏa là Thái Dương, tinh hoa Kim Thủy là Thái Âm. Trời đất nhật nguyệt hàm chứa hai khí mà hóa thành. Hai khí này vận chuyển khắp thiên địa, chu lưu không ngừng, sinh ra vạn loại. Con người sinh ra, tụ tinh cha huyết mẹ, dương khí trời, âm khí đất, dương hồn mặt trời, âm phách mặt trăng, dương thần hỏa, âm tinh thủy. Thân người tạo hóa đồng nhất khí với trời đất. Trời đất là đại phụ mẫu của nhân loại. Người ngộ đạo siêu thoát khỏi Âm Dương thiên địa, kẻ mê đắm chìm trong bể khổ vạn tượng. Không bị Ngũ Hành trói buộc, Âm Dương ràng buộc — đó là Thượng phẩm Thiên tiên. Đây mới là chân lý tối thượng!

Nhìn nhật nguyệt vận hành từ góc độ phàm nhân: chúng tuần hoàn không ngừng, từ đầu trở về cuối, mỗi cái có chu thiên riêng. Với mặt trời:

  • Mặt trời lên cao: nhiệt tăng, khí khô — quẻ tượng thuộc Hỏa.
  • Mặt trời xuống thấp: nhiệt giảm, khí ẩm — quẻ tượng thuộc Thủy.
  • Mặt trời xa đất: nhiệt phân tán — quẻ tượng thuộc Mộc.
  • Mặt trời gần đất: nhiệt tụ lại — quẻ tượng thuộc Kim.
  • Mặt trời song song đất: nhiệt ngưng, khí dừng — quẻ tượng thuộc Thổ.
    Như thế, từ xuân sang hạ, thu, đông, rồi trở lại xuân — mặt trời vận hành đủ Ngũ Hành, một chu thiên tức một năm.

Với mặt trăng:

  • Trăng xuống thấp: nhiệt tăng, khí khô — quẻ tượng thuộc Hỏa.
  • Trăng lên cao: nhiệt giảm, sinh ẩm — quẻ tượng thuộc Thủy.
  • Trăng vào trong: nhiệt phân tán — quẻ tượng thuộc Mộc.
  • Trăng ra ngoài: nhiệt tụ lại — quẻ tượng thuộc Kim.
  • Trăng song song đất: nhiệt ngưng, khí dừng — quẻ tượng thuộc Thổ.
    Như thế, trăng tròn rồi khuyết, khuyết lại tròn — mặt trăng vận hành đủ Ngũ Hành, một chu thiên tức một tháng.

Linh Bảo Thông lấy nội Ngũ Hành của người ứng với ngoại Ngũ Hành của nhật nguyệt và đất đai, hợp tu tam giới thiên – địa – nhân. Từ chín trở về tám, tám về bảy, bảy về sáu, sáu về năm, năm về bốn, bốn về ba, ba về hai, hai về một — cuối cùng quy về Thái Cực. Thái Cực là một khối cầu, đạt đến cảnh giới này mới gọi là Linh Bảo Thông đại thành. Vậy nên, sau nhiều tháng tu tam giới công, nay cần thăng lên thượng thừa, dốc sức khổ tu diệu đạo tối cao.

Vương Lực Bình theo bí pháp tu luyện của tổ sư do sư gia truyền dạy, hợp nhất tam giới thiên – địa – nhân, thể nghiệm sự biến hóa của Ngũ Hành tại những chỗ “vi diệu” trong cơ thể, lấy tinh hoa nhật nguyệt tiên thiên bổ sung nguyên khí tiên thiên. Dần dần, anh đã thấu hiểu quy tắc “chín tám bảy sáu năm bốn ba hai một”, chỉ còn công phu chuyển hóa cần tinh luyện thêm.

Đêm xuống, trăng tròn nhô lên, Lực Bình chọn nơi cây cỏ xanh tươi ngồi kiết già luyện công. Anh điều chỉnh thân – khí – ý hòa hợp, lục tĩnh nhập định, dùng tâm nhìn mặt trăng vàng từ chân trời đằng đông từ từ mọc lên. Ánh trăng trôi về phía anh, càng lúc càng sáng, như một khối khí kỳ lạ tỏa vạn đạo linh quang bao trùm toàn thân. Anh cảm thấy cơ thể mình hòa tan thành khí, bay lên, hòa vào khối khí khổng lồ của mặt trăng, rồi biến mất. Thời gian ngưng đọng, không gian tan biến.

Phương đông dần hiện màu trắng ngà, những đám mây lờ mờ hiện rõ, sắc từ đen chuyển xám rồi trắng, phía dưới phủ một lớp ánh vàng nhạt. Chốc lát, bầu trời trong xanh, sao mờ dần, trăng nghiêng về tây — một buổi sáng tinh khôi. Phía đông ửng hồng, báo hiệu mặt trời sắp mọc. Vầng thái dương rực rỡ từ từ nhô lên khỏi mặt đất. Lực Bình vẫn ngồi bất động, cảm nhận ánh dương hiện ra. Anh ngước mắt nhìn thẳng mặt trời, rồi khép hờ, thu thần quang vào nội tạng. Mặt trời vàng rực bắt đầu vận chuyển trong cơ thể anh. Lực Bình như tắm trong ánh dương, nội tạng tựa hài nhi mới sinh, rực rỡ sinh khí.

Anh ngồi tĩnh tọa suốt mấy ngày đêm, tỉ mỉ thể nghiệm quy luật vận hành của thiên thể, tìm kiếm sự tương ứng giữa biến hóa “vi diệu” trong cơ thể và vũ trụ. Dần dần, anh ngộ ra: vận hành của thân người đồng bộ với trời đất. Ngoại động tất nội ứng, ứng thì có cảm, cảm thì có tri, nhưng tri chưa đủ. Công phu này với người thường đã là thâm hậu, nhưng theo yêu cầu của sư gia, vẫn còn xa vời. Phải “tri mà phản”, từ chín trở về một, thuận rồi nghịch, tĩnh trung thủ nhất, mới đắc đại đạo. Thuận nghịch chi pháp chỉ có thể đạt được qua tu luyện.

Thanh Hư Đạo Nhân cũng giảng thêm cho Lực Bình những kiến thức cơ bản về dưỡng sinh và luyện công của Đạo gia trong quá trình tu tam giới.

Các nhà dưỡng sinh cho rằng: Trời đất là vật lớn nhất trong vạn vật, con người là sinh vật linh thiêng nhất. Thân thể người là một tiểu vũ trụ, bên trong có trời đất, nhật nguyệt, âm dương; có Ngũ Hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) vận hành, tương sinh tương khắc để đạt cân bằng. “Thượng Thư – Hồng Phạm” đã định rõ số Ngũ Hành:

  • Một là Thủy, hai là Hỏa, ba là Mộc, bốn là Kim, năm là Thổ.
    Đồng thời nêu rõ tính chất Ngũ Hành:
  • Thủy nhuận hạ (thấm xuống), Hỏa viêm thượng (bốc lên), Mộc khúc trực (cong thẳng), Kim tòng cách (uốn nắn), Thổ giá sắc (trồng trọt).

“Hoàng Đế Nội Kinh – Tố Vấn – Ngũ Thường Chính Đại Luận” luận giải chi tiết hơn:

  • Ngũ Hành ở trạng thái “bình khí”:
    • Mộc vi Phu Hòa (hòa dịu), Hỏa vi Thăng Minh (sáng tỏ), Thổ vi Bị Hóa (hóa sinh), Kim vi Thẩm Bình (ổn định), Thủy vi Tĩnh Thuận (êm dịu).
  • Ngũ Hành “bất cập” (suy yếu):
    • Mộc vi Ủy Hòa (ủ rũ), Hỏa vi Phục Minh (ẩn tối), Thổ vi Ti Giám (thấp kém), Kim vi Tòng Cách (gượng ép), Thủy vi Mê Lưu (chảy loạn).
  • Ngũ Hành “thái quá” (thịnh vượng):
    • Mộc vi Phát Sinh (bùng nổ), Hỏa vi Hách Hi (rực lửa), Thổ vi Đôn Phụ (dày đặc), Kim vi Kiên Thành (cứng rắn), Thủy vi Lưu Diễn (tràn lan).

Hiểu sâu tính chất và mối quan hệ Ngũ Hành, đồng thời ứng dụng nội Ngũ Hành trong cơ thể với ngoại Ngũ Hành của vũ trụ, nuôi dưỡng chân khí, điều hòa âm dương — đó chính là đạo trường sinh.

Yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến vận hành cơ thể là trời đất, cụ thể hóa thành trái đất, mặt trăng, mặt trời:

  • Trái đất tự quay một vòng tương ứng một ngày đêm — ứng với “Mão Dậu chu thiên” trong cơ thể.
  • Mặt trăng quay quanh trái đất tương ứng tiểu chu thiên.
  • Trái đất quay quanh mặt trời tương ứng đại chu thiên.
    “Chu thiên” chính là các chu kỳ vận hành sự sống. Người không tu luyện vẫn hoạt động theo chu kỳ trời đất — đó là “thuận”. Người tu luyện chủ động điều hòa âm dương khí theo chu thiên — đó là “thuận thượng thừa”. Bậc cao thủ lấy ngoại Ngũ Hành chân khí dưỡng nội khí, nghịch hành luyện đan, thủy hỏa giao hòa, kết thành kim đan — đây mới là cảnh giới tối thượng.

《百字碑》 (Bách Tự Bi) của Lữ Tổ (Lữ Động Tân)

Dưỡng khí quên lời giữ,
Hạ tâm chẳng vướng làm.
Động tĩnh biết tông tổ,
Vô sự tìm ai hơn?

Chân thường ứng với vật,
Ứng vật chớ mê lầm.
Không mê tính tự định,
Tính định khí tự về.

Khí về đan kết tự nhiên,
Trong bình âm dương hòa.
Âm dương sinh phản phúc,
Một tiếng sấm khắp xa.

Mây trắng lên đỉnh đầu,
Cam lộ rướn núi thiêng.
Tự uống rượu trường sinh,
Thảnh thơi ai hay riêng?

Ngồi nghe khúc đàn không dây,
Thấu suốt cơ tạo hóa.
Hai mươi câu gom lại,
Thang trời thẳng bước qua.

Vương Lực Bình tiếp tục luyện công theo lời sư phụ, tỉ mỉ thể nghiệm đạo lý của “tam chu thiên” (ba vòng tuần hoàn khí).

Buổi sáng mặt trời mọc phương đông, giờ Mão, khí trời đón ánh dương, nhiệt độ tăng, thể tích nở ra, từ từ bay lên — đây là Thiếu Dương chủ sinh khí.
Giữa trưa mặt trời lên đến đỉnh đầu, giờ Ngọ, nhiệt độ tăng cao, khí bốc lên mãnh liệt, vạn vật sinh trưởng mạnh nhất — gọi là Lão Dương chủ trưởng khí.
Buổi chiều mặt trời xế tây, giờ Dậu, nhiệt lượng tiêu tán, khí thu nhỏ dần, vạn vật bắt đầu thu liễm — gọi là Thiếu Âm chủ thu khí.
Nửa đêm mặt trời lặn, giờ Tý, khí lạnh co lại, chìm xuống — gọi là Lão Âm chủ tàng khí.

Khí trong cơ thể tương ứng như sau:

  • Can khí ứng Thiếu Dương chủ sinh,
  • Tâm khí ứng Lão Dương chủ trưởng,
  • Phế khí ứng Thiếu Âm chủ thu,
  • Thận khí ứng Lão Âm chủ tàng.
  • Giờ Tý: Thận khí sinh, giờ Mão đến Can, giờ Ngọ đến Tâm (tích khí sinh dịch), giờ Dậu đến Phế, giờ Tý trở về Thận.
  • Thận khí như nước, Tâm khí như lửa. Nước thấm xuống, lửa bốc lên — “thủy hỏa vị tế” nên không trường tồn. Người tu luyện thành công đảo ngược thành “thủy thượng hỏa hạ” — “thủy hỏa ký tế”, từ đó đạt trường sinh.

Khi luyện tiểu chu thiên, nhờ nội cấm sung mãn, khí vượt qua Vĩ Lư, Giáp Tích, Ngọc Chẩm — liên tiếp phá ba ải. Chỉ khi khí lên đến Bách Hội huyệt (đỉnh đầu), cần sư phụ hỗ trợ. Xung quanh Bách Hội thường có bốn điểm sáng lấp lánh, cổ nhân gọi là “Tứ Đại Môn Thần”, canh giữ nghiêm ngặt. Dù chân khí mạnh mẽ cũng khó xuyên qua. Phải nhờ sư phụ “điểm động” Tứ Đại Môn Thần, “Thiên Môn” mới mở.

Điều khiến Lực Bình kinh ngạc nhất là sau khi thông tiểu chu thiên, anh cảm nhận một luồng ấm áp từ sau lưng chầm chậm dâng lên đỉnh đầu, rồi từ trước mặt hạ xuống — chu kỳ đúng một tháng, hòa nhịp với vận hành của mặt trăng. Dù bị nhốt trong phòng tối mấy ngày, anh vẫn biết chính xác vị trí mặt trăng và ngày âm lịch.

Từ đó, không khỏi khiến người ta liên tưởng đến cái gọi là “phương pháp tốc thành tiểu chu thiên” xuất hiện gần đây. Người ta đồn rằng, kẻ chưa từng luyện công, sau khi học phương pháp của họ, có thể thông tiểu chu thiên chỉ trong vài ngày. Cái “thần” cái “diệu” của phương pháp ấy, e rằng chỉ có bản thân họ mới hiểu rõ. Liệu những kẻ tự nhận đã thông tiểu chu thiên ấy có thể cảm nhận được vận hành của mặt trăng như Lực Bình chăng?

Trái Đất quay quanh Mặt Trời một vòng ứng với một năm, người Trung Hoa chia thành 24 tiết khí. Trong luyện công, bốn thời điểm trọng yếu là “nhị phân” (xuân phân, thu phân) và “nhị chí” (đông chí, hạ chí). Lấy trời đất ví với thân người: tâm là trời, thận là đất, can thuộc dương vị, phế thuộc âm vị, “khí” thuộc dương, “dịch” thuộc âm.

  • Đông chí: Mặt Trời đi về nam bắt đầu quay lại bắc — ở Bắc bán cầu, âm cực sinh dương, thận khí trong cơ thể bắt đầu tăng trưởng.
  • Xuân phân: Thận khí thăng lên đến Can.
  • Hạ chí: Mặt Trời đi về bắc bắt đầu quay lại nam — ở Bắc bán cầu, dương cực sinh âm, dương khí trong người lên đến Tâm, tích khí sinh dịch, dịch bắt đầu giáng xuống.
  • Thu phân: Dịch từ Tâm giáng đến Phế, rồi đến đông chí lại nhập Thận.

Vào những ngày chuyển tiết then chốt, Vương Lực Bình ngồi kiết già dưới sự hộ trì của sư phụ, tỉ mỉ thể nghiệm biến hóa “vi diệu” trong thân thể, dùng Hoàng Đình làm đỉnh để luyện khí kết đan. “Lão Tử” viết: “Cốc thần bất tử, thị vị huyền tẫn. Huyền tẫn chi môn, thị vị thiên địa căn, miên miên nhược tồn, dụng chi bất cần.” (Thần hang không chết, gọi là huyền tẫn. Cửa huyền tẫn là gốc trời đất, mơ hồ mà tồn tại, dùng mãi không cạn).

Huyền quan nhất khiếu (huyệt huyền quan) này có thể chứa đựng hư không vô tận. Kinh Đạo ghi: “Cực trên của trời cách cực dưới đất 84.000 dặm, chính giữa là 42.000 dặm. Thân người như tiểu thiên địa, khoảng cách tâm mạch cũng 8 tấc 4 phân, chính giữa là 4 tấc 2 phân.” Huyệt này nằm dưới Càn, trên Khôn, tây Chấn, đông Đoài, nơi giao hội của bát mạch cửu khiếu, treo lơ lửng viên “thái châu” — chính là trung tâm trời đất trong thân thể, nơi tàng chứa nguyên thủy tổ khí chi khiếu. Thuần Dương Tổ Sư từng nói:
“Huyền tẫn huyền tẫn chân huyền tẫn,
Chẳng ở tâm đâu chẳng ở thận,
Tìm về lúc mới thọ thai sinh,
Đừng trách thiên cơ đã lộ hết.”

Có thể thấy tầm quan trọng của huyệt này. Vương Lực Bình khi tu luyện đến đây cũng đã (trải qua trạng thái chết giả vài lần.

Chương 5: Phục Thực Tịch Cốc

Vương Lực Bình khổ tu tam giới, chớp mắt đã qua 3 năm. Tam lão thấy đệ tử từ thiếu niên đã dần dần phát triển thành người lớn, tu luyện đã có thành tựu, muốn tiếp tục hướng dẫn Lực Bình đến cảnh giới cao hơn. Và Vương Lực Bình đã trải qua tình cảnh khó quên trong đời đối với lần đầu tiên “Phục Đan” (uống đan). 

Phương pháp dưỡng sinh cổ đại chia làm nội tu (tu luyện bên trong) và ngoại dưỡng (bồi bổ bên ngoài). Ngoại dưỡng thức là Phục Thực (ăn uống), sau phát triển thành kỹ thuật luyện đan. 

Phục thực khởi nguồn từ thời kỳ Chiến Quốc, đến thời Tần Hán thì phát triển mạnh, đặc biệt đến thời Ngụy Tấn phong trào này lại càng phát triển. Quyển “Bão Phác Tử” của Cát Hồng ghi chép tỉ mỉ về việc này. Có điều thời kỳ này phần lớn Phục Thực là ăn các loại thảo dược, cũng có người Phục thực bằng bánh. 

“Ngoại đan” được luyện từ chì, thủy ngân… Cát Hồng cực kỳ coi trọng ngoại đan, trong 《Bão Phác Tử》 ghi lại hàng chục phương pháp luyện đan. Ông viết: “Muốn cầu tiên, cần nắm được yếu lĩnh. Yếu lĩnh nằm ở ba việc: giữ tinh khí, hành công, dùng một viên đại dược — không cần nhiều. Nhưng ba việc này còn phân sâu cạn, nếu không gặp minh sư, không chịu khổ luyện, khó mà thấu hiểu.”

  • “Giữ tinh khí” là phòng trung thuật (thuật phòng the).
  • Phục đan, hành khí, bảo tinh là ba yếu tố quan trọng để tu luyện thành tiên.

Cát Hồng còn nêu chi tiết lưu ý khi luyện đan: “Luyện đan phải chọn nơi danh sơn, đất vắng người, số người cùng luyện không quá ba. Trước đó trai giới trăm ngày, tắm rửa thơm tho, tránh uế tạp và tiếp xúc phàm tục. Không để kẻ bất tín biết, kẻo báng bổ thần dược — đan sẽ thất bại.” Danh sơn có chính thần hộ vệ, thích hợp luyện đan. Đạo sĩ nhập sơn luyện đan phải chọn ngày lành, đeo phù ấn.

Dù đóng góp của thuật luyện đan cổ đại cho hóa học hiện đại là rất nhiều nhưng ở đây không bàn đến, điều không thể phủ nhận là trào lưu phục đan tồn tại suốt ngàn năm, ắt phải có hiệu quả thần kỳ. “Kim đan” được dân gian truyền tụng rộng rãi, văn học càng thổi phồng thành vật phẩm siêu nhiên. Tuy nhiên, không ít trường hợp chết vì dùng đan. Thực tế, chu sa (đan sa) có tác dụng với cơ thể, nhưng phải luyện đúng pháp, dùng đúng cách.

Đạo gia có nhiều bài học kinh nghiệm sâu sắc trong việc luyện đan và phục đan, thế nên rất thận trọng trong quá trình luyện đan. Đặc biệt là môn phái Toàn Chân Long Môn, chú trọng tu luyện nội đan, và chỉ phục ngoại đan để bổ trợ cho tu luyện nội đan. Luyện chế và phục ngoại đan đều do minh sư có kinh nghiệm phong phú chỉ đạo. 

Dưới sự bảo hộ của Tam Lão, Vương Lực Bình đã nuốt viên “kim đan” mà họ mang từ núi Lao Sơn về trong lúc bụng đói. Viên đan từ từ tan chảy trong cơ thể, hòa vào khí huyết lan khắp người. Tam Lão hướng dẫn anh ngồi kiết già vận công, dùng nội lực đẩy dịch đan từ nội tạng ra biểu bì. Đêm tĩnh lặng, căn nhà đơn sơ của ba lão đạo càng thêm yên ắng. Dưới ánh đèn mờ, Lực Bình tĩnh tọa luyện công, ba vị sư phụ đứng vây quanh, nét mặt nghiêm nghị. Từ khi nhập đạo, họ đã xả thân mạng. Bốn thầy trò đang thực hiện một sứ mệnh thiêng liêng, một thử nghiệm vĩ đại.

Chân Lực Bình lại bị trói bằng dây thừng — điều đã không xảy ra từ khi anh khổ luyện tam giới. Anh hiểu tính chất nghiêm trọng của việc này. Với công lực hiện tại, thông thường chẳng cần trói buộc. Lực Bình định thần, vận khí duy trì công phu, kiên trì từng giờ.

Một ngày trôi qua. Độc tính trong “kim đan” dần phát tác. Lực Bình cảm thấy ngũ tạng như bị lửa thiêu đốt, đầu óc quay cuồng, cuối cùng mất kiểm soát, ngã gục trong vô thức. Nhưng chân bị trói nên tư thế kiết già vẫn nguyên vẹn. Thanh Tĩnh Đạo Nhân dùng nước lạnh đã chuẩn bị sẵn tạt vào mặt anh, đỡ anh ngồi dậy. Tam Lão âm thầm vận pháp trợ lực. Lực Bình tiếp tục duy trì vận công.

Đêm thứ hai qua đi. Sáng hôm sau, Tam Lão quan sát thấy da Lực Bình chuyển màu xanh, đỏ, đen xen kẽ. Kinh nghiệm cho họ biết: giai đoạn nguy hiểm đã qua. Ba vị thở phào nhẹ nhõm.

Chất độc trong cơ thể bị “kim đan” ép ra biểu bì, khiến da Lực Bình biến sắc. Tính mạng anh đã an toàn, nhưng chưa thể thu công. Nếu dừng lại lúc này, độc tố đông kết trên da sẽ khiến toàn thân tàn phế, công lực trước đây cũng tiêu tan. Dù công phu thâm hậu, Lực Bình chưa từng trải qua lần hao tổn nội khí như thế. Anh gần như kiệt sức. Cơn đau thiêu đốt nội tạng đã qua, giờ đây toàn thân anh ngứa ngáy, nóng rát, sưng tấy khôn tả — chỉ muốn dùng tay cào nát da thịt cho đỡ đau. Sư phụ nghiêm lệnh: “Không được cử động!”

Lại một đêm vật vã nữa trôi qua. Đến chiều ngày thứ ba, Vương Lực Bình cảm thấy toàn thân khoan khoái lạ thường. Màu da anh chuyển biến kỳ diệu: những mảng đen, đỏ, xanh trước kia đã hóa thành sắc trắng hồng hào khỏe mạnh. Mỗi lỗ chân lông đều lấp lánh những hạt sương long lanh dưới ánh sáng mặt trời. “Kim đan” đã hoàn thành vòng vận chuyển trong cơ thể và được đào thải hoàn toàn. “Khí lộ” từ biểu đến lý của anh giờ đã thông suốt.

Sư gia quan sát tỉ mỉ, xác nhận kết quả viên mãn. Mọi người vui mừng đến rơi nước mắt. Tam Lão bỗng hóa thành những đứa trẻ nghịch ngợm, nhảy cẫng lên ăn mừng. Lực Bình — như đứa con tinh thần họ dày công nuôi dưỡng — bị ba vị giành nhau ôm ấp, hôn lên má không ngớt.

“Thành công rồi! Đứa con của chúng ta đã chào đời!”

Sư gia nắm tay Lực Bình, dẫn anh chạy lên núi.

Bốn thầy trò vượt qua bụi cỏ tiến vào rừng cây. Cảnh hoàng hôn vô cùng rực rỡ. “Hãy hít thở không khí trong lành trước ánh chiều tà đi!” — Tam Lão thở phào nhẹ nhõm. Lực Bình cũng thư thái, nhưng trong lòng anh dâng lên cảm giác khác thường: không cần dùng mũi hay miệng để thở, chỉ khẽ động bụng dưới, thiên địa khí đã từ khắp phương trời ào ạt đổ vào lỗ chân lông. Luồng khí mát lạnh, hòa tan, thấm sâu vào từng tế bào, khiến anh như hòa làm một với vũ trụ.

Tam Lão xem xét kỹ đôi mắt và làn da Lực Bình, biết rằng cơ thể anh đã thay đổi căn bản. Họ quyết định thời cơ đã chín muồi để truyền dạy bước thứ tư — 《Tịch Cốc》 (phương pháp nhịn ăn ngũ cốc).

Vốn dĩ, Vương Lực Bình đã có thiên hướng kỳ lạ: từ nhỏ không ăn thịt cá, chỉ dùng ngũ cốc, rau củ đạm bạc. Từ khi theo Tam Lão luyện công, anh dần hấp thu năng lượng trực tiếp từ tự nhiên qua 《Linh Bảo Thông》, nên việc ăn uống càng trở nên tùy hứng. Tam Lão sống giản dị, tự trồng rau củ trên mảnh đất hoang gần nhà, dành phần lớn thời gian dạy đệ tử và chữa bệnh. Lực Bình thường ăn cùng các sư phụ, nhưng đôi khi mải luyện công suốt mấy ngày quên cả ăn, hoặc chỉ dùng qua loa khi đi học về.

Hiện tại, sư phụ đang dạy anh Tịch Cốc (Bế Cốc), từ cạn đến sâu, không phải việc quá khó. Nhưng anh không biết trong đó còn nhiều đạo lý ẩn sâu.

Đạo gia cho rằng trong cơ thể có “Tam Thi” (Ba Xác), còn gọi là “Tam Thi”, đều gây hại cho con người:

  • Thượng Thi tên Bành Oa, ham mê của cải;
  • Trung Thi tên Bành Chất, thích ngũ vị;
  • Hạ Thi tên Bành Kiều, đam mê sắc dục.

Đạo gia cũng tin rằng trong người có “Tam Trùng” (Ba Giun):

  • Thượng Trùng ở não cung,
  • Trung Trùng tại âm đường,
  • Hạ Trùng trú trong dạ dày — đều là ma chướng hại thân. Tam Trùng sống nhờ khí từ ngũ cốc, muốn diệt chúng phải đoạn tuyệt ngũ cốc. Muốn trừ Tam Thi, cũng cần Tịch Cốc.

Tịch Cốc tiến hóa từ phục khí thời Tiên Tần. Khuất Nguyên trong 《Sở Từ》 viết:
“Nuốt khí hang động, uống sương mù đêm,
Hấp thu chính dương, giữ lại ráng mai.
Giữ tinh thần trong sạch,
Tinh khí vào, uế trược tiêu.”
Khi rời cung đình du ngoại, Khuất Nguyên đã dùng phương pháp phục khí. Đến cuối Hán – Ngụy Tấn, thuật tiên gia hưng thịnh, phục khí và Tịch Cốc trở nên phổ biến.

Sử sách các đời đều ghi chép về Tịch Cốc. 《Hậu Hán Thư – Phương Thuật Truyện》 chép:
“(Hách) Mạnh Tiết có thể ngậm hạt táo, không ăn suốt 5-10 năm. Lại có thể ngưng thở, thân bất động như người chết, duy trì trăm ngày đến nửa năm.”
《Bão Phác Tử Nội Thiên》 viết:
“Ta từng gặp nhiều người Tịch Cốc 2-3 năm, thân thể nhẹ nhàng, sắc mặt tươi tắn, chịu được phong hàn thử thấp, đa phần không béo phì.”
Lại có người tên Phùng Sinh, chỉ nuốt khí, Tịch Cốc đã 3 năm, leo núi gánh nặng cả ngày không mệt. Khi bắn cung, hầu như không nói, nói cũng không lớn tiếng. Hỏi ra mới biết: “Tịch Cốc kỵ nhất hao tổn tinh khí.”

Ngày nay, báo chí thỉnh thoảng vẫn đưa tin về những người có thể Tịch Cốc.

Tam Lão truyền thu cho Vương Lực Bình công phu Tịch Cốc, từ thấp đến cao, chia làm 3 bước luyện tập.

  • Bước 1: “Đoạn Cốc”. Đoạn cốc tức là không ăn tinh bột và thực phẩm làm từ ngũ cốc, ăn một lượng nhỏ rau và hoa quả để duy trì sự sống, làm cho hệ tiêu hóa được giảm tải rất lớn, tức là lấy vật sạch sẽ để tẩy rửa tạng phủ sạch sẽ. Luyện công phu này yêu cầu ít nhất 2 tháng, nếu càng kéo dài càng tốt. Trong lúc luyện tập công phu này, Vương Lực Bình vẫn học tập và hoạt động như một người bình thường. Lực Bình thường đến những cây cối tươi tốt, hoa cỏ xum xuê để luyện công vào các giờ Tí Ngọ Mão Dậu, để làm cho Chân Khí Ngũ Tạng mạnh lên. Công phu này Lực Bình luyện tập tổng 98 ngày, thừa 3 tháng. Cảm nhận của cơ thể nhẹ nhàng, tinh thần khoan khoái.
  • Bước 2: “Đoạn Thực”. Đoạn Thực tức là không nạp bất kỳ thức ăn nào, mỗi ngày chỉ uống một cốc nước lạnh vào sáng và tối. Tu luyện công phu này giúp cơ thể loại bỏ hoàn toàn chất cặn bã, thậm chí không còn tiểu tiện. Tâm tính trở nên thanh tịnh, thân thể trong sạch, chỉ trao đổi chân khí với tự nhiên, cảm giác như đặt chân vào một cảnh giới khác. Vương Lực Bình đã kiên trì thực hiện bước này hơn 50 ngày.
  • Bước 3: Ngọa Cố:  Cố định công phu

Sau khi hoàn tất 2 bước trên, toàn bộ cơ thể Vương Lực Bình giống như mới tắm rửa xong, hồng nhuận trong suốt, tinh thần nhẹ nhàng thư thái, thấu suốt từ trong ra ngoài. 

Tam lão nhìn Lực Bình như một em bé vừa tái sinh, đã đem cơ thể huyết nhục tầm thường luyện thành một cơ thể băng thanh ngọc khiết. Bao nhiêu năm bị khí của trần thế ô trọc che lấp nay đã được tẩy rửa sạch sẽ, niềm vui của Tam lão không giấu được dưới ánh mắt. 4 năm tâm huyết của Tam lão, cuối cùng cũng sinh ra một bông hoa rực rỡ,  tỉ mỉ đục đẽo mãi cũng khắc ngọc thành hình. Đây quả là vưu vật của Hạ tam giới, 

Lúc này Tam lão ra lệnh cho Lực Bình: “ Từ hôm nay trở đi bắt đầu Ngọa Cố, chỉ tọa bàn tại đây không đứng dậy, nước cũng không uống nữa, cứ thế luyện công.”

Lúc này là chính hạ năm Bính Ngọ, Mùa thu năm 1966, khí hậu đã trở nên oi nóng, 4 người đều không quản thời tiết, chỉ chăm chỉ luyện công.

Mỗi ngày sớm, trưa, tối sư phụ đều rải nước sạch lên mặt đất, khiến cho không khí trong phòng có chút hơi ẩm, Vương Lực Bình dựa vào chút hơi ẩm này để làm ẩm cho toàn thân, còn lại dùng chân khí để duy trì sinh mệnh, hai vị sư phụ thay nhau túc trực bảo vệ anh.

Một ngày trôi qua

Hai ngày trôi qua

Ba năm ngày trôi qua

Vương Lực Bình như một khối đá bất động, tâm tĩnh như chết. Nhật nguyệt trăng sao, núi sông hồ biển, hoa cỏ cây cối, bố mẹ anh em, thầy giáo bạn bè, sư gia sư phụ, xuân hạ thu đông, ngày sáng đêm tối, trời nam đất bắc, trên dưới trái phải, hàn nhiệt ôn lương, sinh lão bệnh tử, vui thương sầu bi, cay đắng ngọt bùi, tất cả tất cả những thứ ấy, từ lúc Lực Bình oe oe chào đời đã nhìn thấy, nghe thấy, cảm nhận thấy, tưởng tượng đến người và việc của “hạ tam giới”, đều lặng lẽ biến mất từ trong tim của anh, trong não, trong cơ thể anh ta. Không có thời gian, không có không gian, tất cả đều là hư vô, trống không.

Mười ngày trôi qua

Vương Lực Bình vẫn như thế, Sư gia Sư phụ quan sát màu sắc da anh hồng nhuận, cơ thể phản ứng bình thường mới yên tâm, vẫn là do 2 vị sư phụ thay nhau tưới nước, bảo vệ. 

Mười lăm ngày trôi qua

Hai mươi ngày trôi qua

Moi thứ của Vương Lực Bình vẫn bình thường, Tam lão quan sát anh ngồi tĩnh tọa như tiên, thần sắc an tường. Tam lão vẫn quan sát liên tục, không dám sơ ý chút nào.

Hai mươi lăm ngày trôi qua

Đêm ấy gió mưa nổi lên, sấm chớp vang trời. Tam lão vội đóng chặt cửa sổ, như thể có chuyện bất thường sắp xảy ra. Họ trang nghiêm thay đạo bào, tay cầm bảo kiếm, đốt hương làm lễ, nghiêm nghị thực hiện pháp sự, truyền linh tín đến Vương Lực Bình:

“Ta là truyền nhân chính tông của Long Môn từ xưa đến nay, lấy tâm cầu đạo, lấy thân chứng đạo, Tịch Cốc Ngọa Cố đã đến giai đoạn sinh tử. Nay con đã trở thành truyền nhân của Long Môn, hãy noi gương tổ sư, vượt sinh tử mà tiến tới, không được lầm đường lạc lối!”

Vương Lực Bình trong tĩnh tọa mơ hồ thấy có người chỉ điểm, trong khoảnh khắc lĩnh hội được điều gì đó. Thần hồn thủ xá, vẫn kiên định tĩnh tọa.

Hai mươi sáu ngày trôi qua

Hai mươi bảy ngày trôi qua

Hai mươi tám ngày trôi qua

Đêm ấy mưa gió lại nổi lên, mây đen vần vũ, trời thấp như đè xuống khiến người ta khiếp sợ. Trong thung lũng, chỉ thấy ngọn đèn dầu leo lét, không khí căng thẳng ngột ngạt. Tam Lão đều cầm Bảo Kiếm, đứng vây quanh Vương Lực Bình, chẳng một tiếng động.

Bỗng nhiên, ngọn lửa đèn dầu lóe lên, Vương Lực Bình từ từ ngã xuống, hai chân buông thõng, tay đặt nhẹ hai bên thân thể. Lúc này, thần sắc hắn an nhiên tĩnh tại, bất động như tượng đá. Tam Lão kiểm tra nhịp tim, hơi thở, đều đã ngừng hẳn, biết rằng anh đã tắt thở. Tam lão lập tức bày trận, ngồi xếp bằng quanh anh, nâng Thanh Phong Bảo Kiếm lên, vận công thi triển pháp thuật. Sư gia ra lệnh dừng gió tạnh mưa trong phạm vi trăm dặm, thương lượng với chư thần chư tiên không được quấy nhiễu, lại cấm các vật thuần âm tiếp cận. Hai vị sư phụ thi triển tuyệt kỹ, phong ấn thi thể Vương Lực Bình. Tam Lão duy trì pháp trận không ngừng nghỉ, ngày đêm canh giữ cẩn trọng.

Sư gia đã sớm đặt linh vị của Vương Lực Bình bên cạnh linh vị Tổ sư, đặt trên bàn thờ, rồi thắp hương cúng bái.

Kể từ khi Vương Lực Bình bắt đầu bước vào giai đoạn Tịch Cốc Ngọa Cố, tự cảm thấy vạn vật đều hư không, về sau thậm chí mọi cảm giác cũng biến mất.

Bỗng nhiên, thân thể anh chẳng biết từ lúc nào đã bay lơ lửng. Tất cả những gì anh từng quen thuộc – nhà cửa, trường học, núi rừng, đồng cỏ, lối mòn, cha mẹ, bạn học, sư gia cùng sư phụ – đều tan biến. Anh vừa trải qua một phen thống khổ tột cùng, nhưng ký ức mờ nhạt, mọi thứ tiêu tán không dấu vết, khó hiểu vô cùng.

Vương Lực Bình chỉ cảm thấy toàn thân nhẹ bẫng, thoải mái khôn tả. Trong chớp mắt, xung quanh tối đen như mực, trống không lạnh lẽo, anh như sắp rơi vào vực thẳm nghìn trượng. Anh giãy giụa, cố vùng vẫy bám lên phía trên, nhưng tay chân chẳng chạm được vào đâu, tựa sợi tơ mỏng manh vô lực. Đột nhiên, một vầng hào quang chói lòa hiện ra. Trước mặt anh bỗng hóa ra một con đường rộng lớn sáng rực. Anh men theo lối đi, thong dong phiêu đãng, bồng bềnh như mây. Hai bên đường, non xanh mơn mởn, suối róc rách, cỏ thơm ngút ngàn, hương hoa ngào ngạt. Cảnh vật u tịch, trong lành, chẳng một chút bụi trần.

Vương Lực Bình đang không rõ mình tới nơi nào, chợt thấy trước mặt có nhiều người tiến lại, đều mặc trang phục cổ xưa, cử chỉ đoan trang, tươi cười đón chào. Vị lão nhân cao tuổi nhất, gò má cao, râu bạc phơ, bước đến nắm tay Vương Lực Bình, dẫn hắn vào một khuôn viên nằm lưng chừng núi, ẩn hiện dưới tán cây rừng. Vương Lực Bình nhìn quanh: sân vườn, nhà cửa đều giản dị mà sạch sẽ. Vị trưởng lão dẫn Lực Bình vào phòng, ra hiệu mời ngồi, những người khác cũng thi lễ rồi theo thứ tự an vị. Trưởng lão lại sai người dâng trà, trái cây rừng mời hắn dùng. Lực Bình không từ chối, nghĩ thầm đúng ý mình, liền nâng chén uống, chẳng cảm nhận nóng lạnh, chỉ thấy hương thơm ngát thấm vào tâm can; lại cầm trái cây ăn, không nghe tiếng động, chỉ thấy vị ngọt thơm mát dịu. Mọi người thấy hắn phóng khoáng như vậy đều vui vẻ. Duy trưởng lão trầm ngâm, bèn hỏi: “Tuổi thọ ngươi còn dài, sao hôm nay lại tới đây?” Lực Bình không hiểu ý, vẫn tiếp tục ăn. Trưởng lão thấy anh không đáp, không hỏi nữa, bắt đầu từ mình, lần lượt giới thiệu những người hiện diện. Nghe trưởng lão nói chính là tổ tiên mình, Lực Bình vội đặt trái cây xuống, quỳ lạy. Những người còn lại cũng là tiền nhân các đời trước của anh, Lực Bình đều vái chào từng người. Anh còn trẻ, tổ tiên đời trước nào từng gặp? Nay thấy hết, lòng tràn ngập hoan hỉ.

Dù đã tu luyện nhiều năm, tính tình Lực Bình vốn phóng khoáng, nay tới chốn thần tiên này – nơi xưa nay chưa từng biết – liền thỏa thích ngao du. Anh chẳng nhớ đã đi qua bao nhiêu nơi, nhưng đều viếng thăm hết chỗ ở của liệt tổ liệt tông. Ngay cả người thân bạn bè của tổ tiên cũng đều gặp gỡ. Cõi này không chỉ cảnh sắc hữu tình, thanh nhã, mà quan hệ giữa người với người cũng hòa ái, mọi thứ được sắp xếp quy củ. Nhà cửa san sát hài hòa. Người người nhàn nhã ngồi trò chuyện, hoặc bàn luận phong cảnh, hoặc đánh cờ tiêu khiển.

Lực Bình chẳng biết thời gian trôi qua bao lâu, chỉ cảm thấy qua những cuộc giao tiếp với mọi người, hắn học được vô số điều. Tính ra, tựa như đã trải qua mấy chục năm.

Điều duy nhất khiến anh băn khoăn là nơi đây không có lao động sản xuất, người với người không tranh giành oán hận, trải qua bao năm tháng cũng chẳng thấy ai sinh tử, ốm đau già nua – quả là kỳ lạ.

Đang lúc Lực Bình ngồi dưới gốc tùng cổ lưng chừng núi xem hai lão nhân đánh cờ, vị tổ tiên trưởng lão phất phới đi tới, nắm tay anh n nói: “Mệnh lệnh ngươi phải trở về, không được lưu lại đây lâu.” Rồi một nhóm người tiễn anh ra con đường bằng phẳng sáng rực, vẫy tay từ biệt.

Trong lúc mê man, Lực Bình nghe văng vẳng tiếng thì thầm bên tai, cảm giác cơ thể dần hồi phục. Anh từ từ mở mắt, thấy ánh đèn trong phòng mờ ảo, sư gia cùng sư phụ vẫn ngồi xếp bằng bất động, thanh Bảo Kiếm ánh xanh lấp lánh. Biết mình vẫn ở trong phòng, anh vội ngồi bật dậy, tựa như vừa thoát khỏi giấc mộng dài.

Tam Lão thấy anh tỉnh lại, liền ngừng pháp thuật, đứng dậy hướng không trung vái lạy, rồi ôm chầm lấy Lực Bình, nước mắt lặng lẽ rơi.

Nghe Tam Lão kể lại sự tình, Lực Bình mới biết mình đã Ngọa Cố suốt hai mươi tám ngày, “tắt thở” ba ngày ba đêm. Trong khoảng thời gian ấy, Tam Lão không rời nửa bước, dốc hết tâm lực hộ pháp. Vương Lực Bình nghe xong, nước mắt tuôn trào.

Chí hư cực

Thủ tĩnh

Vạn vật tính tác

Ngô dĩ quán kỳ phục

  • Lão Tử –

Quyển Trung: Tái Sinh Trùng Luyện

Chương 6: Tuy Tử Phục Sinh

Sau nhiều ngày chiến đấu gian khổ, bốn thầy trò cuối cùng cũng đại thắng, chìm đắm trong muôn vàn cảm xúc phức tạp hậu chiến: nhọc nhằn, khổ ải, hạnh phúc, hoan lạc, mệt mỏi, thư thái.

Đạo nhân Vô Cực trước tiên lau khô dòng lệ, tự tay rót một bát canh đưa cho Vương Lực Bình. Vừa uống xong, Lực Bình lập tức tinh thần phấn chấn, khí huyết điều hòa. Tam Lão cũng uống canh để hồi phục thể lực.

Đạo nhân Vô Cực dẫn Vương Lực Bình đến trước bàn thờ, bảo hắn quỳ lạy Tổ sư. Sau khi Lực Bình đứng dậy, Đạo nhân Vô Cực hỏi: “Ngươi thấy trên này khắc gì?” Lực Bình chăm chú nhìn, chỉ thấy hàng chữ:

Linh vị của Vương Vĩnh Sinh
Truyền nhân đời thứ 18 Toàn Chân Đạo Long Long Môn phái – Linh Linh Tử

Vương Lực Bình giật mình sửng sốt, giờ mới biết mình đã từng chết một lần. Anh chợt nhớ lại những cảnh tượng ở cõi khác vừa trải qua, từng phân cảnh như in rõ trước mắt.

Anh đem hết những chuyện đã kinh nghiệm kể lại cho Tam Lão. Cả ba đều từng trải qua, gật đầu tán đồng.

Vương Lực Bình nói với người chấp bút cuốn sách này: “Đây là trải nghiệm khó quên nhất trong đời tôi. Quá chân thực, khiến người ta không thể nào quên. Người sống trên đời đều biết có sinh có tử. Cảm giác lúc chào đời thế nào? Không ai nhớ được. Khoảnh khắc lìa đời cảm giác ra sao? Tình cảnh sau khi chết thế nào? Chỉ người đã chết mới tự thân trải nghiệm. Nhưng kẻ chết không sống lại, họ chẳng thể kể cho bạn nghe về cái chết. Xét từ góc độ nghiên cứu nhân sinh, sinh tử là giai đoạn trọng yếu, nhưng khoa học đến nay vẫn ít khám phá lĩnh vực này. Văn hóa Đạo gia từng nghiên cứu sâu, tích lũy vô số tư liệu, nhưng nếu không thay đổi tư duy, những tài liệu ấy mãi vô dụng, vấn đề hệ trọng này cũng chẳng thể đào sâu. Tôi là người vài lần nếm trải cái chết, lần này giúp tôi thấu hiểu nhiều điều. Ngay cả vấn đề thời-không thường được bàn luận, tri thức của tôi cũng khác biệt với thường nhân, đặt nền móng cho việc học Đạo sau này.”

Vương Lực Bình ngừng lời một lát, rồi tiếp tục thuật lại trải nghiệm khó quên ấy.

“Khoảnh khắc lìa đời quả thực vô cùng đau đớn. Muốn giãy giụa nhưng chẳng còn chút sức lực. Nếu còn sức, đã chẳng chết. Nhưng cảm giác ấy chóng vánh tan biến. Kế đó, thời gian đảo ngược vùn vụt, không gian cũng biến chuyển theo. Mọi chuyện xưa cũ lướt qua như phim, cả những ký ức mờ nhạt nhất cũng hiện về. Rồi có người dẫn lối, đưa ta đến chốn xa lạ, cảnh đẹp khôn tả, được gặp người thân đã khuất. Ba ngày trần gian, nơi ấy tựa mấy chục năm. Học vô vàn điều, khi tỉnh dậy vẫn nhớ như in. Tôi chưa từng gặp tiền nhân các đời trước. Sau này, tôi kể hình dáng, tính tình, trang phục của họ cho cha mẹ nghe, ai nấy đều kinh ngạc bảo đúng y như vậy. Điều ấy chứng tỏ tôi thực sự đã gặp họ, không hề bịa đặt, dối trá.”

Sau khi Vương Lực Bình hồi sinh, tâm trí anh ta minh mẫn, nhưng thần sắc bàng hoàng. Anh ta nhìn quanh, căn nhà này chật hẹp, tối tăm, đâu phải là nơi con người sinh sống? Vô vị. Nghĩ đến chúng sinh, chen chúc trong không gian rộng lớn mà chật hẹp này, cả ngày vất vả mưu sinh, bôn ba vì tiền đồ, hao tổn tinh lực, rồi sẽ ra sao? Vô vị. Tam lão nhìn thanh niên mười bảy tuổi này, thần sắc bàng hoàng, khác hẳn trước đây, đã biết rõ nguyên do: anh ta đã hiểu ra nhiều điều, ngộ ra nhiều đạo lý.

Vô Cực đạo nhân nói: “Vĩnh Sinh, hiện tại con đã là một người khác rồi, nguyên lai con đã chết. Người đã chết kia là một lòng hướng đạo, lấy thân thử đạo, không sợ hãi. Nhưng con vẫn là người của hạ tam giới, sự nghiệp chưa hoàn thành phải do con tiếp tục, con phải mạnh dạn tiến vào trung tam giới.”

Vương Lực Bình thấu hiểu lời dạy của sư phụ, nhưng cảm xúc nhất thời khó điều chỉnh, có lẽ nửa năm nay chân khí trong cơ thể anh ta tiêu hao quá nhiều, tuy đã thoát thai hoán cốt, nhưng thể chất còn yếu, thần sắc có chút uể oải.

Đêm thu muộn, gió lạnh thổi tung áo anh ta, thổi rối tóc anh ta, anh ta không để ý, bước từng bước nặng nề, vô định đi đi lại lại trên sườn đồi. Đêm rất tối, mây rất dày. Vương Lực Bình không biết mình đã đi đến đâu, anh ta không còn quan tâm đến những điều này nữa. Anh ta bước xuống một con suối nhỏ, nước rất lạnh, quần áo ướt nửa người. Anh ta không để ý, bước qua. Anh ta không có ý thức sợ hãi, sống và chết đều không khác biệt.

Mưa bắt đầu tí tách rơi. Vương Lực Bình toàn thân ướt đẫm, lạnh lẽo, sảng khoái! Cuối cùng anh ta nằm xuống một bãi cỏ, ngủ thiếp đi một cách ngọt ngào.

Người thường đều có trải nghiệm như vậy: Trên con đường đời, anh ta phấn đấu, tranh giành, dốc hết tâm huyết để đạt được mục tiêu mà mình đã đặt ra. Khi đạt được mục tiêu đó, anh ta quay đầu nhìn lại, thờ ơ nói: “Chẳng qua cũng chỉ có vậy”.

Vương Lực Bình cũng là người thường, anh ta đi xa hơn người thường trên con đường đời. Anh ta đã vượt thời gian, chết đi rồi lại thấy được nhiều điều mà người đời không thấy. Rồi anh ta lại từ đó quay trở về, không còn gì có thể đánh lừa được anh ta nữa. Anh ta có quyền cảm khái: “Đời người chẳng qua cũng chỉ có vậy”. Vương Lực Bình hiện tại là một người sống chết, anh ta sống, nhưng đã chết; đã chết, nhưng vẫn sống. Ở tuổi mười bảy, anh ta vừa trải qua một trận chiến sinh tử kinh hồn bạt vía, anh ta đã chết, rồi lại sống lại. Sư phụ cùng anh ta chia sẻ niềm vui chiến thắng này. Giờ đây, mọi thứ đã bình tĩnh lại, anh ta hồi tưởng lại tất cả, đối diện với cuộc sống cũ kỹ nhàm chán, anh ta chỉ có một ý nghĩ, chán ghét cuộc sống bình dị vô vị này, cảm thấy “vô vị”.

Vương Lực Bình bắt đầu trải qua giai đoạn thứ năm trong cuộc đời tu luyện đạo công của mình: giai đoạn “người sống chết”.

Sư phụ sư thúc đều đã trải qua giai đoạn này, biết rằng trạng thái tinh thần ban đầu của “người sống chết” rất đau khổ, cần phải có thời gian để vượt qua, vừa đi theo anh ta, vừa chậm rãi điều lý.

Trong hai tháng sau đó, Vương Lực Bình thực sự giống như biến thành một người khác, rất ít nói, cử chỉ không còn giống trước, trong mắt người khác có chút “điên điên khùng khùng”. Mùa đông đến, vạn vật tiêu điều, gió lạnh thấu xương. Anh ta mặc một chiếc áo bông rách nát, không cài nút, hở cả ngực, đi lang thang khắp nơi. Thiên hạ đã không còn thái bình, cuộc sống đã mất đi trật tự thường ngày, ai nấy đều tự lo cho mình, mọi người thấy trạng thái của Vương Lực Bình, không lấy làm lạ, cũng không để ý, chuyện của người khác cũng cố gắng ít hỏi han.

Vương Lực Bình không biết mình đã đi đến đâu, có khi ngồi bệt xuống ven đường hoặc dưới hiên nhà người ta mà khóc, khóc đến thương tâm, thật đáng thương. Có khi anh ta lại quay về nhà, cũng không nói một câu, hỏi anh ta thì anh ta mới thốt ra từng câu từng câu, khiến người ta không hiểu ra sao.

Có một lần mẹ anh ta bảo anh ta đi mua dầu, anh ta ra đường, thấy xe là lên, cũng không mua vé.

Khi đến nơi, nhân viên bán hàng thấy anh ta ăn mặc lôi thôi, thần sắc không giống người thường, cũng mặc kệ anh ta. Không biết anh ta đã đi vòng bao nhiêu đường, anh ta lại quay về một cửa hàng lương thực không xa nhà. Trước cửa hàng lương thực đang có một hàng dài người xếp hàng, chờ mua số lượng dầu được cung cấp hạn chế. Anh ta dường như không thấy ai xếp hàng, đi thẳng lên phía trước, nói muốn mua dầu. Những người phía sau đợi đã lâu, có người sốt ruột, cãi nhau với anh ta. Trong lúc giằng co, một đội trật tự đến, muốn áp giải anh ta đi, anh ta không chịu. Anh ta ngã lăn ra đất, ôm lấy thùng dầu, vỗ ngực nói: “Đánh đi, cứ đánh vào đây. Đằng nào sống chết cũng như nhau.”

Mọi người thấy vậy, không ai so đo với anh ta nữa, chỉ bảo anh ta nhanh chóng mua dầu rồi đi, tránh gây họa. Anh ta lại không biết đã đi đâu loanh quanh nửa ngày, khi về đến nhà, hỏi anh ta dầu ở đâu, anh ta lại không nói được, dường như không ai bảo anh ta đi mua dầu vậy.

Mẹ anh ta thấy đứa con trai khỏe mạnh của mình lại thành ra như vậy, trong lòng vô cùng đau khổ. Bà đi tìm “ông thầy lang” hỏi han, nhờ họ chữa bệnh cho con trai. Trương Hợp Đạo cười nói: “Con trai bà rất tốt, không bệnh tật gì đâu. Không điên không khùng, ai làm thần tiên? Đứa trẻ này tạo hóa lớn. Bà yên tâm đi.” Vương mẫu tin lời, để mặc anh ta tự do.

Điều kỳ lạ là, Vương Lực Bình ngày ngày đi lang thang khắp nơi, nhưng mỗi ngày đều đến đúng giờ đến chỗ ba vị lão nhân. Ba vị lão nhân bảo anh ta mỗi ngày phải thắp hương khấn vái trước linh vị của “Vương Vĩnh Sinh”, cầu “Vương Vĩnh Sinh” phù hộ anh ta. Anh ta không hiểu, anh ta tại sao phải tự lạy mình, anh ta rốt cuộc là người chết, hay là người sống.

Thanh Hư đạo nhân biết anh ta không hiểu, mới bảo anh ta: “Con là người sống chết, đã là người sống, lại là người chết, con bây giờ không giống người thường. Bây giờ ở cái cõi trần này có một bát cơm ăn là được rồi, những thứ khác đều là dư thừa, con hiểu không?”

Sư phụ tuy nói vậy, nhưng anh ta vẫn còn hồ đồ, sư phụ luôn phải kiên nhẫn khuyên bảo anh ta. “Thế gian có tam giới. Người chết rồi có người xuống hạ giới, có người lên thượng giới. Thượng giới tốt hơn hạ giới cả ngàn lần. Muốn lên thượng giới, con còn phải khổ công tu luyện mới được. Những chuyện này sau này con sẽ tự nhiên hiểu ra.”

Vương Lực Bình tuy có những điều khó hiểu, nhưng vẫn tuân theo lời dạy của Tam lão, mỗi ngày lễ bái, không hề gián đoạn.

Một ngày, Vương Lực Bình bái lạy linh bài của chính mình xong, sư phụ bảo anh ta ngồi xuống, giảng cho anh ta chuyện tu đạo của Trùng Dương Tổ sư, để thức tỉnh anh ta.

Sư phụ giảng: “Trùng Dương Tổ sư năm bốn mươi tám tuổi, được Thuần Dương Tổ sư độ hóa. Mười năm sau, gặp được chân tiên, truyền cho bí ngữ năm thiên. Từ đó tinh thành tu luyện. Lại qua một năm, ở thôn Nam Thời, huyện Chung Nam tự đắp một mộ, đắp cao mấy thước, trên đó treo một tấm biển, viết ‘Mộ của Vương Công’. Dưới mộ sâu rộng. Một mình ở trong mộ hơn hai năm. Trùng Dương Tổ sư tự chế ‘Hoạt Tử Nhân’ (Người Sống Chết) mấy bài từ để ký sự. Trong đó có viết:

Nguyên văn:

活死人兮王喆乖,水云别是一欢谐。

道名唤作重阳子,谑号称为没地埋。

生来路口不忘怀,行钻须是挂灵牌。

即非惑众窥图利,为使人知递攒排

活死人兮活死人,活中得死是良因。

墓中闲寂真虚静,隔断凡间世上尘。

有个逍遥自在人,昏昏默默独知因。

存神养浩全真性,骨体凡躯且浑尘

人能弘道道亲人,人道从来最上因。

若把黑云俱退尽,放开心月照繁尘。

谁识暮中这个人,无为无作任其因。

白云接引随风月,脱得尘劳出世尘

Dịch thơ: 

Người như đã chết sống sai,
Vương Triết ẩn lánh chốn ngoài nước mây.
Trùng Dương đạo hiệu xưa nay,
Tên chơi: “chết chẳng chôn nơi đất nào”.

Sinh ra ngã rẽ đường giao,
Đi đâu cũng dựng linh vào đón đưa.
Không mong mê hoặc người xưa,
Chỉ mong hiểu lẽ thừa – thưa đạo truyền.

Người như đã chết trong duyên,
Sống mà biết chết là điềm lành thay.
Mồ hoang thanh tĩnh tháng ngày,
Cách xa bụi tục, dứt ngay trần đời.

Có người tự tại thảnh thơi,
Lặng thầm mà thấu đạo trời riêng mang.
Dưỡng thần, giữ khí nhẹ nhàng,
Thân phàm cốt tục hóa tan bụi trần.

Người nêu đạo, đạo gần thân,
Người theo đạo ấy nguồn chân bao đời.
Nếu tan mây tối khắp nơi,
Lòng khai, trăng sáng rạng soi bụi hồng.

Ai hay giữa lúc chiều đông,
Một người lặng lẽ thuận dòng vô vi.
Mây bay theo ánh trăng đi,
Ra ngoài trần khổ, thoát ly thế trần.

Chú thích nhanh:

  • Vương Triết (王喆): hay Vương Trùng Dương, một nhân vật có thật, tổ sư sáng lập phái Toàn Chân trong Đạo giáo, sống đời ẩn sĩ, tu hành khổ hạnh.

  • “Chết mà sống / sống mà chết”: là quan niệm trong Đạo giáo – sống mà buông bỏ hết dính mắc, khác gì người đã chết với thế tục, nhưng đó lại là “sống thật”.

“Thơ của Trùng Dương Tổ sư, ý nghĩa rất sâu, từ ngữ rất sáng. Nay đã là người sống chết, cũng nên thấu hiểu ý của Tổ sư.” Sau khi nghe sư phụ giáo huấn, Vương Lực Bình lập tức tỉnh ngộ, bèn bái tạ sư phụ sư thúc vì ân giáo hóa, nhắc lại lời thề trước đây, một lòng hướng đạo, chí không thay đổi.

Vương Lực Bình bắt đầu một cuộc sống hoàn toàn mới, tiếp tục hướng lên trên.

Chương 7: Tiềm Tâm Tu Đạo

Giai đoạn thứ sáu trong cuộc đời tu đạo của Vương Lực Bình chính là “tu đạo”. Trước khi anh ta Tịch Cốc chết, anh ta đã học đạo được bốn năm, từng bước từng bước đi lên, cần cù khổ luyện, nền tảng vững chắc, nội ngoại công phu đều có thành tựu. Nếu dùng một câu để tổng kết, thì đều là những công phu thông thường. Những công phu này, người thường đều có thể học được, nhưng cần phải có phương pháp, lại cần phải kiên trì.

Vương Lực Bình học đạo có hai điểm ưu việt hơn người thường. Một là khi còn nhỏ, Vương Lực Bình trời sinh thông minh, tâm địa thuần chính, đây là điều kiện quan trọng nhất để học đạo. Học theo phái Toàn Chân Long Môn, chú trọng song tu tính mệnh, tu tính trước rồi tu mệnh sau, ngoại công chú trọng nội công tu luyện. “Hối quá”, “Tu tâm dưỡng tính” đều là để tu tính, dùng không ít thời gian và tinh lực, chính là để đặt một nền tảng tốt. Chỉ là hai bước công phu này, người bình thường rất khó làm được, làm cho triệt để. Nhưng thiếu niên này đều làm được, làm rất nghiêm túc rất triệt để. Hai là có minh sư chỉ dạy. Minh sư này lại không phải là một người, mà là ba người, ba người đều là những người có đạo đức cao thượng, công phu cao cường, tuổi tác cao. Tập hợp kinh nghiệm tu luyện của ba vị minh sư, truyền thụ tuyệt kỹ nội ngoại công phu cho một người, loại điều kiện và cơ hội này, ngay cả trong lịch sử truyền đạo của Đạo gia cũng rất hiếm thấy. Người bình thường không có những điều kiện như Vương Lực Bình, muốn tu luyện đến công phu như trước khi anh ta bế cốc, cũng phải mất vài năm thời gian mới có thể thành công.

Nhưng tất cả những công phu này, chẳng qua chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho công phu cao hơn. Vương Lực Bình đã chết một lần, bây giờ đã đổi thành một người mới, Tam lão sẽ giao cho anh ta những khóa học mới.

Ngày thứ hai, sư phụ thấy anh ta vẻ mặt điên khùng, tâm tính đã tỉnh ngộ, liền nói với anh ta: “Vượt qua cửa sinh tử, chỉ là thoát khỏi phàm thai của cha mẹ, không giống với người thường. Nhưng cách đại đạo vẫn còn rất xa. Đạo chia làm ba thừa, phải tự hạ thừa tu lên, từ hạ lên trung, từ trung lên thượng, từng bước từng bước đi lên, mới có thể đại thành. Có rất nhiều người tu đạo, sáng làm chiều bỏ, lười biếng từ đầu đến cuối, bắt đầu thì cần cù mà kết thúc thì lười biếng, học không tinh, công không chăm, tâm không tĩnh, thần không chân, dù học nhiều năm, cuối cùng cũng không thành công, chỉ là người phụ đạo. Không phải đạo phụ người, mà là người tự phụ đạo.”

Vương Lực Bình yên lặng lắng nghe sư phụ giảng tiếp.

“Trùng Dương Tổ sư tự đào mộ, đặt sinh tử ra ngoài, ở trong mộ tĩnh tu hai năm, liền thành đại nghiệp. Nay con nên tiến thêm một bước, vẫn phải bắt đầu từ nền tảng, mới là chân chính tu đạo.”

Sư phụ sau đó đem “Lập Giáo Thập Ngũ Luận” của Trùng Dương Tổ sư giảng cho Vương Lực Bình một lượt. Đặc biệt giảng kỹ những điều quan trọng. Dưới đây là một vài đoạn trích từ “Trùng Dương Lập Giáo Thập Ngũ Luận”:

Đệ Thất Luận: Đả Tọa (Ngồi Thiền)

Phàm người ngồi thiền, nếu chỉ hình thể đoan trang, mắt nhắm lại, đó chỉ là ngồi thiền giả. Người ngồi thiền thật sự, phải giữ vững tư thế ngồi thiền trong mười hai giờ, nhất cử nhất động đều tĩnh tại, tâm như núi Thái Sơn, không động không lay, bít kín tứ môn (mắt, tai, miệng, mũi), không để ngoại cảnh xâm nhập. Nhưng chỉ cần có một chút động tĩnh trong tư tưởng, thì không gọi là tĩnh tọa. Người nào có thể làm được như vậy, dù thân ở trong cõi trần tục, tên đã được liệt vào hàng tiên vị, không cần phải tìm đến người khác để tham vấn, chính là bậc hiền thánh bên trong thân.

Năm tháng công phu viên mãn, thoát xác đăng chân, một hạt đan thành, thần du nhập biểu.

Đệ Bát Luận: Hàng Tâm (Điều Phục Tâm)

Phàm luận về đạo điều phục tâm, nếu thường xuyên vắng lặng, thì tâm không động, câm điếc mặc nhiên, không thấy vạn vật, không nghe âm thanh, không trong không ngoài, không một chút ý niệm, đó là định tâm, không thể điều phục. Nếu tùy theo cảnh mà sinh tâm, chao đảo nghiêng ngả, đuổi theo đầu mà quên mất đuôi, đó gọi là loạn tâm. Nên nhanh chóng trừ bỏ, không thể buông thả, sẽ làm hỏng đạo đức, tổn thất tính mệnh. Thường xuyên cần cù điều phục, nghe thấy biết thấy đều là bệnh hoạn.

Đệ Cửu Luận: Luyện Tính (Rèn Luyện Tính)

Luyện tính giống chỉnh dây đàn, căng quá thì có đứt, lỏng quá thì không kêu. Lấy cái ở gữa căng và lỏng thì sẽ điều chỉnh được. Cũng giống như kiếm, cứng quá thì gãy, mềm quá thì cong, nửa cứng nửa mềm, mới có thể dùng được. Người luyện tính, thể theo hai pháp này, thì tự nhiên ngộ ra vậy.

Sư gia lại truyền lại cho Vương Lực Bình đoạn luận đạo của Đan Dương Chân Nhân tại Hội Trùng Dương trên núi Long Môn.

Đan Dương Chân Nhân giảng đạo:

Các ngươi mỗi ngày không được quên việc “nhật dụng”. Nhật dụng có hai loại: ngoại nhật dụng và nội nhật dụng. Ngoại nhật dụng là phải kiêng kỵ thấy lỗi người khác, tự khoe công đức của mình, ghen ghét người hiền tài, nổi lửa vô minh, vướng niệm trần tục, sinh tâm hơn người, tranh chấp phải trái, miệng tranh yêu ghét. Nội nhật dụng là đừng khởi tâm nghi ngờ, trong lòng luôn giữ sự thanh tịnh. Dù đi du ngoạn hay ngồi yên, cũng phải giữ tâm trong sạch, xua đuổi dục vọng, không vướng bận, không nhiễm trước, chân chính thanh tịnh, tự tại tiêu dao.

Sư gia lại truyền dạy quy mô giáo hóa của Trường Xuân Chân Nhân cho Vương Lực Bình. Lời rằng:

Người ở am phải sống thanh đạm, giản dị, tịch mịch. Lấy kiến tính làm gốc, dưỡng mệnh làm dụng. Lấy nhu nhược làm thường, khiêm hòa làm đức, từ bi làm gốc, phương tiện làm cửa. Ở chỗ đông người, luôn giữ mình khiêm tốn; nơi yên tĩnh, đừng khởi niệm trần tục. Mọi việc lao tục phải làm vừa sức, không quá độ. Mỗi manh áo, bát cơm đều dùng vừa đủ, không tích trữ dư thừa. Quần áo, vật dụng thân dùng không tham cầu. Nếu của cải trong am dư, hãy giúp đỡ những kẻ nghèo khó qua đường. Hoặc đến nơi khác hành đạo, hoặc dùng để tổ chức trai đàn. Trong mười hai thời, không mê đắm hư giả, luôn giữ tâm chân thật, quét sạch bụi trần, gánh nước, đốn củi, nấu cơm, bỏ ý riêng, đừng nổi sân hận. Mỗi người ở riêng một phòng, giữ tâm trong sạch để tu đạo, phân công việc rõ ràng, có thể đổi việc để rèn tính chân thật. Không chấp trước vào việc làm, cũng không chỉ trích lẫn nhau. Phải hạ tâm kiêu mạn, dẹp bỏ “ta – người”, hòa vào thanh sắc, rời xa hình tướng và trí phân biệt, lặng lẽ không dục vọng. Gặp người tu hành của ba đạo (Nho, Đạo, Phật), phải đối đãi bình đẳng, không được khinh thường.

Sư gia đem những lời răn dạy của tổ sư này giảng giải một lượt, ý tứ rất rõ ràng. Vương Lực Bình hiện là một người mới, cần phải hiểu rõ đạo lý của người tu đạo, phương diện tu luyện này, là nội dung quan trọng của việc tu đạo. Đạo gia có rất nhiều quy tắc giới luật, người nhập đạo nên tuân thủ. Nói một cách khái quát, tức là làm sao đối xử với mình và người khác, cũng như làm sao đối đãi với vạn sự vạn vật. Trong đó quán xuyến tư tưởng triết học của Đạo gia, tức là chiếu theo tự nhiên quy luật mà làm việc, giúp nước cứu dân, kính tổ tôn sư, tích công hành thiện, giới trừ ác tập, tu tính dưỡng mệnh, siêu phàm nhập thánh.

Vương Lực Bình yên lặng lắng nghe sư gia nói, đem những lời chân đạo này ghi nhớ trong lòng. Đồng thời trong lúc đi đứng ngồi nằm, tỉ mỉ thể ngộ những công phu luyện tính đó.

Một ngày, sư gia lại giảng đạo cho Vương Lực Bình. Lần này sư gia giảng là “Gõ Hào Ca” của Lã Tổ. Sư phụ vừa ngâm nga, vừa giảng giải, khiến Vương Lực Bình nghe mà như đã luyện thành kim đan nội kết, phiêu phiêu lăng không, ngao du tam giới. 

Phần cuối Gõ Hào Ca có đoạn:

Nguyên văn:

名非贵,道极尊,

圣圣贤贤显子孙。腰间跨玉骑骄马,瞥见如同隙里尘。

隙里尘,石中火,何在留心为久计。苦苦煎熬唤不回,

夺利争名如鼎沸。如鼎沸,永沈沦,失道迷真业所根。

有人平却心头棘,便把天机说与君。命要传,性要悟,

入圣超凡由汝做。三清路上少人行,畜类门前争入去。

报贤良,休慕顾,性命机关须守护。若还缺一不芳菲,

执著波查应失路。只修性,不修命,此是修行第一病。

只修祖性不修丹,万劫阴灵难入圣。达命宗,迷祖性,

恰似鉴容无宝镜。寿同天地一愚夫,权物家财无主柄。

性命双修玄又玄,海底洪波驾法船。生擒活捉蛟龙首,

始知匠手不虚传。

Dịch thơ:

Danh không quý, đạo mới cao,
Thánh hiền để lại lối vào cho con.
Ngọc đeo, ngựa cưỡi cho oai,
Nhìn ra chỉ giống bụi bay lối mòn.

Bụi kia, lửa cháy trong hòn,
Giữ làm chi nữa, chẳng còn ích chi.
Sống trong ganh ghét sân si,
Gọi bao nhiêu cũng chẳng đi trở về.

Tranh danh đoạt lợi ê chề,
Xoay như nước nóng, trôi về hư không.
Mất đường, gốc rễ chẳng trông,
Cội nguồn đạo lý một lòng lãng quên.

Có người tĩnh lặng giữ bền,
Trừ gai trong dạ, vững bền tâm can.
Hiểu Mệnh phải biết lo toan,
Ngộ ra chân Tính mới toàn bước đi.

Thánh hay phàm, cũng là tùy,
Tự ta mở lối chẳng vì ai ban.
Ba ngôi tịnh ít người sang,
Trước cổng trần tục tranh hàng súc sinh.

Gửi người có nghĩa, có tình,
Chớ mê danh lợi mà khinh tính mệnh.
Một trong hai thứ mà quên,
Tu bao nhiêu kiếp cũng quên lối về.

Tu Tính mà Mệnh bỏ bê,
Sai đường tu đạo, u mê cũng nhiều.
Chỉ lo Tính, chẳng luyện đan,
Khó mong siêu thoát, muôn vàn kiếp qua.

Tu Mệnh mà quên Tính ra,
Như gương không sáng, nhìn ta chẳng tường.
Sống lâu như đá, như tường,
Giữ kho không chủ, chẳng vương được gì.

Tính Mệnh cùng luyện mới kỳ,
Lướt qua sóng lớn, pháp uy hộ thuyền.
Bắt rồng sống giữa trần gian,
Mới hay tay thợ quả nhiên truyền thần.

Chú thích nhanh:

Đạo giáo chú trọng Tính Mệnh song tu. Định nghĩa Tính Mệnh được lấy từ quyển Hành Đại Đạo của thầy Vương Lực Bình như sau:

Tính (性): Thần, Hồn, Chí, Linh, Tĩnh, Định

Mệnh (命): Khí, Huyết, Tinh, Gân, Xương, Da

Ba ngôi (三清): Tam Thanh – ba vị thần tối cao trong Đạo giáo (Ngọc Thanh, Thượng Thanh, Thái Thanh).

Nửa ngày thời gian trôi qua, sư gia vừa hát vừa giảng, thân thể không động một chút nào, cũng không uống nước. Hai vị sư phụ cũng đoan tọa bất động, tựa như đang nghe giảng, lại tựa như đang đả tọa. Vương Lực Bình nghe được từng chữ chân thiết, một thiên đại đạo lý này, cũng giải được minh minh bạch bạch.

Vương Lực Bình trong lòng có một vấn đề, đợi sư gia giảng xong, mới đề xuất ra: “Sư tôn, chỉ là hạ thủ công phu, lại nên như thế nào?”

Sư phụ đáp: “Không vội. Con hãy nghe tiếp “Tam Tự Quyết” của Lã Tổ.” Liền tiếp hát lên.

Nguyên văn:

这个道,非常道。
性命根,生死窍。
说著丑,行着妙。
人人憎,个个笑。
大关键,在颠倒。
莫厌秽,莫计较。
得他来,立见效。
地天泰,为朕兆。
口对口,窍对窍。
吞入腹,自知道。
药苗新,先天兆。
审眉间,行逆道。
滓质物,自继绍。
二者馀,方绝妙。
要行持,令人叫。
气要坚,神莫耗。
若不行,空老耄。
认得真,老还少。
不知音,莫语要。
些儿法,合大道。
精气神,不老药。
静里全,明中报。
乘凤鸾,听天诏。

Dịch thơ:

Đạo mà chân thật cao sâu,
Chẳng qua lời nói nhiệm mầu bên trong.
Gốc sinh mệnh, cửa sống còn,
Khéo tu sẽ thấy tâm hồn nhẹ tênh.

Nói thì vụng, làm thì khôn,
Người cười, kẻ ghét vẫn không đổi lòng.
Chốt then nằm chỗ đảo dòng,
Chớ chê dơ bẩn, chớ mong sạch tròn.

Ai hay chân pháp chẳng còn,
Gặp rồi hiệu nghiệm sớm hôm rõ ràng.
Trời yên, đất thuận vẻ vang,
Là điềm tiên tổ gửi sang phúc lành.

Miệng liền miệng, huyệt liền nhanh,
Nuốt vào bụng dưới tự sanh hiểu rồi.
Thuốc kia tiên tổ truyền lời,
Tiên thiên hé lộ, sáng ngời ánh tâm.

Ngược dòng tu luyện thâm trầm,
Giữa hai chân mày bước chậm mà đi.
Phàm trần lắng đọng tức thì,
Cốt tinh lưu giữ, di truyền đạo sâu.

Khi hai còn một, nhiệm mầu,
Chân truyền tuyệt kỹ khởi đầu an sinh.
Người tu giữ đạo hết mình,
Khí bền, thần vững – đạo tình thâm sâu.

Bằng không tu luyện dài lâu,
Chỉ là già cỗi, u sầu hoài công.
Ai hay chân lý trong lòng,
Biết rồi trẻ lại, vững vàng chí trung.

Nếu chưa đồng cảm, chớ cùng,
Chuyện này không dễ, nói lung chẳng thành.
Chút phương pháp nhỏ mong manh,
Mà là đại đạo – ngọn ngành thần tiên.

Tinh – khí – thần: thuốc trường sinh,
Tĩnh mà giữ trọn, sáng sinh diệu kỳ.
Cưỡi loan phụng, vượt trời đi,
Lắng nghe thiên lệnh, thầm thì trời cao.

Sư gia hát xong, không giảng giải nữa. Vương Lực Bình đã lĩnh ngộ ý tứ, đặc biệt là ba chữ “tinh khí thần” trong đó, nghe hiểu rõ ràng.

Sư gia nhắm mắt dưỡng thần, sư phụ Thanh Tĩnh đạo nhân tiếp tục giảng giải cho Vương Lực Bình về công phu nhập môn.

Công phu nhập môn này, vẫn gọi là xây dựng nền móng. Công phu xây dựng nền móng này cũng chia làm ba tầng, đều dựa trên “tinh khí thần” mà luyện công. Giai đoạn đầu luyện công xây dựng nền móng, cần phải luyện được Hạ đan điền, người bình thường tinh khí bị hao tổn, trước hết phải luyện hoàn nguyên bổ lậu, tinh mãn không tràn, rồi tiến lên nữa là luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, luyện thần hoàn hư. Nhưng người đời thường cho rằng khí Đan điền đầy đủ là Kết Đan, kỳ thực ngay cả Đan sản xuất ở đâu, Kim Dịch, Ngọc Dịch là vật gì còn chưa biết, vẫn còn dừng lại ở “việc nhân sự” của tầng Hạ Tam Giới. Hiện tại Vương Lực Bình đã bắt đầu tu luyện Trung Tam Giới “Thiên Địa Nhân”, hạ thủ công phu cũng là công phu xây dựng nền móng, cũng luyện Tinh Khí Thần, nhưng mà tu luyện ở một tầng cao hơn.

Sư gia sư phụ truyền thụ bí pháp nội truyền của Long Môn phái “Tam Tiên Công” cho Vương Lực Bình. “Tam Tiên Công” bắt nguồn từ “Linh Bảo Tất Pháp”. “Linh Bảo Tất Pháp” do Chính Dương chân nhân Chung Ly Quyền soạn. Chung Ly Quyền trong lời tựa có viết: 

“Tôi ngưỡng mộ tiền nhân, lòng mang chí lớn. Không ngờ vận nước dấy binh đao, thời thế nguy nan. Ban đầu chỉ mong thoát thân, ẩn mình nơi non sông hang động, sau đó tĩnh tâm tu tính, chuyên tâm vào cảnh giới thanh tịnh hư vô. Đọc khắp các kinh sách về đan đạo, tham vấn nhiều đạo hữu, nhưng chỉ nghe nói đến phương pháp dưỡng mệnh tầm thường, chẳng ai bàn đến đại đạo chân tiên.

May mắn tại vách đá Chung Nam Sơn, tôi tìm được bộ Linh Bảo Kinh gồm ba mươi quyển. Phần thượng là Kim Cáo Thư do Nguyên Thủy Thiên Tôn soạn. Phần trung là Ngọc Lục do Ngọc Hoàng ghi chép. Phần hạ là Chân Nguyên Nghĩa do Thái Thượng Lão Quân truyền lại. Tổng cộng hàng ngàn lời. Tôi dốc lòng nghiền ngẫm, suy tư thấu đáo, bỗng ngộ ra: Trong âm có dương, trong dương có âm, hợp với lẽ trời đất lên xuống, nhật nguyệt giao hòa; trong khí sinh thủy, trong thủy sinh khí, cũng là đạo lý giao hòa giữa tâm và thận. Lấy vật so sánh, đạo vốn không xa người. Phối hợp Giáp Canh, nghiệm thấy kim đan chuẩn xác; thêm bớt Mão Dậu, tự nhiên hỏa hậu không sai. Hồng kiên hắc kiên, rốt cuộc chẳng thành đại dược; kim dịch ngọc dịch, cuối cùng mới hóa hoàn đan. Từ không vào có, luôn giữ tâm tranh đấu; từ thấp lên cao, dần vào cõi hư vô. Rút chì thêm thủy ngân, khiến âm tiêu dần; đổi xương luyện hình, làm dương khí tăng trưởng. Nguồn nước trong đục, phân biệt lúc đã thành; nội cảnh chân hư, nhận ra ngày tọa vong. Huyền cơ diệu lý, khó lòng diễn tả hết. Kinh sách Linh Bảo vi diệu, có thể giúp siêu phàm nhập thánh. Tổng hợp thành tam thừa chi pháp, đặt tên là Linh Bảo Tất Pháp. Đại đạo thánh ngôn, không dám giữ riêng, truyền lại cho Lã Động Tân. Đạo thành chớ giấu, nên truyền lại cho hậu thế.” (Đạo Tạng – Nhà xuất bản Tam Gia, quyển 28, trang 349–350)

Lã Động Tân du ngoạn Chung Nam Sơn, lại gặp Chung Ly Quyền. Hai vị chân nhân cùng luận bàn đạo dưỡng sinh, nôi dung đối đáp được Thi Kiên Ngô ghi lại, lưu truyền hậu thế, chính là “Chung Lã Truyền Đạo Tập” trong Đạo Tạng. Chung Lã bàn mười tám phương diện, chín mươi vấn đề, hệ thống hóa tinh hoa nội công học. Câu hỏi cuối cùng, Lã hỏi: “Hôm nay được tôn sư giảng giải đạo lý hư vô, huyền cơ trời đất. Tuy hiểu diệu lý, nhưng chưa thực hành, ắt không thành công. Xin hỏi phép tu hành, nên bắt đầu từ đâu, dụng công thế nào?” Chung đáp: “Ta có Linh Bảo Tất Pháp, sẽ chọn ngày lành truyền cho ngươi.”

Đó là nguồn gốc của Linh Bảo Tất Pháp.

Linh Bảo Tất Pháp chia làm tam thừa công pháp: Thiên – Địa – Nhân.

Tiểu Thừa – Nhân Tiên:  An Lạc Diên Niên Pháp – 4 giai đoạn

Giai đoạn 1: Thất Phối Âm Dương

Giai đoạn 2: Tụ Tán Thủy Hỏa

Giai đoạn 3: Giao Cấu Long Hổ

Giai đoạn 4: Thiêu Luyện Đan Dược

Trung Thừa – Địa Tiên: Trường Sinh Bất Tử Pháp – 3 giai đoạn

Giai đoạn 5: Trửu Hậu Phi Kim Tinh

Giai đoạn 6: Ngọc Dịch Hoàn Đan

Giai đoạn 7: Kim Dịch Hoàn Đan

Đại Thừa – Thiên Tiên:  Siêu Phàm Nhập Thánh – 3 giai đoạn

Giai đoạn 8: Triều Nguyên

Giai đoạn 9: Nội Quan

Giai đoạn 10: Siêu Thoát

《Linh Bảo Tất Pháp》 tuy luận giải sâu sắc và toàn diện về lý luận nội công, nhưng vẫn ít đề cập đến phương pháp tu luyện cụ thể. Sau khi Vương Trùng Dương đạt được bộ kinh điển này, ông đã căn cứ vào lý luận nội công trong đó để sáng tạo ra một bộ công pháp trực tiếp ứng dụng vào tu luyện, chính là 《Tam Tiên Công》. Vương Trùng Dương truyền 《Tam Tiên Công》 cho Khâu Xử Cơ, về sau công pháp này trở thành bí truyền nội bộ của phái Long Môn.

Cơ sở lý luận của 《Tam Tiên Công》 là tư tưởng “Thiên Nhân Hợp Nhất”. Công pháp này lấy Âm Dương Ngũ Hành trong cơ thể con người tương ứng với Âm Dương Ngũ Hành của thiên thể (mặt trời, mặt trăng, tinh tú, trái đất…), dùng thuật số làm nền tảng để tiến hành tu luyện toàn diện, từ diện đến tuyến rồi điểm, dần dần đạt đến cảnh giới thượng thừa. Tam Tiên Công thuộc loại tĩnh tọa công, phối hợp với “Cân Bằng Công” (ngoại động công) và “Thụy Công” (công pháp nghỉ ngơi), tạo thành hệ thống hoàn chỉnh “tính mệnh song tu, động tĩnh kết hợp” của Đạo gia phái Long Môn.

《Tam Tiên Công》 lấy 《Dẫn Tiên Pháp》 làm phương pháp hoàn nguyên bổ lậu, xây nền tảng, tu từ Vô Cực đến Cửu Cung. 《Dẫn Tiên Pháp》 gồm 12 pháp:

  1. Pháp thứ nhất: Thu tâm tĩnh tọa
  2. Pháp thứ hai: Điều chỉnh thân thể
  3. Pháp thứ ba: Vô thị vô thính (không nhìn không nghe)
  4. Pháp thứ tư: Thu thị phản thính (thu tầm nhìn, quay về nghe nội tại)
  5. Pháp thứ năm: Điều phàm tức (hơi thở thông thường)
  6. Pháp thứ sáu: An thần tam bộ công (ba bước định thần)
  7. Pháp thứ bảy: Điều chân tức (hơi thở chân chính)
  8. Pháp thứ tám: Tu vô lậu (tu luyện không rò rỉ tinh khí)
  9. Pháp thứ chín: Nội thị phản thính (nhìn vào trong, nghe nội tại)
  10. Pháp thứ mười: Ngưng thần tịch chiếu (định thần, soi rọi tĩnh lặng)
  11. Pháp thứ mười một: Thính tức tùy tức (lắng nghe và theo dõi hơi thở)
  12. Pháp thứ mười hai: Dưỡng tâm mộc dục (nuôi dưỡng tâm, tẩy rửa tạp niệm)

Toàn bộ công pháp đều xoay quanh chữ “Tĩnh” đề luyện công, điều thân, điều hơi thở, luyện hình, luyện thần

Điều thân, là điều chỉnh tư thế tọa bàn cho tốt, đem cửu đại minh khiếu đóng lại, làm được:

Mắt không nhìn thì Hồn tại Can

Tại không nghe thì Tinh tại Thận

Lưỡi không sinh thì Thần tại Tâm

Mũi không ngửi thì Phách tại Phế

Tứ chi bất động thì Ý tại Tỳ.

Điều hơi thở, tức là hơi thở bình thường mang theo Chân Tức, hơi thở bình thường ngừng, Chân Tức động. Phương pháp và khẩu quyết quan trọng nhất là:

Hít khí qua dưới rốn, thở khí không vượt tâm

Hít khí, thu thân, thu vũ trụ

Thở khí ra, phóng ra ngoài, hướng ra 4 phương 8 hướng để phóng, phóng thành hình tròn

Luyện hình, là lúc không nghe không nhìn, sau khi vận động chân khí, thì nghe nhìn vào bên trong, nghe tâm của mình, nghe tâm của đạo, nghe tâm của thiên, tức là nghe nhịp đập của tạng tim, nghe chân tức theo thiên thể vũ trụ vận hành như thế nào. Trong cơ thể ngũ hành tự ở đúng vị trí, dựa trên ngũ hành của tự nhiên tương sinh điều chỉnh ngũ hành bên trong cơ thể, từ Thận đến Can, từ Can đến Tâm, từ Tâm đến Tỳ, từ Tỳ đến Phế, lại từ Phế đến Thận, cứ như thế lặp lại tuần hoàn. 

Luyện thần, khiến cho tư duy tiến vào khí huyệt toàn thân trong tiểu vũ trụ cơ thể , cuối cùng đạt đến trọng thái vô ý thức.

Luyện thần cần luyện Bất Thần Thần

Thần Bất Thần, Bất Thần Thần

Cuối cùng Dưỡng Tâm Mộc Dục, thành tựu nhập đại định. Trong “Vong Tự Thiên” có chép:

忘物可以养心,

忘情可以养性,

忘静可以养神,

忘色可以养精,

忘欲可以养形, 、

忘形可以养炁,

忘我可以养虚,

忘事可以养道.

“Quên vật có thể dưỡng tâm,
Quên tình có thể dưỡng tính,
Quên tĩnh lặng có thể dưỡng thần,
Quên sắc dục có thể dưỡng tinh,
Quên ham muốn có thể dưỡng hình,
Quên hình thể có thể dưỡng khí,
Quên bản ngã có thể dưỡng sự rỗng không,
Quên sự việc có thể dưỡng đạo.”

Ngoài ra còn “Quả Tự Quyết” chép:

寡言可以养炁,

寡事可以养名,

寡听可以养聪,

寡思可以券心,

寡欲可以养性,

寡动可以养神,

寡德可以养精

  • 寡言可以养炁 – Ít nói có thể dưỡng khí:
    Nói ít giúp giữ gìn nguyên khí, tránh tiêu hao qua lời nói vô ích.

  • 寡事可以养名 – Ít việc có thể dưỡng danh:
    Không tham gia quá nhiều chuyện đời, giữ cho danh thơm trong sạch, không bị vấy đục.

  • 寡听可以养聪 – Ít nghe có thể dưỡng sự sáng suốt:
    Không nghe quá nhiều chuyện thị phi, tâm trí sẽ giữ được sự minh mẫn, sáng suốt.

  • 寡思可以券心 – Ít nghĩ có thể giữ yên lòng:
    Không lo nghĩ, tính toán nhiều giúp giữ tâm bình an, không xao động.

  • 寡欲可以养性 – Ít ham muốn có thể dưỡng tính:
    Giảm dục vọng giúp nuôi dưỡng bản tính thuần hậu, tự nhiên.

  • 寡动可以养神 – Ít động có thể dưỡng thần:
    Giảm hành động, sống tĩnh tại giúp thần khí an định, không bị hao tổn.

  • 寡德可以养精 – Ít (phô trương) đức có thể dưỡng tinh:
    Không phô trương đức hạnh, không làm điều thiện vì danh, thì tinh khí không bị phân tán, nuôi dưỡng được bản thể tinh nguyên.

Lại còn “Khí Tự Quyết” chép

少言语可以养内炁,

寡色欲可以养精炁,

薄滋味可以养白炁,

抑津液可以养脏炁.

戒嗔怒可以养肝炁,

节饮食可以养胃炁,

均胎息可以养肺炁,

少思慮可以养心炁,

不漏精可以养肾炁,

谨行藏可以养神炁。

  • Ít nói năng có thể dưỡng khí bên trong,

  • Giảm ham muốn sắc dục có thể dưỡng tinh khí,

  • Ăn uống thanh đạm có thể dưỡng khí trắng (thuần tịnh),

  • Tiết chế nước bọt và dịch cơ thể có thể dưỡng khí tạng phủ.

  • Kiềm chế nóng giận có thể dưỡng khí của gan,

  • Tiết độ trong ăn uống có thể dưỡng khí của dạ dày,

  • Điều hòa hơi thở có thể dưỡng khí của phổi,

  • Ít lo nghĩ có thể dưỡng khí của tim,

  • Không làm rò rỉ tinh khí có thể dưỡng khí của thận,

  • Cẩn trọng trong hành vi và ẩn tàng có thể dưỡng khí thần.

Trước khi Vương Lực Bình tịch cốc chết đi 1 lần, sư gia sư phụ đã truyền thụ cho ông không ít công pháp trong “Linh Bảo Thông Trí Năng Nội Công Thuật”, nay lại tiến thêm một bậc, Tam Lão truyền thụ cho anh “Tam Tiên Công”.

Thanh Tĩnh đạo nhân giảng: “Tam Tiên Công bắt nguồn từ “Linh Bảo Tất Pháp, là một loại phương pháp tu luyện kết hợp giữa nhân thể và thiên thể, hậu thiên hợp với tiên thiên. Toàn bộ công pháp chia làm Tam Thừa, Thập Môn, Tứ Thập Ngũ Đoạn, phải chín năm diện bích, một năm tắm gội, mười năm mới thành. 

Tiểu Thừa an lạc diên niên pháp tứ môn, là Nhân Tiên Công, tổng cộng 17 bước. 

Trung Thừa trường sinh bất tử pháp tam môn, là Địa Tiên Công, cộng 16 bước. 

Đại Thừa siêu phàm nhập thánh pháp tam môn, là Thiên Tiên Công, cộng 12 bước. 

Công phu Tiểu Thừa, ngươi thực tế đã luyện qua rồi. Hiện tại ngươi vừa là người của hạ tam giới, lại không phải là người của hạ tam giới, nên từ Trung Thừa công pháp mà luyện lên, bắt đầu luyện vẫn từ tinh, khí, thần.”

Thanh Tĩnh sư phụ dạy Vương Lực Bình một tầng công phu trúc cơ cao hơn. Tinh, Khí, Thần, tổ sư còn gọi là “Tam Hoa”. “Tam Hoa” này ban đêm trú ở thận, ban ngày tồn tại ở ba nơi: Tinh tồn tại ở tai, Khí tồn tại ở miệng, Thần tồn tại ở mắt. Cho nên nghe lâu tổn tinh, nói nhiều tổn khí, nhìn lâu tổn thần. “Tinh” mà ở đây nói đến, cũng là “Tinh” vô hình hữu chất. Khi tu luyện, không nghe, không nhìn, không nói, khiến tinh, khí, thần tụ ở đỉnh đầu, tức Nê Hoàn Cung ở đầu, cái này gọi là “Tam Hoa Tụ Đỉnh”.

Ngũ hành trong cơ thể người cũng phải dùng pháp tu luyện hướng về một nơi. Mắt không nhìn mà hồn ở gan, tai không nghe mà tinh ở thận, lưỡi không nếm mà thần ở tim, mũi không ngửi mà phách ở phổi, tứ chi không động mà ý ở tỳ. Khiến khí của ngũ tạng phản chiếu tụ tập ở “Huyền Quan”, tức bên trong trán, cái này gọi là “Ngũ Khí Triều Nguyên”.

Tầng công phu trúc cơ cao hơn này chính là tu luyện thân thể bổ sung Tam Nguyên Công. Luyện tinh hóa khí là nội luyện sơ quan, đạt tới nguyên tinh, nguyên khí và nguyên thần tương hợp, ngưng tụ thành khí của tinh khí kết hợp, cũng gọi là “Đại Dược”. Luyện khí hóa thần là nội luyện trung quan, đem “Đại Dược” và nguyên thần tương hợp, trở thành tam nguyên ngưng kết chi thần. “Thần” này ngụ ở trong Nê Hoàn Cung. Nê Hoàn Cung lại gọi là Thượng Đan Điền, hư khai nhất khiếu, nãi tàng thần chi sở.

Sau một thời gian tu luyện, Vương Lực Bình nội thị có thể nhìn thấy ở đỉnh đầu Nê Hoàn Cung có một điểm sáng, sư gia sư phụ cũng đều nhìn thấy điểm sáng này, biết trên đỉnh đầu ông một khiếu đã mở, trúc cơ thành công, bắt đầu chỉ đạo ông tu luyện Cửu Cung trên đầu

Trước lúc bình minh, mặt trời còn chưa nhô lên khỏi mặt đất. Trong không trung, sao băng xẹt qua, chớp mắt đã biến mất. Xa xa núi non hiện ra bóng dáng mờ ảo. Thỉnh thoảng tiếng gà gáy chó sủa từ xa vọng lại. Mọi người vẫn còn chìm đắm trong giấc ngủ. Trên đỉnh núi này, ba lão một thanh niên sư đồ bốn người đã ngồi xếp bằng trên mặt đất, ngưng thị về phía đường chân trời phía đông. Trên màn trời đính một ngôi sao lấp lánh. Ngôi sao này đang chậm rãi di động giữa các vì sao. Sư gia nói với Vương Lực Bình, ngôi sao này chính là Thủy Tinh (Sao Thủy), bình thường không dễ tìm thấy nó, ngẫu nhĩ có thể tìm thấy nó vào lúc trước bình minh hoặc chạng vạng tối, trên đường chân trời phía đông hoặc phía tây, nó gần chúng ta hơn so với những ngôi sao bất động kia. Nó tự do tự tại di chuyển trên bầu trời, vô thanh vô tức ảnh hưởng đến trái đất và vạn sự vạn vật trên trái đất.

“Ngươi khẽ khép mắt, quên đi bản thân, thể sát nó mang đến cho ngươi những biến hóa vi diệu, vi diệu, xem xem trong thân thể ngươi có phản ứng gì, xem xem Nê Hoàn Cung trên đầu ngươi có biến hóa gì.” Vương Lực Bình theo yêu cầu của sư phụ mà nhập tĩnh. Ước chừng ước chừng, ngôi sao kia hướng về phía mình mà đến, càng đi càng gần. Xoạt xoạt xoạt, một sợi rung động cực kỳ yếu ớt khuấy động ở thận. Phiêu phiêu diêu diêu, có một điểm sáng xuất hiện trong Nê Hoàn Cung, điểm sáng này dường như đang động, như ẩn như hiện.

Vương Lực Bình kể với ba vị lão nhân rằng anh đã “cảm nhận” được sự tồn tại của sao Thủy. Ba vị lão nhân cũng đã thấy trên đỉnh đầu anh có một ngôi sao đang chuyển động.

Vào lúc hoàng hôn, ánh nắng cuối ngày còn phớt nhẹt trên bầu trời phía Tây, màn đêm chưa buông xuống hẳn. Phía chân trời Tây dần hiện lên một ngôi sao lớn và sáng. Sư phụ bảo Vương Lực Bình, ngôi sao này chính là sao Kim. Người xưa khi thấy nó vào lúc chiều tối gọi là “sao Hôm”, còn lúc rạng sáng thì gọi là “sao Mai”. Nó ảnh hưởng đến thân thể con người, và trên đỉnh đầu người cũng có một điểm tương ứng. Nhìn lên trời còn có một ngôi sao màu đỏ rực, cũng đang di chuyển giữa các vì tinh tú, đó chính là sao Hỏa. Nó tác động đến tinh lực và thể lực con người, đỉnh đầu cũng có một điểm tương ứng. Sao Mộc thì trực tiếp ảnh hưởng đến gan của con người. Khi góc hợp giữa sao Mộc và Trái Đất thay đổi, chức năng gan trong cơ thể cũng tăng giảm theo. Lại có một ngôi sao di chuyển rất chậm, nếu không quan sát liên tục thì khó nhận ra sự dịch chuyển của nó. Nhưng nó rất sáng, sáng hơn cả sao Chức Nữ và sao Ngưu Lang, đó là sao Thổ. Nó ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa của con người. Sao Thủy thì tác động đến hệ thần kinh.

Sư phụ bảo Vương Lực Bình vừa ngắm sao vừa tu luyện. Trong quá trình tu luyện, sư phụ giảng giải cho anh những kiến thức thiên văn, đẩy tư duy của anh vươn đến vũ trụ, kết nối việc tu luyện cơ thể với sự vận hành của thiên thể.

Những đạo sĩ trong núi cũng tu luyện như vậy. Ban ngày ngắm cảnh, ban đêm ngắm sao, tích lũy dần theo năm tháng, họ đã thu thập được vốn hiểu biết phong phú về quy luật vận hành của nhật nguyệt tinh tú, đồng thời tìm ra mối liên hệ tương ứng giữa thiên thể và cơ thể người.

《Hoàng Đế Nội Kinh – Tố Vấn – Sinh Khí Thông Thiên Luận》viết:
“Thông thiên là gốc của sự sống, gốc ấy bắt nguồn từ âm dương. Trong trời đất, khắp sáu phương (đông, tây, nam, bắc, trên, dưới), khí của chín châu, chín khiếu, năm tạng, mười hai khớp, đều thông với khí trời.”

Nội dung này nói về mối quan hệ tương ứng giữa cơ thể con người với trời và đất. Trong khoảng trời đất “lục hợp” (sáu phương: đông, tây, nam, bắc, trên, dưới) và “cửu châu” (chín châu: Ký Châu, Duyện Châu, Thanh Châu, Từ Châu, Lương Châu, Kinh Châu, Ung Châu, Dự Châu, Dương Châu), khí của đất cùng với “cửu khiếu” (chín lỗ: hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi, miệng, hậu môn, bộ phận sinh dục), “ngũ tạng” (năm tạng: gan, tim, lá lách, phổi, thận), và “thập nhị tiết” (mười hai khớp: hai tay, hai khuỷu tay, hai cánh tay, hai chân, hai đầu gối, hai hông) trong cơ thể người đều thông với khí trời.

Qua quá trình tu luyện của các đạo gia qua các đời, người ta phát hiện thêm nhiều bộ phận trong cơ thể tương ứng với thiên thể (bao gồm cả trái đất). Những phát hiện này có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu cơ thể người. Ngược lại, việc dùng cơ thể người để nghiên cứu bí ẩn của thiên thể và địa cầu cũng mang lại những gợi mở tương tự.

Sách “Đạo Tạng – Thiên Cơ Kinh” viết:

“Cửu khiếu, trên trời là chín sao, dưới đất là chín châu, ở người là chín lỗ.”

Hiện nay, bước công phu mà Tam Lão giáo cho Vương Lực Bình tu luyện không còn là “cửu đại minh khiếu” (chín lỗ lớn) trên cơ thể, mà là chín “ám khiếu” (lỗ ẩn) trên đỉnh đầu. Điều này được thể hiện trong “Tu Chân Đồ” đã công bố gần đây: Trên đầu người tu luyện có một vòng tròn lớn, bên trong xếp chín vòng tròn nhỏ. Ý nghĩa của nó là khi tu luyện đến một giai đoạn nhất định, trên đỉnh đầu sẽ “hư khai nhất khiếu” (mở ra một lỗ hư ảo) – tức “Nê Hoàn Cung”. Trong Nê Hoàn Cung lại có một cung khác, xung quanh điểm sáng lớn ở trung tâm hình thành chín huyệt. Khi nội quan, có thể thấy chín điểm sáng nhỏ xoay quanh điểm sáng lớn. Điểm sáng lớn tương ứng với mặt trời, chín điểm nhỏ tương ứng với chín ngôi sao trên trời. Khu vực nhỏ này trên đầu trở thành một mô hình thu nhỏ của hệ mặt trời. Đây là một trong những phát hiện giá trị của Đạo gia, dùng phương pháp tu luyện để hé lộ mối quan hệ tương ứng giữa cơ thể người và thiên thể.

Những phát hiện khoa học này của Đạo gia đến nay vẫn chưa được đánh giá đúng mức. Hiện nay, những nghiên cứu này vẫn chưa được quan tâm đúng mức, và mối liên hệ giữa chúng với khoa học vẫn bị ngăn cách bởi một khoảng cách lớn. Ví dụ, việc luyện “ngoại đan” (thuốc bên ngoài) của Đạo gia ngày nay đã được khoa học công nhận là giai đoạn sơ khai của hóa học, đồng thời được giới hóa học và các nhà khoa học khác chấp nhận. Tuy nhiên, chỉ có điểm này được thừa nhận, còn việc liệu quá trình luyện ngoại đan có giá trị nghiên cứu sâu hơn hay không, hay ngoại đan có tác dụng gì đối với cơ thể người, thì các nhà khoa học hiện đại hầu như không đề cập đến.

Trong lĩnh vực quan sát thiên thể, khoa học cũng đi theo con đường riêng, bỏ qua những nghiên cứu của Đạo gia bằng phương pháp khác. Thông qua tu luyện cơ thể, Đạo gia từ lâu đã biết “trời có chín sao”. Khoa học chỉ xác nhận điều này sau khi phát minh ra công cụ quan sát mới. Sau khi kính thiên văn phát hiện ra Thiên Vương Tinh, người ta bắt đầu nghiên cứu quỹ đạo của nó. Qua một thời gian quan sát, họ nhận thấy khi quay quanh Mặt Trời, Thiên Vương Tinh lệch khỏi quỹ đạo dự tính, tức quỹ đạo thực tế không khớp với tính toán lý thuyết. Trước năm 1822, nó di chuyển nhanh hơn, sau năm 1822 lại chậm hơn. Điều này khiến người ta suy đoán rằng có thể có một hành tinh khác hấp dẫn nó ở phía ngoài. Dựa vào quy luật vận hành của các hành tinh khác, sau khi quan sát kỹ lưỡng quỹ đạo của Thiên Vương Tinh, cuối cùng vào ngày 22 tháng 9 năm 1846, người ta đã tìm ra hành tinh mới này — Hải Vương Tinh.

Những thiên thể ảnh hưởng lớn nhất đến cơ thể người chắc chắn là Mặt Trời, Mặt Trăng và Trái Đất. Có thể nói, Trái Đất đã in bóng lên cơ thể con người. Chỉ những người tu luyện mới thực sự thấu hiểu ý nghĩa của câu nói này.

Ấn Độ cũng là một quốc gia văn hóa cổ đại, qua các thời đại cũng có nhiều người tu luyện với lý thuyết và phương pháp độc đáo, nổi tiếng nhất là “Yoga”. Điều thú vị là cả Yoga Ấn Độ và thuật dưỡng sinh của Đạo gia Trung Quốc đều dùng lý thuyết “thiên nhân hợp nhất” trong tu luyện cơ thể, đồng thời có nhiều điểm tương đồng trong phương pháp và quá trình thực hành. Tuy nhiên, do vị trí địa lý và vĩ độ khác nhau trên Trái Đất, việc tu luylện Theo quan niệm của Đạo gia, Trái Đất là một vũ trụ, cơ thể người cũng là một vũ trụ. Trái Đất có kinh tuyến và vĩ tuyến, cơ thể người cũng có kinh tuyến và vĩ tuyến. Vấn đề về kinh lạc và huyệt đạo của Trái Đất đã được đề cập, đây là một bước đột phá lớn về mặt lý thuyết. Học thuyết và thực tiễn về kinh lạc trong cơ thể người của người Trung Quốc đã được thế giới biết đến. Tuy nhiên, học thuyết và phương pháp thực hành liên quan đến “vĩ tuyến” của cơ thể người từ lâu đã được Đạo gia giữ bí mật, thế nhân không hề hay biết. Trong cuộc phỏng vấn chuyên sâu lần này với ông Vương Lực Bình, ông đã lần đầu tiên tiết lộ với người biên soạn cuốn sách về sự tồn tại của “vĩ tuyến” trong cơ thể người. Điều này chắc chắn sẽ thu hút sự quan tâm và chú ý của giới học giả toàn cầu, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ việc khám phá những bí ẩn của cơ thể người.

Trái Đất có một đường trung tâm là đường xích đạo, cơ thể người cũng có một đường trung tâm. Thuật dưỡng sinh của Đạo gia chia cơ thể người thành ba vị trí tạo “đan” (năng lượng tinh túy), thường gọi là Thượng đan điền, Trung đan điền và Hạ đan điền. Đa số người tu luyện biết rằng Hạ đan điền nằm trong vùng bụng dưới rốn, nhưng vị trí chính xác thì không rõ ràng. Các đạo gia qua các đời cũng có nhiều quan điểm khác nhau về điều này. Dựa trên kinh nghiệm tu luyện của bản thân, ông Vương Lực Bình kết luận rằng vị trí chính xác của Hạ đan điền thay đổi tùy theo địa lý nơi con người sinh sống trên Trái Đất. Đối với người Trung Quốc, Hạ đan điền nằm trong khoảng từ 1,2 đến 1,5 tấc dưới rốn. Người sống gần xích đạo, Hạ đan điền sẽ gần rốn hơn; người sống xa xích đạo, Hạ đan điền sẽ xa rốn hơn.

Mở rộng hơn, cơ thể người từ trên xuống dưới tương ứng với Trái Đất từ Nam lên Bắc. Thông thường, người ta quy ước Bắc là trên, Nam là dưới. Vậy tại sao mối tương ứng giữa Trái Đất và cơ thể người lại đảo ngược như vậy?

Ông Vương Lực Bình giải thích rằng, khi ở trong bụng mẹ, tư thế tự nhiên của con người là đầu hướng xuống dưới, thân hướng lên trên, hoàn toàn trùng khớp với quy ước “Nam dưới, Bắc trên” của Trái Đất.

Vì sao Đạo gia nhấn mạnh việc phải ngồi kiết già (tư thế hoa sen) khi tu luyện, đặc biệt là kiểu ngồi song bàn (hai chân xếp chồng lên đùi)? Lý do nằm ở đây. Đó chính là để người tu luyện mô phỏng tư thế của thai nhi trong bụng mẹ, giúp…

Việc đóng kín tất cả các huyệt đạo trên cơ thể, không để lộ các lỗ hổng, rất thuận lợi cho việc hình thành thai tức (hơi thở bào thai) và khai thông huyệt đạo thứ mười ở rốn. Một tác dụng quan trọng khác của tư thế tu luyện này là giúp người tu luyện nhận thức được sự tồn tại của các đường vĩ tuyến trên cơ thể. Đạo gia nói: “Chín năm mặt tường, mười năm thành công, hai năm tắm gội trở về tiên thiên”, ý chỉ cần thời gian gấp mười hai lần so với thời gian thai nhi trong bụng mẹ để luyện thành tiên thiên khí vốn liên tục bị tiêu hao trong hậu thiên, đạt được hiệu quả dưỡng sinh đặc biệt.

Lão Tử viết: “Chở hồn phách ôm lấy một, có thể không rời xa chăng? Chuyên tâm khí đến mềm mại, có thể như trẻ sơ sinh chăng?” Trẻ hóa là một trong những mục tiêu mà Đạo gia theo đuổi trong việc dưỡng sinh. Con người già đi, không thể hoàn toàn trở lại giai đoạn trẻ sơ sinh, nhưng tu luyện để đạt được một số đặc điểm của trạng thái trẻ sơ sinh là điều có thể. Một trong những đặc điểm đó là hệ thống kinh lạc và vĩ tuyến hoàn chỉnh trên cơ thể trẻ sơ sinh khi mới chào đời. Sự tồn tại của kinh lạc trên cơ thể con người đã là một sự thật được biết đến rộng rãi, nhưng người thường không thể nhìn thấy chúng, và các thiết bị khoa học cũng như phương pháp y học phương Tây cũng không thể phát hiện ra chúng. Kinh lạc của con người tồn tại đồng thời với sự sống, và không thể tìm thấy chúng bằng phương pháp giải phẫu. Chỉ bằng phương pháp nội công, người ta mới có thể nhìn thấy rõ ràng hệ thống kinh lạc trên cơ thể sống.

Các đường vĩ tuyến trên cơ thể cũng tồn tại, chúng đan xen với các đường kinh lạc, tạo thành hệ thống mạch lạc hoàn chỉnh của cơ thể. Sự tồn tại của các đường vĩ tuyến là “bí mật ngàn năm”, ngay cả những người tu luyện cũng ít biết đến sự tồn tại của chúng. Nhưng một khi biết được sự tồn tại của chúng, quy luật sắp xếp các huyệt đạo trên cơ thể sẽ trở nên rõ ràng, hàng trăm huyệt đạo đã được khám phá có thể được ghi nhớ trong thời gian ngắn, và các huyệt đạo chưa được khám phá cũng sẽ được biết đến vị trí và tác dụng của chúng. Sứ mệnh lịch sử của Đạo gia là thông qua phương pháp tu luyện cơ thể, khám phá bí mật của cơ thể, bí mật của vũ trụ, và bí mật của mối quan hệ giữa con người và vũ trụ.

Vương Lực Bình, dưới sự hướng dẫn của ba vị lão sư, đã tu luyện Tam Tiên Công và đạt đến trình độ cao cấp này. Những việc ông đang làm cũng chính là những việc mà hàng ngàn nhà khoa học trên thế giới đang thực hiện theo cách khác và con đường khác.

Ông Vương Lực Bình cho biết, Đạo gia có nhiều tư tưởng và phát hiện có thể mang lại sự khai sáng lớn cho con người và có lợi ích to lớn đối với sự phát triển của nhân loại.

Những ví dụ như vậy nhiều không kể xiết.

Như đã nói trước đây, Trái đất và cơ thể con người có sự tương ứng đại thể, Nam Cực tương đương với phần đầu của con người. Đạo gia từ lâu đã biết rằng Nam Cực là một vùng đất quý giá. Con người phát hiện ra lục địa Nam Cực vào những năm 30 của thế kỷ trước. Gần như cùng thời gian đó, con người bắt đầu nghiên cứu sâu về chức năng của não bộ, và ở phương Tây dần hình thành ngành “tâm linh học”. Theo quan điểm của ông Vương Lực Bình, đây không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên.

Còn có những điều kỳ lạ hơn nữa. Trong quá trình tu luyện, ông Vương Lực Bình phát hiện ra rằng một số đường mạch trong cơ thể con người không hoàn chỉnh, mà có đầu không có đuôi, hoặc không có đầu không có đuôi, và chúng biến mất một cách khó hiểu khi kéo dài đến một vị trí nhất định. Phái Long Môn gọi loại mạch này là “mạch kết thúc”. Cơ thể con người cũng có một số “huyệt tử” và “huyệt cấm”, vị trí chính xác của chúng trên cơ thể chỉ có thể được xác định chính xác bằng nội công. Những huyệt đạo này, dù là trong việc chữa bệnh hay đối kháng, đều tuyệt đối không được động đến. Nếu “mạch kết thúc” gặp vấn đề, hoặc bị tác động vào “huyệt tử” hay “huyệt cấm”, con người sẽ gặp phải những vấn đề nghiêm trọng khó chữa, thậm chí có thể dẫn đến tử vong.

Vậy trên Trái đất có tồn tại những “mạch kết thúc” như vậy không? Có tồn tại những “huyệt tử” như vậy không?

Đây là một câu hỏi khai mở trí tuệ, và tôi tin rằng độc giả sẽ rất quan tâm đến vấn đề này.

Khi nhắc đến “huyệt tử” trên Trái đất, người ta thường nghĩ ngay đến “tam giác quỷ Bermuda” đáng sợ. Nó nằm ở nơi giao nhau giữa Đại Tây Dương và biển Caribe, nơi thường xuyên xảy ra các vụ mất tích bí ẩn của máy bay và tàu thuyền, được mệnh danh là “tam giác tử thần”. Theo học thuyết “thiên thể – nhân thể” tương ứng của ông Vương Lực Bình, tam giác Bermuda tương ứng với “mạch kết thúc” hoặc “huyệt tử” trên cơ thể con người. “Mạch kết thúc” và “huyệt tử” trên cơ thể con người không phải lúc nào cũng mở hoặc đóng.

Tam giác Bermuda cũng có thời gian “mở” và “đóng”. Khi “huyệt tử” trên Trái Đất như tam giác Bermuda “mở” ra, những người, phương tiện, tàu thuyền, máy bay đi qua khu vực này sẽ khó lòng sống sót. Về việc “huyệt tử” trên Trái Đất này mở hay đóng vào thời điểm nào, chắc chắn cũng có quy luật nhất định. Điều này đòi hỏi phải nghiên cứu cơ chế vận hành của chính Trái Đất, không xem nó như một vật thể vô tri mà như một tiểu vũ trụ có sự sống. Ở đây, học thuyết kinh vĩ mạch lạc trên cơ thể người sẽ cung cấp một khung lý thuyết đầy gợi mở cho việc nghiên cứu kinh vĩ mạch lạc của Trái Đất. Hơn nữa, cần đặt Trái Đất trong hệ thống lớn của Thái Dương Hệ để nghiên cứu, tìm hiểu mối quan hệ giữa sự vận hành của Trái Đất với các thiên thể khác trong Thái Dương Hệ và cả những thiên thể bên ngoài. Ở góc độ này, lý thuyết “thiên nhân hợp nhất” và “thiên nhân tương ứng” của Đạo gia cũng mang ý nghĩa khai sáng to lớn.

Khi cảnh giới tu luyện của con người được nâng cao, có thể phát hiện thêm những “mạch kết thúc” và “huyệt tử” mới, càng ẩn sâu hơn trong cơ thể.

Viết đến đây, người chấp bút cuốn sách này đã phỏng vấn ông Vương Lực Bình lần thứ hai, khi ông đang tổ chức lớp giảng Đàm đạo về thuật dưỡng sinh Đạo gia tại Thẩm Dương với hơn 1.400 người tham dự. Vừa gặp mặt, chưa kịp hỏi han dài dòng, người viết đã vội vẽ một vòng tròn bán kính khoảng một tấc tại vùng mệnh môn (thắt lưng) của ông Vương và hỏi: “Trong khu vực này trên cơ thể người, có ít nhất một huyệt tử phải không?” Ông Vương Lực Bình hơi giật mình, đáp lại: “Sao anh biết?”

“Tôi suy luận từ Trái Đất.” Sau đó, người viết kể lại quá trình này với tâm trạng háo hức như vừa khám phá ra lục địa mới.

Khi viết chương này, trước mặt người chấp bút luôn đặt một quả địa cầu nhỏ, thỉnh thoảng dừng bút lại ngắm nhìn và nghĩ ngợi: Ông Vương Lực Bình từng nói, khi con người còn trong bào thai, họ hấp thụ dưỡng chất từ mẹ thông qua rốn, vì vậy rốn chính là điểm cung cấp năng lượng cho cơ thể. Tương tự, “rốn” của Trái Đất – điểm tương ứng với rốn người – cũng phải là nơi cung cấp năng lượng cho Trái Đất. Lúc nhỏ, sư gia đã kể với ông rằng, từ Trung Nguyên…

Đi về phía nam từ Trung Nguyên, dọc theo một đường thẳng, có thể tìm thấy điểm cung cấp năng lượng của Trái Đất. Người viết lập tức liên tưởng đến nguồn năng lượng lỏng khổng lồ là dầu mỏ được tìm thấy ở khu vực Trung Đông. Phải chăng điểm cung cấp năng lượng của Trái Đất mà Đạo nhân Vô Cực đề cập nằm ở đây? Tạm thời hãy cứ suy nghĩ theo hướng đó. Rốn của con người tương ứng với vùng mệnh môn ở thắt lưng, trên “đường nội công”, đường này được gọi là “đường bảo mệnh”. Vậy khu vực tương ứng với Trung Đông là gì? Xoay quả địa cầu 180°, người viết thực sự kinh ngạc khi nhận ra rằng, xét về kinh độ và vĩ độ, khu vực Trung Đông gần như tương ứng với tam giác Bermuda. Liệu hai khu vực này có mối liên hệ thần bí nào không? Tam giác Bermuda là “điểm tử” của Trái Đất, nếu cơ thể con người thực sự có mối quan hệ sâu sắc với Trái Đất, thì ít nhất phải có một “huyệt tử” ở vùng mệnh môn của con người. Dựa trên suy nghĩ này, người viết đã quyết định gặp lại ông Vương Lực Bình.

Ông Vương Lực Bình cầm bút và giấy của người viết, vừa vẽ vừa giải thích: Chín huyệt tử trên cơ thể người đều tập trung ở vùng mệnh môn, và chúng xếp thành hình Cửu Cung. Dựa trên mối quan hệ số học của Cửu Cung, có thể suy ra rằng “điểm tử” của Trái Đất còn lớn hơn phạm vi của tam giác Bermuda đã được phát hiện hiện nay.

Hiện tại, dưới sự hướng dẫn của ba vị lão sư, ông Vương Lực Bình đang từng bước tu luyện Địa Tiên Công trong Tam Tiên Công.
Tam Tiên Công được Tổ sư Trùng Dương phát triển và hệ thống hóa dựa trên nền tảng của Linh Bảo Tất Pháp, bao gồm ba cấp bậc, mười đoạn và bốn mươi lăm tiết.

Tiểu thừa – An Lạc Diên Niên Pháp (bốn môn) – Nhân Tiên Công

  1. Phối hợp Âm Dương
    (1) Thai tức Âm
    (2) Chân thai tức
    (3) Phối hợp Khảm Ly
  2. Tụ tán Thủy Hỏa
    (1) Thái Ất xả chân khí
    (2) Tiểu luyện hình
    (3) Thiên Đồng Thiên Lão**
  3. Giao hòa Long Hổ
    (1) Thâu tóm hoàn đan
    (2) Dưỡng thai tiên
    (3) Thủy hỏa ký tế
    (4) Chân phu phụ tương kiến
    (5) Khí giao hình bất biến
  4. Thiêu luyện đan dược
    (1) Hỏa hầu
    (2) Tiểu chu thiên
    (3) Chu thiên hỏa hầu
    (4) Tụ thần dưỡng khí
    (5) Tụ khí dưỡng thần
    (6) Luyện dương dưỡng thần

Trung thừa – Trường Sinh Bất Tử Pháp (ba môn) – Địa Tiên Công

  1. Chẩu hậu phi kim tinh
    (1) Hoàn tinh bổ não
    (2) Khởi hà xa
    (3) Giao long hổ
    (4) Trừu thiêm thêm tài
    (5) Phản lão hoàn đồng
  2. Ngọc dịch hoàn đan
    (1) Ngọc dịch luyện hình phù
    (2) Mộc dục thai tiên
    (3) Tiểu hoàn đan
    (4) Đại hoàn đan
    (5) Thất phản đan
    (6) Cửu chuyển đan
  3. Kim dịch hoàn đan
    (1) Kim dịch luyện hình phù
    (2) Khởi hỏa phần thân
    (3) Kim hoa ngọc lộ
    (4) Đại ký tế
    (5) Hoàng bạch pháp

Đại thừa – Siêu Phàm Nhập Thánh Pháp (ba môn) – Thiên Tiên Công

  1. Triều nguyên luyện khí
    (1) Siêu nội viện
    (2) Luyện khí thành hình
    (3) Tử kim đan
    (4) Luyện dương thần
    (5) Đỉnh tụ tam hoa
  2. Nội quan giao hoán
    (1) Tập dương thần
    (2) Ma thiên hỏa
    (3) Giao hoán tiên phàm
    (4) Nhân gian thiên thượng hoa đắc quốc
  3. Siêu thoát phân hình
    (1) Xuất nhập phân hình
    (2) Thần tiên thoát chất
    (3) Siêu phàm nhập thánh

Vương Lực Bình đứng ở tầng thứ “thiên địa nhân” để tu luyện, thể ngộ mối liên hệ sâu sắc giữa con người và tự nhiên, khám phá bí mật của cơ thể người và vũ trụ. Ông dồn hết tâm sức vào việc tu luyện, trải nghiệm những cảnh giới khó có thể diễn tả bằng ngôn từ, giải mã những bí ẩn giữa trời đất và con người.

Tư duy của chúng ta cũng cần được nâng lên một bước, đứng ở một tầm cao hơn để hiểu mối quan hệ giữa con người và vũ trụ.

Người ta thường nói “Trái Đất là mẹ của tôi”, nhưng nếu chỉ hiểu điều này theo nghĩa đất đai sinh ra và nuôi dưỡng chúng ta thì chưa đủ. Trái Đất và cả vũ trụ đã tạo ra con người theo hình ảnh của chúng, con người là một phiên bản thu nhỏ của Trái Đất, một vũ trụ thu nhỏ. Chúng ta nên từ góc độ này để giải mã bí mật của cơ thể người, của Trái Đất và của vũ trụ. Cũng nên từ góc độ này để suy ngẫm lại mối quan hệ giữa chúng ta với Trái Đất và vũ trụ. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật không nên lấy việc thỏa mãn vô hạn các ham muốn giác quan của con người làm mục tiêu, không nên dùng thủ đoạn cướp đoạt tài nguyên thiên nhiên, và không nên trả giá bằng việc phá vỡ sự cân bằng và phụ thuộc lẫn nhau giữa con người và tự nhiên. Con người là linh hồn của vạn vật, người làm chủ vũ trụ nhưng cũng không phải là người, mà là người có lý trí và tình cảm, chứ không phải người vô lý trí và vô tình. Lý trí này là sự hiểu biết sâu sắc về bản chất của vũ trụ. Tình cảm này là tình cảm thâm sâu đối với vũ trụ. Con người đối với vũ trụ nên có những điều làm và không làm, có những thứ lấy và không lấy, có tiến có dừng, theo đuổi lợi ích và tránh điều hại, nhấn mạnh sự giao tiếp, hòa hợp, hài hòa và giữ trung đạo. Chứ không nên là hai cực đối lập, phá hủy nền tảng tồn tại và phát triển của nhân loại.

Cơ thể con người là một tiểu vũ trụ. Trong cơ thể người chứa đựng thông tin của vũ trụ, cũng như thông tin về sự phát triển của nhân loại và xã hội.

Hôm đó, ba vị lão sư kể cho ông Vương Lực Bình nghe những câu chuyện thú vị về cơ thể người. Họ kể về cuốn Thôi Bối Đồ nổi tiếng từ lâu.

Vào thời nhà Đường, có hai nhà toán học nổi tiếng, một người tên là Lý Thuần Phong và người kia là Viên Thiên Cương. Lý Thuần Phong từ nhỏ đã thông thạo nhiều sách vở, hiểu biết về thiên văn và lịch pháp, và từng giữ chức Thái sử lệnh dưới thời Đường Thái Tông. Ông có khả năng dự đoán điềm lành dữ một cách chính xác. Viên Thiên Cương thì tinh thông về phong thủy và tướng số, thường tự nhận rằng tài năng của mình vượt trội hơn Nghiêm Quân Bình. Hai người họ đã cùng nhau tạo ra một bộ sách tiên tri về sự hưng vong và biến đổi của các triều đại, gọi là “Thôi Bối Đồ”.

Có một truyền thuyết kể rằng khi hai người đang làm “Thôi Bối Đồ”, đến bức tranh thứ 60, Viên Thiên Cương đã đẩy lưng Lý Thuần Phong và bảo ông dừng lại, và đó là nguồn gốc của tên gọi “Thôi Bối Đồ”.

Tuy nhiên, Đạo gia không tin vào cách giải thích này. Họ cho rằng “thôi bối” không phải là “đẩy lưng” hay “vỗ vai”, mà là việc xem xét thông tin từ lưng của một người. Lý Thuần Phong và Viên Thiên Cương đã nhìn vào lưng của nhau để lấy thông tin, dùng ngôn ngữ hiện đại mà nói, họ đã xem xét thông tin từ lưng để dự đoán các sự kiện lớn. Hai người đã so sánh thông tin từ lưng của nhau và thấy nó phù hợp với 64 quẻ trong Bát Quái, từ đó sắp xếp thành 60 bức tranh tiên tri theo thứ tự thời gian, tạo nên “Thôi Bối Đồ” truyền thế.

Cấu trúc cơ bản của “Thôi Bối Đồ” bao gồm: quẻ tượng, tranh vẽ, lời sấm và thơ tán. Lời sấm và thơ tán mang ý nghĩa sâu xa, tranh vẽ vừa hình tượng vừa bí ẩn, tạo cảm giác mơ hồ khó hiểu.

“Thôi Bối Đồ” thực chất là một cuốn sách tiên tri, dự đoán những sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai. Có nhiều loại “Thôi Bối Đồ” khác nhau, và bản do Lý Thuần Phong và Viên Thiên Cương tạo ra là bản về sự vận hành của xã hội. Bản “Thôi Bối Đồ” được nhắc đến trong sách này là bản của các đời truyền nhân phái Long Môn của Đạo gia. Nói rộng ra, các lĩnh vực khác cũng có thể tạo ra “Thôi Bối Đồ” của riêng mình, chỉ là nội dung khác nhau và mức độ cao thấp khác nhau mà thôi. Từ góc độ này, “Thôi Bối Đồ” không hề bí ẩn.

Tuy nhiên, bản “Thôi Bối Đồ” do Lý Thuần Phong và Viên Thiên Cương tạo ra lại là “bí mật quốc gia”.

“Thôi Bối Đồ” được coi là “bí mật quốc gia” vì nó tiên tri những sự kiện lớn liên quan đến sự phát triển và biến đổi của xã hội. Các triều đại cai trị đều coi “Thôi Bối Đồ” của Lý Thuần Phong và Viên Thiên Cương là tài liệu mật, không chỉ dân thường không được xem mà ngay cả các quan chức cấp thấp cũng không có cơ hội tiếp cận. Mặc dù sau này “Thôi Bối Đồ” đã bị lưu truyền ra ngoài xã hội, nhưng rất ít người thực sự có thể hiểu được nội dung của nó.

Trong quá trình tu luyện cơ thể, Đạo gia nghiên cứu rất chi tiết các bộ phận của cơ thể con người. Những thông tin mà Đạo gia nhìn thấy từ các bộ phận cơ thể không chỉ bao gồm các bệnh lý nội tạng, sự vận hành của thiên thể, mà còn cả sự phát triển và biến đổi của xã hội.

Ba vị lão nhân dạy Vương Lực Bình học “Thôi Bối Đồ” chính là tìm kiếm thông tin từ lưng. Những thông tin này không chỉ liên quan đến quá khứ mà còn cả tương lai. Tuy nhiên, đối với người thường, lưng của một người chỉ là bộ phận sinh học, ngoài việc nhìn thấy da và lỗ chân lông, họ không thể nhìn thấy thông tin sâu xa hơn. Chỉ những người có nội công cao thâm mới có thể nhìn thấy những điều mà người thường không thể thấy được trên lưng của con người.”

Chương 8: Du Ngoạn Bốn Phương

Hai vị lão đạo trước khi xuống núi đã biết từ “Thôi Bối Đồ” rằng thiên hạ sắp loạn, nhưng không ngờ thiên hạ lại loạn đến mức này.

Sáu trăm triệu thần châu, “Hồng Vệ Binh” cầm “Tiểu hồng thư” tràn ngập khắp nơi. “Ngưu quỷ xà thần” đều nằm trong danh sách “quét sạch”, trời đất rộng lớn, không còn chỗ nào để ẩn náu.

Thế đạo đã thay đổi lớn, thần quỷ cũng không làm gì được!

Ngay cả những nơi thần tiên bảo địa sâu trong núi cao vốn ít người lui tới, những cung quán miếu mạo nơi tu dưỡng thanh tịnh, phúc địa động thiên của Phật Đạo, cũng không tránh khỏi kiếp nạn, từng nơi bị “đập phá”, “quét sạch”.

Khổng Miếu bị lật đổ, Khổng Lâm bị chặt phá.

Hồng Vệ Binh từ hơn chục tỉnh thành phối hợp hành động, chiếm đóng núi Võ Đang.

Hàng nghìn Hồng Vệ Binh cắm cờ đỏ vào chùa Thiếu Lâm trên núi Tung Sơn.

Núi Nga My bị đảo lộn.

Bạch Vân Quán ở Bắc Kinh đã bị phá hủy.

Ngọn núi Nga My và Tam Thanh Bảo Điện không còn yên bình.

Ba vị lão đạo gần đây tâm thần bị xáo trộn, ngồi nằm không yên, biết rằng đại họa sắp đến, nên nhanh chóng tránh đi.

Thành cổ Phủ Thuận cũng không yên ổn. Ba vị lão đạo xa rời chốn phồn hoa đô hội, ở trong căn nhà đơn sơ trên đỉnh núi phía tây này đã bốn năm, ẩn mình như người thường, giấu kín bộ mặt thật và tuyệt kỹ của mình, không để lộ ra ngoài. Tuy nhiên, khi dân làng gần đó gặp tai ương hoặc bệnh tật, ba vị đều mang lòng thiện, cứu giúp họ. Đôi khi cũng dùng những phương pháp mà người thường không hiểu để chữa bệnh, hiệu quả rất linh nghiệm, bệnh nhân được hưởng lợi, cảm kích sâu sắc. Nhưng thời thế thay đổi, lòng người khó lường, khó tránh khỏi việc bị người khác lợi dụng, dẫn đến đại họa. Từ thời loạn lạc cuối nhà Thanh đến thời kỳ quân phiệt hỗn chiến, rồi từ ngọn lửa chiến tranh kháng Nhật đến cuộc chiến Quốc-Cộng, ba vị lão đạo đã trải qua nhiều thăng trầm của thế cuộc, thấy nhiều biết rộng. Dù thế giới không yên ổn, vẫn còn những nơi yên tĩnh xa rời ồn ào, rừng sâu núi thẳm vẫn có chỗ ẩn thân tu luyện. Hơn nữa, ba vị lão đạo này đều đã tích lũy công phu nhiều năm, thần thông quảng đại, dù không thể thay đổi được trời đất, nhưng bảo vệ bản thân vẫn dư sức. Nhưng giờ đây “hang ổ” của họ cũng bị quét sạch, căn nhà đơn sơ ở Phủ Thuận không còn là nơi ở lâu dài được nữa. Nhưng sự nghiệp truyền đạo, qua hàng ngàn năm chưa từng gián đoạn, đến nay, ba vị lão đạo càng cảm thấy trách nhiệm nặng nề hơn. Bảo vật trí tuệ ngàn đời nhất định phải được lưu truyền, đạo lớn phải được phát huy, chờ đợi ngày sau. Ba vị lão đạo tính toán, quyết định dẫn đệ tử đi xa.

Vương Lực Bình lúc này lòng đầy lo lắng, không kém gì ba vị lão đạo. Theo quy định của ba vị, từ ngày đầu tiên bái sư học đạo, ông phải ghi chép lại chi tiết quá trình tu luyện và những trải nghiệm thực tế của mình, như một tài liệu quý giá để người đời sau nghiên cứu. Tài liệu Đạo gia nhiều như biển cả, chỉ riêng bộ “Đạo Tạng” đã tập hợp hơn 5.000 cuốn, trong đó một phần lớn là lý thuyết và phương pháp dưỡng sinh tu luyện. Nhưng những lý thuyết và phương pháp này, nói theo ngôn ngữ hiện đại, có nhiều ẩn dụ, khó hiểu, nguyên tắc mạnh mẽ, khó thực hiện. Có ba ngàn sáu trăm pháp môn tà đạo, mỗi pháp đều có nguồn gốc, đều là kết quả tích lũy kinh nghiệm thực tiễn lâu dài của người xưa. Nhưng người ta học những pháp nhỏ này, cuối cùng cũng không biết con đường tu luyện pháp lớn, dành cả đời cũng chỉ dừng lại ở tầng thấp. Theo truyền thống văn hóa cũ, những người có bí pháp đều tự coi trọng và giữ kín, rất ít truyền ra ngoài. Dù có nhiều tuyệt kỹ, nhưng hiếm khi được phổ biến rộng rãi để phục vụ toàn dân tộc. Đây là nhược điểm của văn hóa cũ, cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến văn hóa ưu tú của Trung Hoa không thể phổ biến rộng rãi trong thời gian dài. Mặc dù việc truyền thụ công phu của Long Môn không giống như truyền thống gia đình, không có rào cản huyết thống, nhưng cũng chỉ giới hạn trong việc truyền thụ từ sư phụ, số lượng đệ tử không nhiều, và phương pháp cụ thể rất ít người ngoài biết đến. Từ khi Vương Lực Bình bắt đầu học đạo, ông đã có ý định làm một công việc đổi mới, ghi chép chi tiết quá trình học đạo và luyện công để bổ sung cho những thiếu sót của “Đạo Tạng”, phục vụ cho nghiên cứu và tu luyện.

Hiện tại, môi trường xã hội xấu đi, khó tránh khỏi việc bị coi là “tứ cựu” và khó thoát khỏi nguy cơ bị hủy hoại. Nhật ký luyện công này là thành quả của bốn năm nỗ lực của ông. Hàng chục cuốn sổ nhỏ, chứa đầy hàng trăm ngàn chữ, được đựng trong một chiếc hộp gỗ dài hai thước, rộng và cao một thước. Đặc biệt là những trải nghiệm và cảm nhận về việc “tịch cốc”, một phần do sư phụ ghi chép lại qua quan sát, còn những trải nghiệm và cảnh vật mà ông tự mình trải qua được ghi chép kịp thời sau đó. Đây là tài liệu quý giá bậc nhất, dù là đối với cá nhân, quốc gia, hay thậm chí toàn nhân loại, đều là tài liệu nghiên cứu cực kỳ hiếm có.

Tuy nhiên, cha của Vương Lực Bình đã bị coi là “quyền uy kỹ thuật phản động”, việc để những tài liệu này ở nhà đã trở nên rất không an toàn. Cất giấu ở nơi khác, nhưng có chỗ nào an toàn để cất giấu? Không có nơi nào an toàn cả. Hiện tại, việc tránh nạn là quan trọng nhất, sư phụ và sư tổ đã quyết định đi xa, không thể mang theo nhật ký này. Ba vị lão đạo khuyên nhủ ông, yêu cầu ông đốt bỏ. “Thà để nó rơi vào tay kẻ xấu, làm hổ thẹn với tổ sư, thì chi bằng hủy đi, đợi sau này có cơ hội sẽ ghi chép lại. Dù không được như trước, nhưng hậu nhân cũng sẽ thông cảm.” Lực Bình đành đau lòng châm lửa, ngọn lửa thiêu rụi toàn bộ nhật ký. Ngọn lửa cũng thiêu rụi trái tim của Vương Lực Bình. Giờ đây, ông không còn gì để luyến tiếc, chuẩn bị cùng ba vị lão đạo đi xa, đến một nơi mà không ai biết trước được.

“Vân du” là quá trình tu luyện không thể thiếu của Đạo gia, khác xa với “du lịch” của người thường. Du lịch của người thường chỉ là thay đổi môi trường sống, ngắm cảnh sông núi. Các văn nhân, nhã sĩ cũng chỉ thông qua du lịch để tăng thêm kiến thức, thưởng thức phong cảnh thiên nhiên, tìm hiểu phong tục địa phương, rèn luyện tâm tính, khơi dậy cảm hứng. Còn vân du của Đạo gia, mục đích và ý nghĩa hoàn toàn khác. Mục đích chính của việc vân du có ba điểm. Thứ nhất là tu luyện, thứ hai là tìm kiếm chân lý, và thứ ba là khám phá. Tu luyện là sử dụng linh khí của các vùng núi non khác nhau để nuôi dưỡng chân khí trong cơ thể, giúp công phu ngày càng tinh thâm. Tìm kiếm chân lý là việc tìm kiếm các chân nhân sống trong các hang động và danh sơn khắp nơi, thảo luận đạo lý và học hỏi lẫn nhau. Khám phá là tìm kiếm quy luật sinh tồn trong các môi trường sống khác nhau. Đạo gia không ra ngoài vân du nếu chưa đạt đến một trình độ nhất định. Điều này cho thấy vân du có vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống tu luyện của Đạo gia.

Đạo gia quan sát thiên nhiên rất tỉ mỉ, và sự quan sát này được xuyên suốt bởi một tư tưởng triết học, đó là lý thuyết “thiên nhân hợp nhất”. Sự biến đổi của trời đất và cơ thể con người có mối liên hệ mật thiết, chỉ những người có công phu cao mới có thể cảm nhận được những thay đổi nhỏ nhặt bên ngoài từ bên trong cơ thể mình.

Hiện tại, ba vị lão đạo và một thanh niên này đang vân du khắp nơi, thực sự là do bất đắc dĩ, nhưng trời đất tự nhiên đã vận hành đến đây, họ cũng chỉ có thể thuận theo. Vương Lực Bình tuy không sánh được công phu của ba vị lão đạo, nhưng còn trẻ tuổi, lại đã trải qua nhiều khó khăn, điều này cũng có lợi cho việc tu luyện của anh.

Nền văn minh Trung Hoa, với những ghi chép bằng văn tự, đã có lịch sử hàng ngàn năm, và chủ đề xuyên suốt rất rõ ràng chính là văn hóa Đạo gia. Tuy nhiên, trong thời kỳ phong kiến dài đằng đẵng, tinh hoa của văn hóa Đạo gia liên tục bị cấm đoán. Nguyên nhân là gì? Bởi vì Đạo gia hiểu biết quá nhiều về trời đất và con người, điều này khiến việc cai trị trở nên khó khăn.

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc, ông đã thống nhất văn hóa Trung Hoa. “Sử quan không phải của Tần đều bị đốt hết”, các sách vở của trăm nhà “bị quan lại đốt cháy”. “Những gì không bị tiêu hủy là sách y học, bói toán, và trồng trọt. Nếu muốn học, hãy lấy quan lại làm thầy.” Việc “lấy quan lại làm thầy” là một phát minh lớn, và các nhà cai trị sau này đều noi theo.

Trong sự phát triển của văn hóa Trung Hoa, có một hiện tượng kỳ lạ đáng chú ý. Người ta biết rằng mọi vật tồn tại trong không gian đều có kinh nghiệm và kết cấu. Cơ thể con người cũng có kinh tuyến và vĩ tuyến, như đã đề cập trước đây. Sách vở cũng có kinh tuyến và vĩ tuyến, nhưng hiện tại chỉ còn kinh tuyến, thiếu vĩ tuyến. Tại sao lại như vậy? Nguyên nhân là sau khi Tần Thủy Hoàng đốt sách, nhà Hán “độc tôn Nho thuật”, các kinh điển Nho giáo tự nhiên được bảo tồn, trong khi tư tưởng Đạo gia…

Các “kết cấu” dựa trên nền tảng tư tưởng Đạo gia đã không được phát triển rộng rãi trong dân gian. Những kết cấu này đều là những điểm then chốt bàn về trời đất và con người, và lại trở thành đối tượng bị cấm đoán bởi các nhà cai trị.

Về sau, lịch sử liên tục lặp lại những hiện tượng tương tự. Những kiến thức về thiên văn, địa lý, âm dương, thuật số, và binh pháp thực dụng, nếu để dân chúng nắm giữ thì quá nguy hiểm. Những sách này có phải là mê tín không? Các hoàng đế phong kiến biết rõ bản chất của chúng, và họ có lý do riêng để cấm đoán.

Lấy “Thôi Bối Đồ” làm ví dụ, đây vốn là một cuốn sách tiên tri, được coi là bí mật quốc gia cấp cao. Không chỉ dân thường không được xem, mà ngay cả các quan chức cao cấp cũng không dễ dàng tiếp cận. Về sau, không hiểu sao cuốn sách này lại lưu truyền ra ngoài xã hội, dù bị cấm nhưng vẫn có người lưu giữ. Triệu Phổ, đại thần của Tống Thái Tổ, đã tâu lên hoàng đế về việc này. Thái Tổ nói: “Không cần cấm nhiều, chỉ cần đảo lộn thứ tự của nó là được.” Sau đó, các bản sao với thứ tự lộn xộn được lưu truyền trong dân gian, càng đọc càng thấy mơ hồ. Dù thế gian biết “Thôi Bối Đồ” quan trọng, nhưng rất ít người có thể hiểu được.

Một ví dụ khác là Lưu Cơ thời nhà Minh, ông giỏi về thiên văn và binh pháp, tinh thông thuật số, đã giúp Chu Nguyên Chương giành được thiên hạ và quy hoạch mở rộng kinh đô, công lao rất lớn. Năm Hồng Vũ thứ tám, khi ông lâm bệnh nặng, đã ra lệnh cho con trai cả nộp tất cả các sách thiên văn cho triều đình. Vì triều đình có lệnh cấm dân gian không được lưu giữ loại sách này, cũng không được tự học thiên văn. Điều này cho thấy sách Đạo gia không phải là thứ học vấn nông cạn hay mê tín.

Những bảo vật văn hóa Đạo gia như vậy, qua các biến động chính trị qua các triều đại, đã nhiều lần bị hủy hoại, chỉ còn lại một số ít được lưu giữ trong các hang động sâu thẳm, được truyền thụ theo cách đơn tuyến bởi các phái khác nhau. Điều này giống như những bí mật được truyền trong dân gian, thực chất là một phương pháp bảo vệ văn hóa, bất đắc dĩ mà phải làm. Tinh hoa văn hóa Trung Hoa nhờ đó được bảo vệ và lưu truyền, thật đáng mừng, nhưng sự lưu truyền và phát triển của văn hóa Trung Hoa cũng vì thế mà bị hạn chế rất nhiều, thật đáng tiếc.

Hiện tại, thời gian đã đến cuối những năm 60 của thế kỷ 20, làn sóng hủy diệt văn hóa lại một lần nữa trỗi dậy trên đất Trung Hoa. Ba vị lão đạo và một thanh niên ở núi Tây Phủ Thuận tự nhiên cảm thấy trong lòng vô hạn cảm khái.

Đêm đó, mây đen che kín bầu trời, gió lạnh rít qua. Bốn thầy trò sau khi cúng tế trời đất và tổ sư, giấu kín bài vị tổ sư, thu dọn các dụng cụ khác, đợi khi mọi thứ đã ổn thỏa, chỉ mang theo những thứ cần thiết nhất, rồi lặng lẽ rời núi mà không ai hay biết. Vô Cực đạo nhân 86 tuổi bước đi nhanh nhẹn đi trước, Thanh Tĩnh đạo nhân, Thanh Hư đạo nhân và Vương Lực Bình theo sau, bốn người biến mất trong màn đêm mênh mông.

Bốn thầy trò đi nhanh trên đường, ba vị lão đạo vận dụng công phu đi bộ, Vương Lực Bình dù trẻ trung khí thế nhưng cũng đuối sức. Sư gia thấy anh thở hổn hển, dừng lại nói: “Vĩnh Sinh, ngươi hãy đi theo con đường nhỏ phía trước, ba người chúng ta sẽ nghỉ ngơi ở đây một lát, khoảng một canh giờ, ngươi hãy đợi ở dưới gốc cây lớn phía trước.” Nói xong, ba vị lão đạo đã ngồi xuống.

Vương Lực Bình nghĩ, sư gia và sư phụ đã cao tuổi, hãy để họ nghỉ ngơi rồi đi tiếp, mình sẽ đi trước đợi họ. Lực Bình lặng lẽ đi nhanh, sau một canh giờ đã đi được mấy chục dặm, thấy trên núi có một cây lớn, liền đến dưới gốc cây. Đang định ngồi nghỉ một chút, không nghe trong tai vang lên tiếng cười: “Vĩnh Sinh, ngươi đến muộn rồi. Ba chúng ta đã nghỉ ở đây lâu rồi.” Lực Bình lập tức cảm thấy xấu hổ.

Thanh Tĩnh đạo nhân nắm tay anh, bảo anh ngồi xuống, nói: “Để vân du thiên hạ, trước tiên phải luyện công phu chân, nếu không thì đi đường sẽ tốn thời gian và sức lực, chỉ đi được vài ngọn núi lớn, người đã già đi không thể đi tiếp được. Đi bộ tuy là ngoại công, nhưng trước tiên phải có nội công tinh thuần, dùng ý niệm nâng cơ thể lên, nhẹ như lông chim, đi lại mới nhanh như chớp. Cộng thêm công phu cân bằng và phương pháp thở tự nhiên mà ngươi đã học trước đây, cứ đi năm mươi dặm, một trăm dặm, hai trăm dặm thì ngồi xuống đất một lần, thư giãn chân, vận khí dưỡng thần, như vậy mới có thể đi mãi không mệt.”

Thanh Tĩnh đạo nhân lại dạy anh các phương pháp cụ thể, Vương Lực Bình trên đường vân du liên tục luyện tập, dần dần học được công phu đi bộ.

Sư phụ lại truyền thụ cho anh phương pháp xác định phương hướng. Công phu cơ bản là dựa vào mặt trăng, các chòm sao xác định hướng đi, dùng núi, sông, đá, cây, nhà cửa và các cảnh vật tự nhiên khác để xác định vị trí. Công phu trung cấp có thể xác định phương hướng trong đêm tối, phương pháp là trong lúc nghỉ ngơi ngồi thiền, dùng tiểu chu thiên trong cơ thể để tìm vị trí mặt trăng, sau đó mở thiên nhãn quan sát cảnh vật xung quanh để xác định vị trí. Đến công phu thượng thừa, những thứ này đều không cần dùng nữa, chỉ cần đi theo linh cảm, linh cảm đó chính là nguyên thần của bản thân. Đây lại là ba tầng “thiên địa nhân”, vạn sự vạn vật đều có ba tầng này, càng lên cao công phu càng sâu, mà lý luận công phu càng đơn giản, mộc mạc. Vì vậy nói: Đạo giả, phác dã.

Lần xuất du này, để tránh họa loạn, chỉ cầu bình an vô sự, trên đường đi, ba vị lão đạo cũng nhân cơ hội truyền thụ công pháp cho Lực Bình. Có khi ở một nơi thanh tĩnh, ba vị lão đạo liền giảng kinh thuyết pháp cho anh, từng bước sâu hơn, hiện tại Vương Lực Bình đã hiểu được nhiều đạo lý, nghe một lần là đắm chìm.

Một lần, bốn người lại nghỉ ngơi. Cuốn “Hồng Bảo Thư” trong túi Vương Lực Bình rơi xuống đất, anh không nhặt lên. Sư phụ nói: “Nhặt lên cất đi, bây giờ nó chính là hộ thân phù, thông hành chứng của chúng ta.” Vương Lực Bình không hiểu. Sư phụ tiếp tục nói: “Người ở ‘hạ tam giới’ đều phải có ‘hộ thân phù’ mới được, vì họ không thể nắm giữ vận mệnh của mình, không phải là chủ nhân của chính mình. Hiện tại chúng ta vẫn đang đi trong ‘hạ tam giới’, cũng phải dựa vào vật này để ẩn thân. Sau này ngươi đến được ‘trung tam giới’, ngươi sẽ trở thành chủ nhân của vận mệnh mình, cũng không cần ‘hộ thân phù’ này nữa.”

Bốn thầy trò đi đường, xa rời thị trấn, chỉ đến những thôn làng hoang dã. Khi đói khát, Vương Lực Bình an ủi ba vị lão đạo nghỉ ngơi, một mình đi tìm nước uống và thức ăn, mang về cho ba vị lão đạo ăn. Có khi, Vương Lực Bình cũng cùng sư phụ giả làm người chạy nạn đến làng xin ăn, nhưng chỉ xin những thức ăn thanh tịnh. Thời tiết lạnh giá, tìm một nơi tạm tránh gió tuyết để trú thân. Cứ như vậy trôi qua, không ngờ đã mấy tháng.

Một ngày, bốn thầy trò đến chân một ngọn núi, thấy trời không còn sớm, phía xa chân trời mây đen kéo đến. Vô Cực đạo nhân nói: “Hãy tìm một nơi gần đó để tá túc qua đêm.”

Bốn người nhìn ra xa, quả nhiên thấy ở lưng chừng núi, nơi cây cối um tùm, có khoảng mười hộ gia đình sống rải rác, liền hướng về ngôi làng đó đi tới.

Ngôi làng này yên tĩnh và cổ kính, nhà cửa của dân làng chủ yếu được xây bằng đá, trên mái lợp một ít cỏ tranh để che mưa. Làng cách xa huyện lỵ và trụ sở xã, đường núi khó đi, nên cán bộ ít khi đến đây. Dân làng tuy cũng là thành viên hợp tác xã, nhưng sống tập trung theo dòng họ, người già vẫn có uy tín cao. Đầu làng có một khoảng đất nhỏ bằng phẳng, dưới gốc cây lớn có một cối xay đá, có lẽ đây là nơi dân làng tụ họp. Bốn thầy trò vào làng, đặt đồ đạc mang theo lên cối xay đá, ba vị lão đạo ngồi xuống nghỉ ngơi, Vương Lực Bình nhìn quanh, thấy trẻ con trong làng tụ tập lại. Ngôi làng hẻo lánh này ít khi có người đến, hôm nay có bốn người lạ đến, cũng là chuyện lớn, khiến lũ trẻ cảm thấy vui mừng.

Ba vị lão đạo thấy ngôi làng nghèo khó, quần áo dân làng rách rưới, trẻ con ai nấy đều có vẻ đói khát, không khỏi động lòng thương xót. Thấy lũ trẻ tụ tập ngày càng đông, Vô Cực đạo nhân bất chấp mệt mỏi sau chặng đường dài, nói với Thanh Tĩnh đạo nhân: “Hãy để Vĩnh Sinh biểu diễn vài đường quyền cước, cho dân làng thêm phần hứng thú.”

Thanh Tĩnh đạo nhân hiểu ý, không biết từ lúc nào đã cầm trên tay một chiếc chiêng vỡ, gõ vang lên, lập tức cả ngôi làng náo nhiệt, dân làng ít khi thấy cảnh tượng như vậy, dắt già dắt trẻ, ùn ùn kéo đến, mấy chục người vây quanh ba vị lão đạo và chàng thanh niên, xem họ biểu diễn “trò gì”.

Thanh Tĩnh đạo nhân trông thực sự giống như một người bán nghề giang hồ, hai tay chắp lại, đi một vòng quanh sân, cảm ơn dân làng đã đến xem: “Bốn chúng tôi chạy nạn đến đây, đều là người nghèo khổ, trên người không có gì quý giá, chỉ học được chút kỹ năng quyền cước, kiếm sống qua ngày, hôm nay xin mạo muội biểu diễn, mong mọi người thông cảm, giúp đỡ.”

Dân làng thấy ba vị lão đạo đều đã cao tuổi, vẫn chưa có nơi an thân, tỏ lòng thương cảm; thấy chàng thanh niên này cũng có tấm lòng lương thiện, đều có thiện cảm với anh. Dân làng quả thật chất phác, có nhiều người nói: “Hãy ở lại đây, mọi người sẽ lo cơm nước cho các vị.”

Bốn thầy trò vô cùng cảm động. Vương Lực Bình không cần đợi sư phụ nói, đã bước ra giữa sân, cúi đầu chào mọi người, cảm ơn sự tốt bụng của dân làng. Sau đó, anh đứng vững tư thế, bắt đầu biểu diễn, tinh thần phấn chấn, uy phong lẫm liệt, xóa tan hình ảnh của một nho sinh điềm đạm, khiến mọi người kinh ngạc. Chỉ thấy anh nhanh chóng ra đòn, di chuyển, một bài quyền đánh ra khiến mọi người hoa mắt, ai nấy đều vỗ tay khen ngợi.

Vương Lực Bình tĩnh lặng một chút, sau đó từ từ khởi thế, hai tay ôm lại, như đang ôm một quả cầu, di chuyển khắp cơ thể. Trong chốc lát, mọi người thấy trong tay anh thực sự có một vật, to bằng quả trứng, lấp lánh ánh sáng, khiến ai nấy đều sửng sốt, mở to mắt nhìn, sợ rằng mình nhìn nhầm. Quả cầu lửa không biến mất, mà ngày càng lớn hơn, màu sắc càng đẹp, như một quả cầu cầu vồng đang nhảy múa trong tay Vương Lực Bình. Vương Lực Bình bước những bước khó hiểu, quả cầu cầu vồng xoay quanh người anh, khiến dân làng hoa mắt, liên tục reo hò. Mọi người đang xem say sưa, bỗng thấy anh lắc mạnh hai tay, quả cầu biến thành ba quả, mỗi tay một quả, bụng còn treo một quả. Ba quả cầu cầu vồng bay lượn quanh người, như dải lụa quấn quanh thân, tiếng gió rít vang lên, mọi người há hốc miệng. Một lát sau, có đến chín quả cầu bay ra, bao quanh toàn thân Vương Lực Bình, bay lượn khắp nơi, khiến dân làng ai nấy đều sửng sốt. Ba vị lão đạo thấy công phu của Lực Bình, cũng gật đầu mỉm cười.

Đột nhiên, Vương Lực Bình dừng lại, quả cầu biến mất, hai tay từ từ hạ xuống trước ngực, mở mắt, thu công.

Dân làng reo hò ầm ĩ, hôm nay thực sự mở mang tầm mắt.

Độc giả đã biết đây chính là “Bát Quái Ý Vị” mà sư phụ dạy anh. Điểm tuyệt diệu của Bát Quái Ý Vị không nằm ở vẻ ngoài đẹp mắt, có thể khiến dân làng vui vẻ, mà ở chỗ nó có công dụng khác. Công dụng đó chính là “phân thân”. Khi quả cầu cầu vồng xuất hiện, cơ thể của anh đã được đặt vào trong đó, nhưng “cơ thể” này người thường không nhìn thấy được. Bạn thấy Vương Lực Bình đang xoa quả cầu, thực ra anh đang mát-xa một phần cơ thể mình.

Bát Quái Ý Vị còn có công dụng tuyệt diệu khác, đó là có thể dùng nó để truyền “tín linh” đến nghìn dặm xa. Bởi vì “tôi” ở trong quả cầu, quả cầu này chính là một “nguyên” toàn diện, mọi thứ của tôi đều nằm trong đó, nó giống như “tôi” có sự sống, tư duy và linh tính. Điều này khiến người thường càng khó hiểu hơn.

Người hiện đại nói “thông tin”, người xưa nói “tín linh”, chỉ một chữ khác nhau, nhưng thực sự cách xa vạn dặm. “Thông tin” và “tín linh” không phải là cùng một sự vật, mà còn không cùng một tầng thứ, không thể lẫn lộn. Chữ “linh” này thực sự là nét vẽ điểm nhãn, một chữ khác nhau, phân chia hai thế giới sinh vật và phi sinh vật, hai tầng trời đất hạ tam giới và trung tam giới.

Bí mật của quả cầu cầu vồng người thường không hiểu, dân làng xem náo nhiệt càng không rõ. Mọi người thấy chàng thanh niên này có vẻ ngoài nho sinh yếu ớt, không ngờ anh lại có thể biểu diễn “trò” như vậy, ai nấy đều nhìn anh với ánh mắt khác.

Lúc này, Thanh Tĩnh đạo nhân bước ra, dùng một chút mẹo nhỏ để tăng thêm phần náo nhiệt. Không ngờ dân làng thấy công phu cứng rắn của ông, có mấy chàng trai mang đến một tảng đá lớn, hỏi vị sư phụ này có thể chặt đứt nó không. Thanh Tĩnh đạo nhân thấy dân làng hứng thú, cũng không từ chối, giống như diễn viên kịch làm động tác, trước tiên làm vài thế võ hoa mỹ, vận đủ khí hỗn nguyên trong ngũ tạng, hét lớn một tiếng, bàn tay lớn đập mạnh xuống, tảng đá “rầm” một tiếng vang giòn, đã vỡ thành mấy mảnh. Dân làng nhìn sửng sốt. Mấy người khiêng đá, xem tay của Thanh Tĩnh đạo nhân, bàn tay của người bình thường, không có gì đặc biệt. Ông lão 76 tuổi này vui đến mức không thể ngậm miệng lại được.

Vương Lực Bình thấy sư phụ có sức mạnh thần kỳ, trong lòng cũng cảm thấy kính phục. Anh biết sư phụ thế hệ này rất lợi hại, sư phụ đã từng truyền thụ cho anh. Một lần anh mặc áo giáp bảo vệ ngực và đối luyện với sư phụ, sư phụ thấy đệ tử công phu đã khá sâu, liền dùng chiêu thật thử anh, không ngờ vừa chạm vào cơ thể Vương Lực Bình, anh đã bị đánh bay xa hai trượng. Sư phụ vội vàng đỡ Vương Lực Bình dậy, sờ thấy hai xương sườn bên phải đã gãy, sư phụ tự biết mình lỡ tay, đau lòng hơn…

Vương Lực Bình còn đau khổ hơn. Sự việc này cũng khiến sư gia kinh ngạc, vội đến thăm hỏi. May mắn là ba vị lão đạo có tuyệt kỹ, không lâu sau đã nối xương cho Lực Bình, chỉ cần thời gian để hồi phục dần. Sư gia nói với anh, may mắn là có áo giáp bảo vệ, và mạng lớn, người thường nếu trúng chưởng của Vương Giáo Minh thì khó mà sống sót. Vương Lực Bình mới biết công phu chưởng pháp của sư phụ lợi hại, càng ngày càng khổ luyện.

Những chàng trai trong làng vẫn vây quanh Thanh Tĩnh đạo nhân không rời, trong đám đông bước ra một cụ già, các chàng trai tự động nhường đường. Cụ già nói: “Trời đã tối, để mấy vị sư phụ này nghỉ ngơi dùng bữa, mọi người về đi.” Quay lại, cụ già lễ phép với “bốn vị sư phụ”, mời họ qua đêm tại kho của “đội sản xuất”. Mọi người thấy tộc trưởng đã sắp xếp ổn thỏa, liền giải tán. Tộc trưởng dẫn bốn vị sư phụ đến kho để an đốn.

Căn kho này cũng rất đơn sơ, ngoài vài nông cụ ra không có gì khác, nhưng đủ chỗ cho bốn người ngủ. Có mấy đứa trẻ vẫn vây quanh “bốn vị sư phụ” không rời, lúc này đã ôm cỏ khô đến lót kho. Tộc trưởng lấy chiếc đèn lồng treo trên tường xuống, châm lửa thắp sáng, đặt lên một chiếc ghế đá trong phòng, mọi người ngồi quây quần trên cỏ, trò chuyện đủ thứ chuyện.

Một lát sau, lần lượt có người mang bánh ngô, canh nóng đến, tộc trưởng tự tay đưa cho “bốn vị sư phụ”, nói: “Mời dùng. Ở nơi thôn dã, chỉ có những món ăn đơn giản này, mong các sư phụ thông cảm, đừng khách sáo.” Bốn thầy trò cũng không từ chối, mấy ngày nay đâu có được ăn những món ngon như vậy, Vương Lực Bình vừa ăn vừa đỏ hoe mắt.

Sau bữa ăn, lại có nhiều người mang lương khô đến, một hai hào tiền, bốn người đều nhờ người mang về, cảm ơn rối rít. Tộc trưởng thấy vậy, đành mời mọi người về, để “bốn vị sư phụ” nghỉ ngơi.

Chớp mắt, chỉ nghe một tiếng sấm vang lên, mưa rơi ào ào. Bốn thầy trò tắt đèn, ngồi thiền một lúc rồi mỗi người đi ngủ.

Đây là bức tranh cuộc sống vào cuối những năm sáu mươi.

Bốn người kế thừa các phương pháp tu luyện Đạo gia đã bị cuốn vào cơn bão chính trị trong nước, không có nơi để an thân lập mệnh, buộc phải đổi tên, cải trang, trốn tránh vào núi rừng, sống cuộc sống lang thang, biểu diễn trên đường phố, xin ăn khi đi qua các làng.

Cả Trung Quốc bị xáo trộn, bao nhiêu người như điên như cuồng, văn hóa bị phá hủy, sự nghiệp bị gián đoạn. Đó là bi kịch của dân tộc.

Đây chính là khoảng thời gian quý báu nhất sau khi phục hồi vào những năm năm mươi sau chiến tranh, nhiều quốc gia đang nắm bắt cơ hội này để phát triển về kinh tế, văn hóa, chính trị, nhưng đất nước Trung Hoa lại chìm trong hỗn loạn, sự cân bằng bị phá vỡ, sinh khí bị mất đi, nguyên khí bị tổn thương.

Trung Quốc, ngươi có địa lợi nhưng không có thiên thời, có thiên thời nhưng không có nhân hòa, làm sao ngươi không thể lạc hậu, làm sao không bị đánh, làm sao không nghèo khó! 

Trung Quốc, ngươi có trí tuệ lớn, trí tuệ này khiến người phương Tây phải khiếp sợ; nhưng ngươi cũng có sự ngu dốt lớn, sự ngu dốt này khiến người phương Tây phải bật cười. Một vĩ nhân phương Tây đã nói, điều ông sợ nhất là người khổng lồ phương Đông tỉnh giấc từ giấc ngủ say. Bây giờ người khổng lồ dường như đã tỉnh, nhưng đứng dậy lại mơ hồ tự giết lẫn nhau, chiến tranh không ngừng, khi thực sự tỉnh giấc, lại bị tụt lại phía sau một khoảng cách dài. Người khổng lồ ngốc nghếch, hãy chữa lành vết thương và từ từ đuổi theo phía sau.

Bi kịch của dân tộc này!

Trái đắng mỗi người đều phải nếm!

Mưa rơi lất phất rất lâu rồi mới tạnh. Bốn thầy trò ngủ được vài tiếng, dậy sớm ngồi thiền, khi kết thúc thì trời đã sáng rõ. Bốn người lại ra ngoài luyện tập ngoại công, cảm nhận không khí núi rừng đặc biệt trong lành.

Chỉ thấy tộc trưởng đi tới, Vô Cực đạo nhân vội vàng đón lấy, hai người chào hỏi. Vô Cực đạo nhân nói: “Đến đây làm phiền, dân làng quá nhiệt tình, khiến chúng tôi không biết làm sao để đền đáp.”

Tộc trưởng vẫy tay nói: “Đại ca đừng khách sáo. Đi xa nhà, chắc chắn sẽ vất vả. Làng quê hoang vu này của tôi thực sự không có gì tốt để chiêu đãi, chỉ có thể làm phiền bốn vị sư phụ. Tôi lo lắng rằng đêm qua mưa lớn, không biết nhà có bị dột không, có làm ướt các vị không.”

Vô Cực đạo nhân nói rằng nhà không bị dột, đêm qua yên ổn. Tộc trưởng yên tâm. Vô Cực đạo nhân thấy ông nhìn lên trời, mây đen vẫn không tan, mặt mày lo lắng, biết ngay trong lòng ông có chuyện, liền hỏi ông có khó khăn gì.

Tộc trưởng thở dài, một lúc lâu sau mới nói: “Trên vùng núi rừng này, ruộng đất rất ít, cả làng già trẻ chỉ biết trông chờ vào trời. Hiện tại đang là mùa lúa chín, sắp phải gặt hái, nhưng mưa dầm không ngớt, biết làm sao đây?”

Vô Cực đạo nhân cười nói: “Đệ đừng lo lắng về chuyện này. Hãy về bảo mọi người cứ yên tâm gặt hái.” Tộc trưởng nghe giọng điệu nghiêm túc của ông, lại thấy hai vị sư phụ đằng sau cũng có ý như vậy, liền quay về.

Vô Cực đạo nhân liền ra lệnh cho Vương Giáo Minh, Giả Giáo Nghĩa và Vương Vĩnh Sinh đến một nơi yên tĩnh bên ngoài làng để làm phép. Ba người đến một gò đất nhỏ. Bày trận xong. Thanh Tịnh sư phụ nói với Vương Lực Bình: “Con hãy xem kỹ, trên trời có mây mưa và sấm sét, làm phép dừng mưa dễ bị sét đánh nhất, vì vậy trước tiên phải tránh sét. Khí sét thuộc hỏa, tương ứng với tim trong cơ thể, cách tránh sét là trong khoảnh khắc gặp tia chớp, hãy đóng tim lại, cắt đứt liên hệ giữa hỏa khí và tim, khí sét của con mạnh, hỏa khí trong tim ta còn mạnh hơn con, niệm chú như thế này, khí sét sẽ dừng lại, lúc đó ta sẽ trở thành chủ nhân của vùng trời đất này. Ta là vua, nó là bề tôi. Nó phải nghe lời ta.”

Thanh Tịnh đạo nhân nói xong, liền làm động tác, đột nhiên toàn thân run lên, trong miệng phát ra một âm thanh, đồng thời trên trời một tia chớp lóe lên, tiếng sấm vang xa. Sau đó, ông đưa hai tay chỉ về phía tia chớp trên trời, nhẹ nhàng gạt đi. Chỉ thấy đám mây trên trời dần tách thành hai phần, di chuyển về hai phía, ở giữa lộ ra một vệt màu xám trắng.

Thanh Hư đạo nhân liền bảo Vương Lực Bình vận khí làm phép, lấy vũ trụ trong cơ thể làm chủ vũ trụ bên ngoài.

Lúc này, chỉ thấy những đám mây dày đặc từ từ chuyển động, khe hở ở giữa ngày càng rộng ra. Thanh Hư đạo nhân cũng giơ hai tay lên, ba người quay lưng lại với nhau tạo thành thế tam giác, tay hướng lên trời, mây di chuyển ra xa, giống như một đàn cừu bị xua đuổi bằng roi tản ra khắp nơi. Khoảng trống ở giữa ngày càng lớn, ngày càng sáng, chỉ trong chốc lát, đám mây đen xám bay qua trước mặt họ và biến mất về phía chân trời. Phần giữa bầu trời trở nên trong xanh, rực rỡ, đẹp vô cùng. Khi những đám mây đen bay đi hết, mặt trời vàng rực rỡ phương Đông cuối cùng cũng lộ ra hoàn toàn, chiếu sáng những ngọn núi một cách tươi đẹp lạ thường. Bốn thầy trò tắm mình trong ánh nắng mặt trời, tinh thần vô cùng phấn chấn. Chỉ sau nửa giờ làm phép, bầu trời đầy mây đen đã được thay thế bằng một thế giới mới tươi sáng và rực rỡ.

Vương Lực Bình lại học được một chiêu mới, trong lòng vui mừng khôn xiết. Trên đường về, Thanh Tịnh sư phụ nói với anh rằng, việc dừng mưa không khó, nhưng muốn làm mưa trong điều kiện trời không có mây, cần phải tu luyện thêm. Thuận theo tự nhiên, tuân theo đạo trời, đó là lẽ thường, không thể vi phạm. Việc điều khiển sức mạnh từ trên cao để dừng mưa hoặc làm mưa cũng nên như vậy, và chỉ nên làm khi có lợi cho dân, tuyệt đối không được tùy tiện hành động.

Tộc trưởng thấy mây tan một cách kỳ lạ, trời quang đãng một cách khác thường, càng nghĩ rằng bốn vị sư phụ này không phải người thường, liền dẫn dân làng đến kho để cảm ơn, nhưng làm sao tìm thấy bóng dáng của bốn người?

Hóa ra Vô Cực đạo nhân đã sớm mang theo hành lý và một ít lương khô mà dân làng tặng, đợi ở đường núi, đợi ba người xuống núi rồi cùng nhau đi xa, không ai biết họ đi đâu.

Vương Lực Bình trong lòng hiểu rõ, ba vị sư phụ đã nói nhiều lần, việc quan trọng nhất của người tu đạo không phải là trình độ công phu của bản thân, mà là làm nhiều việc thiện, kết thiện duyên rộng rãi, cứu độ chúng sinh, thay trời hành đạo, đây cũng là tu tính lớn hơn tu mệnh. Làm việc thiện mà không mong được báo đáp, đó là tích đức, đức cao thì công cũng cao. Sau khi dừng mưa, dân làng chắc chắn sẽ đến cảm ơn, không bằng sớm rời đi cho xong, để tránh làm phiền mọi người, trì hoãn công việc đồng áng.

Chương 9: Khai Trí Ngũ Thuật

Trong những năm tháng du ngoạn này, ba vị lão nhân vẫn tìm cơ hội để truyền đạo và dạy công phu cho Vương Lực Bình.

Vương Lực Bình bắt đầu giai đoạn thứ bảy trong cuộc đời học đạo của mình, đó là “Khai Trí”, nội dung chính của việc học là “Ngũ Thuật”. Ngũ Thuật là gì? Đó là năm phương pháp kỹ thuật trong văn hóa truyền thống: Y, Bốc, Tướng, Mệnh, và Sơn.

Ngũ Thuật bắt nguồn từ kinh nghiệm và trí tuệ của người xưa trong việc đấu tranh, thích nghi và cân bằng với tự nhiên để sinh tồn. Về sau, nó được phát triển rất nhiều bởi các đạo sĩ tu luyện trên núi, và trong cách diễn đạt ngôn ngữ, họ sử dụng hệ thống ký hiệu khác với ngôn ngữ thông thường hiện đại. Mỗi phương thuật đều thấm đẫm mồ hôi và tâm huyết, là kết tinh của kinh nghiệm và trí tuệ qua các thời đại. Chỉ cần vượt qua lớp vỏ ngôn ngữ, tách ra được tinh túy bên trong, nó sẽ tỏa sáng rực rỡ và mang lại lợi ích cho nhân loại.

Bốn thầy trò vẫn tiếp tục cuộc sống du ngoạn, ngày đi đêm nghỉ.

Một ngày, bốn người đến một nơi núi non u tịch, thấy có suối trong chảy xuống, liền dừng chân bên suối, rửa bụi và nghỉ ngơi.

Đột nhiên, Vô Cực đạo nhân hơi giật mình, như một làn gió nhẹ thoảng qua mặt nước. Ông ngẩng đầu lên, ra lệnh cho Giả Giáo Nghĩa: “Đi xem xung quanh xem có ai đang rên rỉ không?” Thanh Hư đạo nhân và Thanh Tịnh đạo nhân đã nghe thấy tiếng rên từ phía đông bắc, liền đi theo tiếng đó. Vương Lực Bình cũng nhanh chóng theo chân sư phụ. Các sư phụ tách đám cỏ dại và bụi rậm, leo qua những tảng đá lởm chởm và dây leo khô, vượt qua một đỉnh núi, và tìm thấy người đang rên rỉ trong một khe núi. Hóa ra người này lên núi đốn củi, không may rơi xuống đáy núi. Người đốn củi này khoảng năm mươi bảy tuổi, da mặt đen và gầy, quần áo vá víu nhiều chỗ, chân phải đã bị bầm tím và sưng tấy, mắt dường như cũng không nhìn thấy gì, chỉ nằm trên đất rên rỉ.

Thanh Hư đạo nhân xem xét kỹ vết thương của người đốn củi, biết rằng vết thương không phải do ngã mà là do rắn độc cắn, liền lấy từ trong túi ra một cây kim bạc, dùng ba ngón tay phải cầm lấy, đưa mũi kim lên trời, xoay vài vòng trong tay, tập trung tinh thần, rồi nhanh như chớp đâm vào gốc đùi của người đốn củi. Vương Lực Bình tưởng rằng cú đâm này sẽ rất mạnh, nhưng cây kim dừng lại cách da thịt khoảng hai tấc, sư phụ chỉ rung cây kim trong không khí, lắng nghe phản ứng bên trong cơ thể người đốn củi. Sau đó, sư phụ lại dùng kim chấm một vòng trên không trung quanh chân, rồi di chuyển dọc theo chân xuống, tay cầm kim hơi rung nhẹ, đôi khi dừng lại ở một chỗ, xoay một chút, rồi đột ngột tiến lên, lúc này lại đột ngột nhấc kim lên, như thuyền gặp sóng gió, rồi lại hạ xuống và tiếp tục di chuyển. Khi kim vượt qua đầu gối, nó rung lắc mạnh hơn, sư phụ dùng tay xoay, nâng lên hạ xuống, di chuyển, dường như đang cố tình dẫn dắt một dòng ác khí, buộc nó chảy theo cây kim. Khi kim di chuyển đến vết rắn cắn, sư phụ nhẹ nhàng rung cây kim trên vết thương nhỏ, nhắm mắt tập trung, toàn bộ tâm trí đều dồn vào đầu kim, miệng lẩm nhẩm đọc thần chú. Đột nhiên, sư phụ rút kim ra nhanh chóng, chỉ thấy một dòng máu đen phun ra từ vết thương, người đốn củi lập tức mở mắt ra và không còn rên rỉ nữa.

Thanh Hư đạo nhân đứng dậy, cất kim vào túi, nói với người đốn củi: “Không sao đâu.” hồi phục và cảm ơn

Vương Lực Bình liền cúi xuống, hai lòng bàn tay hướng về phía chân bị thương của người đốn củi, vận công lực đẩy xuống, giúp người đốn củi hồi phục nhanh hơn. Sư phụ đã sớm phong tỏa các huyệt đạo trên đầu gối của người đốn củi, và chất độc đã được đẩy ra ngoài, giờ đây lại được Vương Lực Bình dùng nội công đẩy thêm vài lần, máu đen đã chảy hết, thấy máu tươi chảy ra, liền thu công. Chân của người đốn củi dần dần hết sưng, đứng dậy cử động vài lần, cảm thấy có thể đi về nhà mà không gặp vấn đề gì. Người đốn củi rơi nước mắt, muốn quỳ xuống cảm ơn sư phụ đã cứu mạng, nhưng Thanh Hư đạo nhân vội vàng kéo ông dậy. Thanh Tịnh đạo nhân đã hái một bó thuốc lớn đưa cho người đốn củi, người này lại cảm ơn rối rít rồi từ biệt.

Người đốn củi đi rồi, Vương Lực Bình vẫn đang suy nghĩ về kỹ thuật kim bạc của sư phụ, đứng ngẩn người không đi. Thanh Tịnh đạo nhân vỗ nhẹ vào vai anh, “Đứng ngẩn người làm gì, đã đến lúc về rồi.” Anh mới tỉnh lại, đi theo hai vị sư phụ trở về.

Thanh Hư đạo nhân biết anh đang nghĩ về chuyện kim bạc, liền vừa đi vừa giải thích.
Hóa ra ba cây kim bạc này cũng không tầm thường. Mỗi cây đều có tên riêng, một cây gọi là Âm Kim, một cây gọi là Dương Kim, và một cây gọi là Thao Hình Kim. Ba cây kim này tuy được chế tạo bởi những người thợ khéo léo, nhưng điều kỳ lạ là chúng cũng cần được tu luyện, và điều này khiến chúng khác biệt hoàn toàn so với những cây kim thông thường. Khi không sử dụng, chúng được đưa ra ngoài để hấp thụ khí của vũ trụ từ trời đất, mặt trời và mặt trăng, đến khi sử dụng mới có sức mạnh thần kỳ.

Cách sử dụng cũng rất tinh tế, có nhiều loại như Đại Châm Pháp, Tiểu Châm Pháp, Trường Châm Pháp, Bì Châm Pháp, Đoạn Lạc Châm Pháp, Bố Cục Châm Pháp, Vô Cực Châm Pháp, v.v. Phương pháp vừa sử dụng chính là Vô Cực Hành Châm Pháp. Phương pháp này không cần kim chạm vào bệnh nhân, mà có thể hành châm từ xa, một cây kim có thể làm nhiều việc, và có thể di chuyển tự do trên các kinh lạc, huyệt đạo, có điểm có đường, chạm đến mọi nơi. Nếu cần châm vào da thịt, một cây kim sẽ không đủ, và mỗi lần châm xuống sẽ cố định tại chỗ, không thể di chuyển, việc vận khí cũng sẽ bị cản trở.

Bước đầu tiên của châm cứu là phải kiểm tra kim. Kiểm tra kim là sau khi châm kim vào, cần cảm nhận được khí bên trong là chính khí hay tà khí, chậm hay nhanh. Chính khí êm dịu và ổn định, trong khi tà khí như sóng dữ dội. Bên trong huyệt đạo cũng được chia thành ba tầng: “thiên, địa, nhân”, cần phân biệt được chính khí và tà khí đang di chuyển ở tầng nào. Đôi khi chính khí di chuyển ở tầng “thiên”, trong khi tà khí hoạt động âm thầm ở tầng “địa”. Nếu không phân biệt được thì sẽ khó sử dụng kim châm và không thể chữa bệnh. Khi phát hiện chính khí, hãy dẫn dắt nó một cách thuận lợi; khi phát hiện tà khí, hãy chặn nó lại ở các huyệt đạo quan trọng và “đẩy” nó ra ngoài.

Sư phụ nói một mạch khiến Vương Lực Bình cảm thấy choáng váng. Anh nhìn sư phụ và lắng nghe một cách chăm chú. Không hổ danh là “Thiên hạ đệ nhất châm”! Châm cứu đạt đến trình độ này mới được coi là thượng thừa, mới có thần thái và mới nhập được cảnh giới cao siêu.

Quay lại nơi sư gia nghỉ ngơi, sư phụ nói rằng có người bị rắn độc cắn đã được chữa khỏi. Sư gia khen ngợi và bảo mọi người ngồi nghỉ ngơi, uống nước suối và ăn chút lương khô.

Trong khi Vương Lực Bình đang ăn lương khô, Vô Cực đạo nhân lại tiếp tục giảng giải về y đạo cho anh. Vô Cực đạo nhân nói rằng khi bị rắn cắn, cần phân biệt rắn có độc hay không. Rắn không độc thường để lại vết răng gồm sáu hàng, bốn trên và hai dưới; rắn độc thường để lại bốn hàng, và vết thương gần đó thường sưng tấy rõ rệt, ban đầu đau rát, sau đó tê liệt. Vết thương thường ở tay chân, sưng tấy dần lan lên trên, kèm theo mờ mắt, khó thở, chóng mặt, nôn mửa, mạch nhỏ và nhanh, cơ thể nóng bừng. Khi điều trị, cần sử dụng nội công để cắt đứt và phong tỏa đường lây lan của chất độc, sau đó ép nó đào thải ra ngoài. Hoặc có thể sử dụng các phương thuốc như “Phù Nguy Tán”, “Ngọc Chân Tán”. Các vị thuốc thường dùng bao gồm Nam tinh, Phòng phong, Bạch chỉ, Thiên ma, Khương hoạt, Bạch phụ tử, Phi hoạt thạch, Hùng hoàng, Ban miêu, v.v. Cách sử dụng và liều lượng cần được điều chỉnh tùy theo tình trạng bệnh, không nên áp dụng một cách cứng nhắc. Trong chẩn đoán, chúng tôi khác với các thầy thuốc thông thường, tổ sư đã tổng kết chín phương pháp: Hoàn lưu pháp, Quán khí pháp, Dẫn khí pháp, Kinh thai pháp, Mạch thai pháp, Cốt đạo pháp, Lâm ba pháp, Nội thị pháp, Thấu thị pháp. Chín phương pháp này giống như phương pháp tiên tri, chẩn đoán bệnh nhanh chóng và chính xác. Trong chín phương pháp lại chia thành ba tầng công phu: “thiên, địa, nhân”. Ví dụ như bắt mạch, nói về “nhuyễn, ngạnh, phù”. Sách y học thông thường cũng nói về cách phân loại này, nhưng các thầy thuốc thông thường chỉ hiểu về mạch ngạnh, một khi mạch nổi lên, tức là tay chỉ tiếp xúc với bệnh nhân…

Da hơi tiếp xúc nhẹ, đó gọi là “phù”, trong việc bắt mạch là công phu tầng “thiên”, người không có nội công cao thì không thể làm được. Ngoài “thốn, quan, xích” ra, não và lưng cũng là những nơi để bắt mạch. Tóm lại, công phu không có giới hạn. Người xưa nói, chữa bệnh không bằng xem bệnh, xem bệnh không bằng chẩn bệnh, chẩn bệnh không bằng phòng bệnh, phòng bệnh không bằng biết trước. Bây giờ con còn trẻ, hãy bắt đầu học từ việc chữa bệnh. Phải tinh thông y đạo như tổ sư, chữa bệnh cứu người, dùng hết tâm lực, tránh tà tâm. Đối với bệnh nhân, không chê bai, không tham lam, không lấy bất cứ thứ gì, tuân thủ giới luật Đạo gia, mang lại phúc lợi cho mọi người.

Sư đồ bốn người đã nghỉ ngơi xong, lại thu dọn lên đường. Ba vị lão nhân thấy Vương Lực Bình đang rất hứng thú với y đạo, nên trong lúc đi đường, gặp núi thì giảng về núi, gặp nước thì giảng về nước, gặp bệnh thì giảng về y thuật, gặp cỏ thì giảng về dược liệu. Đi qua nhiều nơi, thấy được rất nhiều loại dược thảo, ba vị lão nhân đều lần lượt giảng giải cho Vương Lực Bình nghe.

Một ngày, bốn người lại đến một khu rừng rậm rạp để nghỉ chân, lúc đó gần trưa, xung quanh không thấy một nhà nào, Thanh Hư đạo nhân liền dẫn Vương Lực Bình vào rừng hái một ít quả dại, bốn người ăn để lót dạ. Vô Cực đạo nhân thấy trời còn sớm, không vội lên đường, liền gọi Vương Lực Bình lại, giảng thêm cho anh một ít kiến thức về dược thảo.

Sư gia nói, học y không thể tách rời dược thảo, người thường ăn ngũ cốc, không có lý nào không bị bệnh, cách chữa bệnh có nhiều phương pháp, nhưng dược thảo là phổ biến và tiện lợi nhất. “Thần Nông Bản Thảo Kinh” là cổ nhất, ghi chép 365 loại dược liệu, ứng với số ngày trong năm. Dược liệu được chia thành các loại như thảo, ngũ cốc, gạo, quả, gỗ, côn trùng, cá, gia súc, đá, v.v., lại chia thành ba loại thượng, trung, hạ phẩm. Thượng phẩm có 120 loại, là quân dược, dùng để dưỡng mệnh, kéo dài tuổi thọ, dùng lâu không có hại; trung phẩm có 120 loại, là thần dược, dùng để dưỡng tính, bổ hư chữa bệnh, không nên dùng lâu; hạ phẩm có 125 loại, là tá sứ, phần nhiều có độc tính, dùng để chữa bệnh, lần đầu dùng nên thận trọng. Lại cần phối hợp âm dương, mẹ con, anh em, rễ thân đầy đủ, cỏ đá xương thịt, có độc không độc, phơi khô trong bóng râm, thời gian thu hái, đất đai sống chín, thật giả cũ mới, đều có quy tắc riêng.

Đến thời Minh, Lý Thời Trân xuất hiện, dồn hết tâm huyết cả đời, viết “Bản Thảo Cương Mục” gồm 52 quyển, thu thập 1.892 loại dược liệu, chia thành 16 bộ và 60 loại, tập hợp tinh hoa của các nhà dược liệu, rộng mà không rườm rà, chi tiết mà có trọng điểm. Ngay cả trong bộ Thủy, cũng có các loại như thiên thủy (nước trời) và địa thủy (nước đất) với tổng cộng 42 loại dược phẩm. Trong đó, “Lạp Tuyết” có mùi vị ngọt, lạnh, không độc, được bảo quản trong bình kín, để nơi mát mẻ, có thể giữ được hàng chục năm không hỏng. Lạp Tuyết có lợi cho rau và lúa mì, có thể diệt côn trùng. Dùng để ngâm hạt giống ngũ cốc thì chịu hạn và không bị sâu bệnh. Đặt trên bàn rượu, có thể đuổi ruồi; ngâm trái cây và thực phẩm có thể tránh được mối mọt. Có thể giải mọi loại độc, chữa các bệnh dịch theo mùa, sốt cao sau khi uống rượu, trẻ em bị sốt cao và khóc dữ dội. Cũng có thể chữa bệnh vàng da, nhưng khi uống cần hơi nóng. Dùng Lạp Tuyết rửa mắt có thể làm giảm mắt đỏ; pha trà hoặc nấu cháo có thể giải nhiệt và làm dịu cơn khát; bôi lên cà tím cũng có hiệu quả kỳ diệu.

Việc sử dụng nước để chữa bệnh cũng cần có phương pháp. Có người bị kiết lỵ, nôn mửa, dùng “Âm Dương Thủy” uống vào sẽ khỏi ngay. Âm Dương Thủy là hỗn hợp của nước giếng và nước sôi, rất đơn giản. Sử ký chép rằng Hoa Đà thấy một người phụ nữ mắc bệnh “Phục Nhiệt”, bảo bà ngồi trong bồn đá, dùng nước lạnh dội lên người. Lúc đó đang là mùa đông, thời tiết lạnh giá, lại dội nước lạnh, mọi người đều kinh ngạc. Dội nước 70 lần, bệnh nhân run lẩy bẩy, gần như chết cóng. Đến lần thứ 80, toàn thân bệnh nhân bốc hơi nóng. Đến lần thứ 100, đỡ bệnh nhân ra, lau khô người, quấn chăn dày, nằm yên một lúc, mồ hôi toát ra khắp người, bệnh liền khỏi. Phương pháp chữa bệnh này, thầy thuốc thông thường không dám làm. Học y để chữa bệnh cứu người, vừa phải thông hiểu y lý, lại phải hiểu rõ dược tính, cả hai đều không thể thiếu.

Trên đường đi, không biết đã trải qua bao nhiêu ngày trong rừng sâu, chỉ biết rằng ba vị lão nhân đã giảng giải tinh hoa của các bộ kinh điển như “Hoàng Đế Nội Kinh”, “Tố Vấn” 81 thiên, “Linh Khu” 81 thiên, “Thần Nông Bản Thảo Kinh”, “Bát Thập Nhất Nan Kinh”, “Tôn Chân Nhân Thiên Kim Phương”, “Cấp Cứu Tiên Phương”, “Tiên Truyền Ngoại Khoa Bí Phương”, “Cát Tiên Ông Chẩu Hậu Bị Cấp Phương”, lại truyền thụ cho Vương Lực Bình những tuyệt kỹ của mình, cùng hơn 100 phương thuốc bí truyền mà thế gian không biết, dặn anh phải ghi nhớ trong lòng, không được tiết lộ dễ dàng. Vương Lực Bình ghi nhớ tất cả những gì sư gia và sư phụ dạy bảo, tự nhiên đã đạt đến trình độ thượng thừa trong y đạo.

Khi thu tàn sắp hết, đông đã gần kề. Sư đồ bốn người đi trong núi, màu thu già nua dần qua đi, cảnh vật xung quanh trở nên mênh mông và hoang vắng. Trong hành lý của Vương Lực Bình lại thêm vài món bảo vật, đó là những loại thảo dược quý hiếm được đào bới trên đường đi, cùng với các loại thuốc viên, thuốc bột được bào chế theo phương pháp. Thuốc tuy không nhiều nhưng hiếm có trên đời, giá trị ngàn vàng. Bốn người đã dành nhiều thời gian và công sức để thu hái và chế biến những loại thuốc này, không phải để bán lấy tiền hay đổi lấy vật phẩm, mà là để chuẩn bị cho những lúc cần chữa bệnh.

Một ngày nọ, vừa vượt qua một ngọn núi, họ nhìn thấy phía trước có vài người đang lê bước thưa thớt trên đường. Khi họ đến gần, thấy ai nấy đều mặt vàng vọt, xanh xao, mang theo chăn màn cũ rách, trông như những người chạy nạn.

Vô Cực đạo nhân hỏi một người đàn ông trung niên, người này cho biết họ sống ở một ngôi làng không xa phía trước, dân làng đang bị dịch bệnh hoành hành, đã có hơn mười người chết trong những ngày qua, hiện tại họ đang chạy trốn để tạm thời sang vùng khác. Người đàn ông nói, bốn vị không nên đi qua đó, hãy đi đường vòng. Vô Cực đạo nhân cười nói: “Không cần. Xin mọi người hãy đi cùng chúng tôi trở lại, chúng tôi sẽ chữa căn bệnh này.”

Những người đi đường vây quanh lại, tỏ vẻ không tin. Vô Cực đạo nhân thấy một người phụ nữ ôm một đứa trẻ khoảng một hai tuổi, mặt mày xanh xao, môi tím tái, mắt nhắm nghiền, thở yếu ớt. Người phụ nữ ánh mắt đầy van xin. Vô Cực đạo nhân đưa tay xoa đầu đứa trẻ, cười nói: “Đứa bé này không sao rồi, về cho nó ăn chút gì là được.”

Người phụ nữ không tin, nhìn đứa trẻ, quả nhiên sắc mặt đã khá hơn, áp má vào đầu nó, cũng không thấy sốt nữa. Đứa trẻ mở to mắt, kêu lên: “Mẹ ơi, con đói.” Người phụ nữ sửng sốt, định quỳ xuống tạ ơn, Vương Lực Bình vội vàng đỡ bà dậy. Mọi người cũng nhìn thấy sự kỳ lạ, không ngừng nhìn ngắm bốn người, rồi đi theo họ về làng.

Ngôi làng trông vô cùng thê lương, không thấy ai ra ngoài đi lại, cũng không nghe tiếng gà gáy hay chó sủa. Chỉ thấy vài nhà treo giấy trắng trước cửa, những mảnh giấy bay phấp phới trong gió thu.

Thanh Tĩnh đạo nhân đi vào một nhà khám bệnh trước, quay lại báo cáo với Vô Cực đạo nhân rằng đúng là dịch tả đang lan rộng, cần phải cứu chữa khẩn cấp.

Bốn người không nghỉ ngơi, liền bảo người đàn ông trung niên vừa trở về rằng những ai còn đi được hãy nhanh chóng tập trung tại một ngôi nhà lớn trong làng, những người không đi được cũng phải khiêng đến. Vương Lực Bình đi vào ngôi nhà lớn đó, dọn dẹp sạch sẽ và đóng chặt các cửa sổ. Thanh Hư đạo nhân lấy ra những chiếc kim bạc, nhắm mắt vận khí. Thanh Tĩnh đạo nhân ôm một đống củi đặt giữa nhà. Vô Cực đạo nhân yêu cầu người dân lấy giấy bút, ngồi xếp bằng trên đất, vẽ bùa, sau đó đặt bùa vào lòng bàn tay, đặt ngang ngực, nhắm mắt vận bùa, miệng đọc thần chú.

Mọi thứ đã chuẩn bị xong xuôi. Tất cả dân làng cũng đã tập trung trong nhà. Thanh Hư đạo nhân sắp xếp cho dân làng ngồi xung quanh đống củi, những người không ngồi được thì nằm quay mặt vào trong. Vô Cực đạo nhân ra lệnh cho Vương Lực Bình lấy thuốc viên trong túi ra, cho mỗi người nằm uống một viên. Sau đó, Vô Cực đạo nhân yêu cầu Vương Lực Bình đốt đống củi. Củi ẩm ướt không khô, khi châm lửa, khói bốc lên mù mịt. Vô Cực đạo nhân đốt bùa trên ngọn lửa, lúc này cửa đã đóng, khói trong nhà khiến mọi người bắt đầu ho, tiếng ho ngày càng lớn. Sau đó, có người bắt đầu nôn mửa, trong nhà trở nên hỗn loạn. Khói, mùi hôi thối và không khí ô uế tràn ngập căn phòng. Tiếng ho, tiếng nôn mửa và tiếng rên rỉ vang khắp nơi.

Trong bóng tối, Thanh Hư đạo nhân cầm kim trên tay, thực hiện “bố cục châm cứu” trong không khí, dùng ý niệm đưa kim vào các huyệt Trung Quản, Thiên Xu, Quan Nguyên, Túc Tam Lý, tất cả bệnh nhân đều đồng thời cảm nhận được. Sau khi Thanh Hư đạo nhân châm cứu xong, Thanh Tĩnh đạo nhân tiếp tục thực hiện “bố cục massage” cho các bệnh nhân, tất cả đều cảm nhận rõ ràng.

Sau nửa giờ, trong nhà dần yên tĩnh trở lại, không còn nghe thấy tiếng ho, tiếng nôn mửa hay tiếng rên rỉ. Những người đang ngồi bắt đầu ngồi yên, những người đang nằm cũng ngồi dậy, họ đều cảm thấy như những người khỏe mạnh.

Vô Cực đạo nhân ra lệnh cho Vương Lực Bình mở cửa sổ và cửa ra vào, căn phòng trở nên sáng sủa, không khí trở nên trong lành. Vô Cực đạo nhân nói với dân làng: “Mọi người hãy đứng dậy và về nhà đi. Về nhà vài ngày, ăn ít lại, nghỉ ngơi vài ngày để cơ thể dần hồi phục.”

Mọi người nghe xong, nhìn nhau, cảm thấy như đang ở trong mơ, đứng dậy đi lại, lại rất chân thật, không khỏi cảm thấy vô cùng kỳ lạ. Nhìn bốn “dị nhân” kia, họ đã thu dọn hành lý và chuẩn bị lên đường.

Người đàn ông trung niên hô lớn: “Xin các tiên nhân dừng lại!” Người phụ nữ cũng dắt theo đứa trẻ nhỏ gọi cảm ơn. Bốn người chỉ chăm chú bước đi nhanh, chỉ có Vương Lực Bình quay đầu lại vẫy tay chào tạm biệt. Mọi người đều khóc lớn không ngừng.

Sau khi rời khỏi ngôi làng, trong vài ngày tiếp theo, sư đồ bốn người vẫn sử dụng phương pháp massage từ xa để chữa trị cho những bệnh nhân nặng. Những bệnh nhân này nhanh chóng hồi phục. Từ đó, cả làng già trẻ đều vui mừng khôn xiết, cảm ơn ân cứu mạng của bốn người.

Có một chi tiết trong việc chữa trị dịch tả mà cần phải bổ sung. Thanh Tĩnh đạo nhân ngay từ đầu đã ngồi thiền, thực hiện phép thuật “Thiên Y Vô Phùng”, sử dụng trường nội công khổng lồ bao phủ toàn bộ ngôi làng một cách kín đáo. Sau khi sư phụ dùng bùa và sư đệ dùng kim, ông mới thực hiện massage bố cục từ xa. Ba vị lão nhân đều sử dụng vật chất “hữu hình hữu chất” để truyền tải thông tin “vô hình hữu chất”, đồng thời chữa trị cho tất cả bệnh nhân, hoàn thành công việc.

Gần như toàn bộ ngôi làng cùng lúc bị dịch tả tấn công, điều này rất hiếm gặp trong nhiều năm hành nghề y của ba vị lão nhân. Số lượng bệnh nhân đông, tình trạng nguy kịch, không thể chậm trễ. Họ buộc phải tập trung bệnh nhân, sử dụng tuyệt kỹ, linh dược, bùa chú, châm cứu và massage đồng thời. Vẽ bùa lên giấy, vận công lên đó, đốt lửa để chữa bệnh, gọi là “Tế Dư”. Bùa có nhiều loại, như “Phương Tề Phù”, “Nhật Nguyệt Tinh Hoa Phù”, “Ngũ Hành Phù”, còn có “Thiên Địa Nhân Phù”, “Vũ Trụ Phù”. Không phải cứ viết một lá bùa là có thể dùng được, sau khi viết bùa phải vận bùa, vận hành phép bùa, cần có nội công cao thâm mới làm được. Như vận “Nhật Nguyệt Tinh Hoa Phù”, phải học cách thu khí, lại có thể vận khí lên bùa. Còn những loại bùa cao cấp hơn như “Thiên Địa Nhân Phù” đã vượt qua tam giới trung gian, cần có sức mạnh cao hơn để điều khiển mới có tác dụng. Sức mạnh cao tầng này, người thường không nhìn thấy, lại có nhiều người không tin vào sự tồn tại của nó, hoặc tin rằng nó tồn tại nhưng cảm thấy cực kỳ thần bí, không thể hiểu nổi. Thực tế thì sao? Loại “sức mạnh” này là có thật. Độc giả đã thấy trong phần “Chỉ Mưa” trước đây, giờ lại thấy trong phần “Chữa Bệnh” này.

Y học cổ truyền Trung Quốc bắt nguồn từ “Vu Y”, thời cổ đại y và vu là một, sau này dần dần tách ra. Một số người cho rằng đây là sự tiến bộ của lịch sử, trong khi số khác lại cho rằng trong sự tiến bộ đó có chứa đựng sự thoái lui. Hai quan điểm này, đâu là đúng, đâu là sai? Có vẻ như không thể đưa ra kết luận vội vàng. Nhưng có một điều chắc chắn là, nếu y học cổ truyền Trung Quốc tách khỏi bối cảnh văn hóa Trung Hoa, tách khỏi nền tảng học thuyết âm dương ngũ hành, và tách khỏi cơ sở thực hành nội công, nó sẽ mất đi nguồn sống.

Kinh nghiệm là không thể thiếu đối với sự phát triển của y học cổ truyền Trung Quốc, và y học phương Tây cũng có nhiều điểm đáng để y học cổ truyền Trung Quốc học hỏi. Tuy nhiên, cả hai đều không thể trở thành nền tảng cho sự phát triển của y học cổ truyền Trung Quốc. Nếu lấy chúng làm nền tảng, thì đó là đảo lộn gốc rễ.

Y học cổ truyền Trung Quốc cũng được chia thành ba tầng: thiên, địa, nhân, và kinh nghiệm cũng có ba tầng như vậy. Kinh nghiệm mà người thường nói đến không thể tách rời khỏi lĩnh vực “hạ tam giới”. Nếu giới hạn y học cổ truyền Trung Quốc trong khuôn khổ này, sự phát triển của nó sẽ bị hạn chế rất nhiều. Y học Đạo gia không có giới hạn này, nó mở rộng kinh nghiệm ra, đưa vào lĩnh vực “trung tam giới” và “thượng tam giới”, từ đó có nhiều phương pháp và “sức mạnh” có thể sử dụng. Điều kiện tiên quyết để sử dụng những phương pháp và “sức mạnh” này là sự tu luyện nội công của chính người thầy thuốc. Ở đây, y và “vu” là một, nó cao hơn y học cổ truyền Trung Quốc thông thường, và càng cao hơn y học cổ truyền Trung Quốc bị Tây hóa. Đây là nền tảng vốn có và truyền thống cố hữu của y học cổ truyền Trung Quốc, chỉ có đi theo con đường này, nó mới có thể phát triển hơn nữa.

Hãy lấy một ví dụ đơn giản. Vài năm trước, ông Vương Lực Bình đã giảng về y học Đạo gia cho các giáo sư của một số trường đại học y học cổ truyền Trung Quốc, nói về việc bắt mạch chia thành ba tầng thiên, địa, nhân, và cách dẫn mạch phù. Các giáo sư hiểu rõ điều này. Họ nói rằng trước đây họ đã nghe thầy của họ nói về điều này, biết rằng nó tồn tại nhưng không biết tại sao, tức là chưa từng luyện tập, không biết cách thực hiện, không thể tìm thấy mạch phù ở “thiên thượng”. Ông Vương Lực Bình nói với họ: Nếu bạn làm theo cách thông thường, tất nhiên là không thể tìm thấy. Mạch có hàng chục loại, sự khác biệt giữa chúng là rất nhỏ, nếu không có nội công, bạn không thể cảm nhận được, không thể phân biệt được. Nếu tách khỏi nội công, ngay cả những điều được viết trong sách y học cũng không thể hiểu được, chứ đừng nói đến việc áp dụng chúng. Điều này chỉ nói về phương pháp khám bệnh thông thường. Y học cổ truyền Trung Quốc không gây thêm đau đớn cho bệnh nhân, chỉ cần nhìn vào biểu hiện bên ngoài của con người là có thể đánh giá bệnh tình, biện chứng luận trị, thuốc đến bệnh trừ. Y học phương Tây khám bệnh mà không có dụng cụ thì không thể tiến hành được, đối với các bệnh nội tạng, bệnh dưới da, nếu không mổ cơ thể ra xem rõ ràng, thì không thể đưa ra chẩn đoán, điều này gây ra quá nhiều đau đớn cho bệnh nhân. Y học phương Tây còn thiếu ý thức tổng thể, không thực hiện biện chứng luận trị, mà là đau đầu chữa đầu, đau chân chữa chân, tác dụng phụ của thuốc sử dụng cũng không quan tâm, thường là bệnh này vừa khỏi, bệnh khác lại phát sinh. Những phương pháp này nhìn có vẻ tiên tiến, nhưng thực chất là lạc hậu. Đạo gia chữa bệnh, quy về đơn giản, bỏ qua nhiều quá trình trung gian, nhìn thẳng vào nguồn bệnh, loại bỏ nguyên nhân bệnh, hiệu quả rất tốt. Người thường nhìn thấy cảm thấy rất kỳ lạ, nhưng thực ra không có gì lạ. Ông Vương Lực Bình nói, thầy thuốc thông thường phải bắt mạch hỏi bệnh, tôi chỉ cần dùng mắt, nhìn là hiểu, người có ở đó hay không đều có thể “xem” bệnh, đều nhờ vào đôi mắt này.

Tại sao Đạo gia lại kiên quyết nắm lấy việc tu luyện bản thân như một khâu cơ bản không buông bỏ? Điều này có nguyên nhân của nó. Thứ nhất, nếu không trải qua tu luyện, tư duy không thể đạt đến trình độ cao, tinh hoa văn hóa cổ đại không thể lĩnh hội được. Thứ hai, nếu không có nội công cao thâm, nhiều phương pháp không thể sử dụng, “sức mạnh phi nhân” không thể điều động được. Thứ ba, theo lý thuyết thiên nhân hợp nhất, vũ trụ đang trong quá trình biến đổi, cơ thể con người cũng đang biến đổi theo, có nhiều vấn đề mới được đặt ra, cần người đời sau khám phá và giải quyết. Đối với y học, một số loại thuốc có tính chất thay đổi, công thức cũng cần thay đổi, nếu không sẽ không chữa được bệnh. Đây chính là công việc mà các thầy thuốc đời sau cần làm.

Tóm lại, sự phát triển của y học cổ truyền Trung Quốc, một là không thể tách rời khỏi bối cảnh văn hóa truyền thống Trung Quốc, đặc biệt là tư duy triết học truyền thống; hai là không thể tách rời khỏi việc tu luyện nội công của thầy thuốc; ba là cần hấp thụ dưỡng chất từ kinh nghiệm hàng ngày và y học phương Tây. Cả ba đều cần, nhưng cần phân biệt chính phụ, không thể bỏ gốc lấy ngọn, đảo lộn gốc rễ.

Chương 10: Siêu Việt Thời Không

Ở đây, vượt qua không gian và thời gian được hiểu theo nghĩa hẹp, tức là tư duy vượt qua không gian và thời gian, và phương pháp để đạt được điều này là học hỏi từ các kiến thức truyền thống về bói toán, tướng số và mệnh lý.

Bói toán, tướng số và mệnh lý thực chất là những kiến thức về dự đoán và tiên tri, ngày nay được gọi là khoa học dự đoán, còn trong thời cổ đại Trung Quốc thì được gọi là bói toán, tướng số và mệnh lý. Bói toán, tướng số và mệnh lý cũng là những phương pháp dự đoán và tiên tri.

Nói đến “khoa học dự đoán”, mọi người có thể chấp nhận, dự đoán đúng hay sai thì mọi người không quan tâm. Nhưng nói đến “bói toán, tướng số và mệnh lý”, mọi người khó chấp nhận hơn, vì tâm lý của con người đã bị chinh phục bởi những định kiến về “mê tín”. Nếu sử dụng những phương pháp này và đạt được kết quả dự đoán tốt hoặc chính xác, người ta cũng sẽ nói: “Chỉ là may mắn thôi”, mà không hỏi tại sao lại may mắn.

Đây là một rào cản, nó cản trở sự phát triển của học thuật, không phải là thái độ đúng đắn để khai thác kho báu văn hóa truyền thống.

Chỉ cần loại bỏ rào cản này, thay đổi cách tư duy một chút, đôi mắt sẽ sáng lên và nhìn thấy những viên ngọc quý được chôn sâu trong lòng đất.

Nói là ngọc quý, thực chất là “công cụ”, công cụ dự đoán, chỉ là “tiểu xảo” mà thôi. Nhưng nếu nó có ích, tại sao lại không sử dụng? Sử dụng cũng không làm ảnh hưởng đến đại đạo, vậy tại sao lại vứt bỏ nó như một thứ vô giá trị?

Dự đoán là điều không thể thiếu trong cuộc sống và xã hội. Dù ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, con người đều muốn biết trước tương lai. Dự đoán và tiên tri có nhiều ít, sâu cạn, thô tinh khác nhau, chỉ là phân biệt về thời gian, không gian và nội dung cụ thể mà thôi. Dự đoán và tiên tri được rồi, mới có thể sắp xếp kế hoạch cho bước tiếp theo, đây là một khía cạnh của trí tuệ con người.

Dự đoán cần hiểu được quy luật vận hành của sự vật. Từ những việc nhỏ, ai cũng biết mặt trời lặn rồi, vài tiếng sau nó sẽ mọc lên từ phương đông, từ đó có thể sắp xếp công việc cần làm, là làm vào ban ngày hay ban đêm thì tốt hơn. Còn nhật thực, nguyệt thực xảy ra khi nào, người thường không thể tính được, điều này cần các nhà khoa học tính toán, dự đoán và đưa ra dự báo.

Dự đoán cần thu thập các yếu tố hoặc thông tin liên quan đến sự việc, phân tích chúng, sau đó mới có thể đưa ra phán đoán và dự đoán. Thông tin không chính xác, sẽ không thể đưa ra dự đoán chính xác.

Những kiến thức này là kiến thức phổ thông, mọi người đều coi là đương nhiên. Nhưng một khi vượt ra khỏi phạm vi này, mọi người sẽ không chấp nhận.

Ví dụ, thông tin liên quan là gì? Tung vài đồng xu, xem hình ảnh có thể biết được chuyện gì sẽ xảy ra? Những chuyện này có liên quan gì trực tiếp đến đồng xu? Làm thế nào có thể nhìn thấy vận mệnh cả đời của một người từ khuôn mặt, đường chỉ tay, lưng của họ? Làm thế nào có thể biết trước cả đời của một người từ thời điểm họ sinh ra? Người thường sẽ nói, hai loại thông tin này cách nhau quá xa, hoặc hoàn toàn không liên quan.

Nhưng văn hóa truyền thống có triết lý của nó, nền tảng triết lý này chưa từng bị phá vỡ, đó chính là lý thuyết thiên nhân hợp nhất.

Ba vị lão nhân đã dạy Vương Lực Bình rất nhiều điều trong giai đoạn “khai trí”, thời gian sử dụng nhiều nhất…

Nhưng độc giả nên nhớ rằng, từ sau khi Vương Lực Bình trải qua cái chết, hiện tại tuy vẫn là nhân vật thuộc hạ tam giới, nhưng đã khác biệt so với những nhân vật hạ tam giới khác. Sư gia và sư phụ dạy anh tu đạo, khai trí, đều khác so với trước khi anh trải qua cái chết, nội dung và phương pháp truyền thụ đều cao hơn một tầng thứ. Tư duy của chúng ta hiện tại cũng cần nâng cao một tầng thứ, như vậy mới có thể hiểu được nhiều thứ.

Một lần, sư gia nói với Vương Lực Bình: “Đạo Đức Kinh tám mươi mốt chương của Thái Thượng Lão Quân, ta đã truyền thụ cho ngươi trước đây. Chương hai mươi mốt ngươi còn nhớ không?”

Vương Lực Bình liền đọc thuộc lòng:

“Khổng đức chi dung, duy đạo thị tòng. Đạo chi vi vật, duy duyệt duy uyển. Uyển hề duyệt hề, kỳ trung hữu tượng. Duyệt hề uyển hề, kỳ trung hữu vật. Uyển hề minh hề, kỳ trung hữu tinh. Kỳ tinh thậm chân, kỳ trung hữu tín. Tự cổ cập kim, kỳ danh bất khứ, dĩ duyệt chúng phủ. Ngô hà dĩ tri chúng phủ chi nhiên tai? Dĩ thử.”

Sư gia hỏi: “Ngươi có hiểu ý nghĩa của nó không?”

Vương Lực Bình trả lời: “Không hiểu rõ lắm. Xin sư tôn chỉ giáo.”

Sư gia liền giảng giải: “Đạo, không có chất không có hình, nhưng lại thấm nhuần trong những thứ có chất có hình, trời đất vạn vật, không gì không quy về đạo. Vạn vật chứa đạo, tức là dấu vết biến hóa có thể tìm được. Làm sao để quan sát? Vật đều có tượng, vật là dương, tượng là âm, một chính một phản. Trong vật có tinh, trong tinh có tín. Ngồi mà quan sát phương pháp biến hóa của vũ trụ, một là lấy tín, hai là lấy tượng. Nhìn thẳng vào tinh trong vật, tín trong tinh, đó là phương pháp thượng thừa. Lấy tượng quan sát vật, lấy âm hợp dương, đó là phương pháp trung thừa. Người thường dùng kinh nghiệm quan sát sự biến hóa của vật, đó là phương pháp hạ thừa.”

Sư gia sau đó đã thảo luận chi tiết về phương pháp trung thừa và thượng thừa, và lần lượt truyền thụ các phương pháp này cho Lực Bình.

Các phương pháp trong ngũ thuật đều không thể tách rời khỏi các yếu tố chính như “thiên, địa, nhân, âm, dương, thủy, mộc, hỏa, thổ, kim”, tức mười con số. Từ đó sinh ra can chi để ghi số, bát quái và cửu cung. Trong đó, âm dương là yếu tố cơ bản nhất. “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật.” Cái nhị ở đây chính là âm dương, cái tam chính là thiên, địa, nhân, trong thiên, địa, nhân lại bao hàm ngũ hành, và ngũ hành đều có âm dương. Khi hỗn độn mới khai mở, một khí hỗn hợp, trong khí có âm dương, có đục có trong. Khí trong xoay sang trái, bay lên sinh ra mộc, cực điểm thì hóa thành hỏa. Khí đục xoay sang phải, rơi xuống sinh ra kim, cực điểm thì thành thủy. Giữa âm dương, trục xoay lên xuống, khí trung tâm là thổ. Âm dương là cương kỷ của vạn vật, là cha mẹ của biến hóa, là nguồn gốc của sinh tử, là nơi chứa đựng thần minh.

Số của thiên can là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Số của địa chi là Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Thiên can và địa chi phối hợp với nhau tạo thành số lục thập hoa giáp.

Thiên can và địa chi đều chia thành âm dương. Trong không gian và thời gian, chúng có mối quan hệ tương ứng một một, là điều không thể thiếu trong thuật số.

Bát quái được tạo thành từ sự thay đổi vị trí của hào âm (–) và hào dương (—) trong không gian và thời gian, ba hào tạo thành một quẻ đơn, sáu hào tạo thành một quẻ kép. Quẻ đơn ba hào chia thành ba vị trí thiên, địa, nhân, vị trí âm dương khác nhau; quẻ kép sáu hào cũng chia thành ba vị trí thiên, địa, nhân, vị trí âm dương cũng khác nhau. Tám quẻ đơn biến hóa thành sáu mươi tư quẻ kép, để tượng trưng cho vạn vật.

Cửu cung là bát quái bốn phương bốn góc, chỉ thiếu phần trung tâm, cửu cung bổ sung vào, không gian được hoàn chỉnh.

Những yếu tố trên là cơ bản của thuật số, dựa vào các yếu tố này tương sinh, suy diễn, để khám phá quy luật biến hóa của vạn vật, dùng hiện tại để quan sát quá khứ, dùng hiện tại để suy đoán tương lai, đó chính là công cụ cơ bản mà người xưa dùng để dự đoán.

Trong đó có hai đồ hình quan trọng, một là đồ hình ngũ hành, hai là đồ hình bát quái và lục thập tứ quẻ.

Đồ hình ngũ hành rất đơn giản, nhưng cực kỳ quan trọng, thiên, địa, nhân và vạn vật đều được hàm chứa trong đó.

Tất cả đều có thể được giải thích bằng đồ hình này, là một phần cực kỳ quan trọng trong văn hóa truyền thống Trung Quốc.

Mối quan hệ cơ bản giữa ngũ hành là tương sinh và tương khắc, dùng để giải thích sự biến đổi của trời, đất, con người và vạn vật, rất đơn giản và rõ ràng. “Học càng nhiều càng tốt, tu đạo càng ngày càng giảm bớt.” Trong việc dùng hình tượng để phân loại sự vật, dùng đồ hình đơn giản để tổng kết quy luật biến đổi của trời, đất, con người và vạn vật, việc “giảm bớt” đến mức âm dương ngũ hành đã là một bước khá đơn giản nhưng cũng rất sâu sắc.

Hình 3: Đồ hình Ngũ hành

Bát quái và 64 quẻ cũng là một đồ hình đơn giản, nhưng sự biến đổi của nó phức tạp hơn.

Bát quái và 64 quẻ có nhiều cách sắp xếp khác nhau, trong đó “Chu Dịch” là một cách, và kinh văn của nó đã được lưu truyền nguyên vẹn, trong hơn hai nghìn năm qua đã có nhiều nhà chú giải và bình luận. Sự phát triển của học thuật đi từ đơn giản đến phức tạp, rồi từ phức tạp trở lại đơn giản, nắm được tinh túy thì đơn giản, từ đơn giản có thể điều khiển được sự phức tạp. trong đó biến hóa, khí tượng vạn thiên, không thể nào khám phá hết được.

Cả đồ hình ngũ hành và bát quái đều là công cụ để lấy tượng minh ý ngộ đạo, sự vận dụng tinh tế nằm ở tâm của người sử dụng.

Trong ngũ thuật, y học cổ truyền Trung Quốc không thể giải thích nếu tách rời âm dương ngũ hành. Y học cổ truyền Trung Quốc tự thành một hệ thống, dùng để chữa bệnh, hàng ngàn năm qua đều có hiệu quả, đủ chứng minh lý thuyết âm dương ngũ hành phù hợp với đạo.

Từ y học cổ truyền Trung Quốc bàn đến các thuật bói toán, tướng số, mệnh lý, cũng cùng một lý, cùng một nguồn gốc, đều có ích cho đời.

Tướng pháp dựa trên các biểu hiện bề ngoài của sự vật mà con người có thể nhìn thấy, phân loại và sắp xếp để suy đoán những thứ sâu xa hơn hoặc sự biến đổi xuyên thời gian của sự vật. Trời, đất, con người và vạn vật đều có hình có chất, nên đều có tượng có tướng. Người thường chỉ dừng lại ở việc quan sát hiện tượng bề ngoài, còn tướng đó là gì, nó cung cấp thông tin gì cho con người, biến đổi như thế nào, sẽ biến đổi tiếp ra sao, những vấn đề này họ không suy nghĩ đến. Các nhà khoa học thì làm những công việc này, tìm kiếm thêm kiến thức, hy vọng tìm ra câu trả lời.

Xem tướng, một là cần có đôi mắt tinh tường, hai là cần động não. Động não này cần có tư tưởng triết học dẫn dắt. Tư tưởng triết học đúng đắn sẽ dẫn bạn suy nghĩ theo hướng chính xác; tư tưởng triết học sai lệch sẽ đưa suy nghĩ của bạn đi chệch hướng, hoặc làm đứt đoạn dòng suy nghĩ.

Trung Quốc cổ đại có nhiều bậc thầy tinh thông tướng thuật, Cửu Phương Cao xem tướng ngựa là một trong số đó. Đôi mắt của ông có thể nhìn thấu tận xương tủy của con ngựa. Bá Lạc cũng là một người giỏi xem tướng ngựa, và đã viết sách về tướng ngựa, tiếc là không còn lưu truyền đến ngày nay. Trên các chợ nông sản, cũng có những người biết xem tướng ngựa, tướng bò, một con vật được dắt đến, họ xem qua một số bộ phận quan trọng, xem tuổi tác, cuối cùng đưa ra đánh giá tổng thể. Dù tướng thuật của những người này cao thấp thế nào, họ đều là những người xem tướng.

Theo tiêu chuẩn thấp này, ai cũng là người xem tướng, ai cũng xem tướng trong cuộc sống hàng ngày.

Bạn cần đánh giá và lựa chọn từ nhiều người, sự vật và sự việc có liên quan, nếu không liên quan thì sao?

Ví dụ, bạn đang ở độ tuổi kết hôn và quyết định sẽ kết hôn, đồng thời muốn tự mình lựa chọn người yêu, vậy bạn cần “xem tướng”, xem ai là người phù hợp nhất với bạn. Hoặc khi bạn đi mua sắm, dù có hiểu biết hay không, bạn cũng cần “xem tướng”, chỉ khi bạn cảm thấy hài lòng, bạn mới quyết định mua. Nhưng nếu bạn chỉ dừng lại ở mức độ thấp, bạn sẽ không trở thành một “người xem tướng”, cũng không thể trở thành chuyên gia trong một lĩnh vực nào đó.

Như vậy, tướng thuật rất thực tế và không hề bí ẩn, chỉ là trong đầu mọi người có một bóng ma kỳ lạ, khi nghe đến hai chữ “tướng thuật”, họ liền liên kết nó với “mê tín” và vứt bỏ những thứ tốt đẹp. Điều này thực sự đáng tiếc.

Tướng thuật được chia thành nhiều loại, xem tướng người là một trong số đó. Thuật xem tướng người không chỉ dừng lại ở việc xem tướng mặt, mà các bộ phận khác trên cơ thể cũng có thể được xem. Nhưng trong các kỹ thuật xem tướng người truyền thống, những kỹ thuật phát triển hơn và có thể tạo thành một hệ thống học thuật, bao gồm tướng mặt, tướng tay, tướng chân, tướng lưng và tướng đầu.

Thời Tống có Đạo nhân Ma Y, tinh thông thuật xem tướng người, truyền thế có Ma Y tướng pháp. Trần Đoàn Hy Di tiên sinh học tướng từ Ma Y. Đạo nhân Ma Y tại Thạch thất Hoa Sơn không dùng lời nói mà trực tiếp truyền dạy cho Hy Di, sau đó viết “Thần Dị Phú”, “Kim Tỏa Phú”, “Ngân Thì Ca”. Trần Hy Di được truyền thụ từ Ma Y, cũng tinh thông tướng pháp.

Thuật xem tướng người là một nội dung quan trọng trong y học cổ truyền Trung Quốc. “Hoàng Đế Nội Kinh” chia con người thành năm trạng thái âm dương: Thái Âm, Thiếu Âm, Thái Dương, Thiếu Dương và Âm Dương hòa hợp. Ngoài ra, “trước tiên xác định năm hình dạng Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, phân biệt năm màu sắc, khác biệt năm hình dạng người, từ đó có đủ hai mươi lăm loại người.” Ví dụ như người hình Mộc, “người này có màu xanh, đầu nhỏ, mặt dài, vai lưng rộng, thân thẳng, tay chân nhỏ, có tài, thích lao tâm, ít sức lực, hay lo lắng về công việc. Có thể chịu được mùa xuân hè nhưng không chịu được mùa thu đông, mùa thu đông dễ cảm bệnh, chân quyết âm hóa nhiên.” Người hình Mộc lại được chia thành người Đại Giác, người Tả Giác, người Thái Giác và người Phán Giác.

Người hình Hỏa, “so với Thượng Chinh, giống như Xích Đế. Người này có màu đỏ, lưng rộng, mặt nhọn mặt nhỏ đầu nhỏ, vai lưng đùi bụng đẹp, tay chân nhỏ, đi lại vững chãi, tâm nhanh nhẹn, đi đứng lắc lư, vai lưng đầy thịt, có khí chất nhẹ nhàng, ít tin tưởng, hay lo lắng, thông minh, mặt mũi sáng sủa, tâm nóng nảy, không sống thọ, chết đột ngột. Có thể chịu được mùa xuân hè nhưng không chịu được mùa thu đông, mùa thu đông dễ cảm bệnh, tay thiếu âm hạt hạt nhiên.” Người hình Hỏa lại được chia thành người Chất Chinh, người Thiểu Chinh, người Hữu Chinh và người Chất Phán.

Người hình Thổ, “so với Thượng Quan, giống như Hoàng Đế thời cổ đại. Người này có màu vàng, mặt tròn, đầu to, vai lưng đẹp, bụng to, đùi chân đẹp, tay chân nhỏ, nhiều thịt, trên dưới cân đối, đi lại vững chãi, chân nhấc lên nhẹ nhàng, tâm an ổn, thích giúp người, không thích quyền lực, giỏi nịnh bợ. Có thể chịu được mùa thu đông nhưng không chịu được mùa xuân hè, mùa xuân hè dễ cảm bệnh, chân thái âm trí trí nhiên.” Người hình Thổ lại được chia thành người Đại Quan, người Gia Quan, người Thiểu Quan và người Tả Quan.

Người hình Kim, “so với Thượng Thương, giống như Bạch Đế. Người này có mặt vuông, màu trắng, đầu nhỏ, vai lưng nhỏ, bụng nhỏ, tay chân nhỏ, xương phát ra ngoài, xương nhẹ, thân nhẹ nhàng, tâm nóng nảy, tĩnh mà dũng mãnh, giỏi làm quan. Có thể chịu được mùa thu đông nhưng không chịu được mùa xuân hè, mùa xuân hè dễ cảm bệnh, tay thái âm trí trí nhiên.” Người hình Kim lại được chia thành người Khâm Thương, người Hữu Thương, người Đại Thương và người Thiểu Thương.

Người hình Thủy, “so với Thượng Vũ, giống như Hắc Đế. Người này có màu đen, không bằng phẳng, đầu to, cằm rộng, vai nhỏ, bụng to, tay chân động đậy, đi đứng lắc lư, phần dưới dài, lưng kéo dài, không kính sợ, giỏi lừa gạt người, chết vì kiên cường. Có thể chịu được mùa thu đông nhưng không chịu được mùa xuân hè, mùa xuân hè dễ cảm bệnh, chân thiếu âm hãn hãn nhiên.” Người hình Thủy lại được chia thành người Đại Vũ, người Thiểu Vũ, người Chúng Chi Nhân và người Trình Chi Nhân.

Những điều này đều là sự đánh giá tổng hợp về các bộ phận trên cơ thể, phân loại theo từng loại, và phân biệt theo khả năng thích ứng với bốn mùa trong năm, để dự đoán sự phát sinh bệnh tật và điều trị. Có thể thấy, thuật xem tướng người trong y học là rất thực tế.

Thuật xem tướng người trong mệnh lý cũng xuất phát từ nguồn gốc này, nhưng phân biệt và nghiên cứu chi tiết hơn về các bộ phận trên cơ thể, mục đích là để dự đoán sự việc của con người, tức là xu hướng phát triển và biến đổi trong cuộc đời hoặc từng năm của một người.

Ví dụ, tướng mặt truyền thống chia đường trung tâm trên khuôn mặt thành mười ba phần, từ trên xuống dưới lần lượt là: Thiên Trung, Thiên Đình, Tư Không, Trung Chính, Ấn Đường, Sơn Căn, Niên Thượng, Thọ Thượng, Chuẩn Đầu, Nhân Trung, Thủy Tinh, Thừa Tương, Địa Các. Toàn bộ khuôn mặt được chia thành mười hai cung: Mệnh Cung, Tài Bạch, Huynh Đệ, Điền Trạch, Nam Nữ, Nô Bộc, Thê Thất, Tật Ách, Thiên Di, Quan Lộc, Phúc Đức, Tướng Mạo. Khuôn mặt cũng được ví như Ngũ Tinh Lục Diệu, Ngũ Nhạc Tứ Độc, và được so sánh với Lục Phủ Tam Tài Tam Trù, chia thành Cửu Châu Bát Quái, bố trí Thiên Can Địa Chi. Đặc biệt, ngũ quan được nghiên cứu chuyên sâu, gọi là Tứ Học Đường Bát Học Đường. Các nét mặt, nốt ruồi, lông mày, mắt, tai, mũi, miệng, môi, lưỡi, răng, nhân trung, tóc, hình dáng, màu sắc, xương, thịt, giọng nói, khí, thần, tất cả đều được bàn luận chi tiết, không thiếu sót.

Nếu dùng quan điểm khoa học tự nhiên hiện đại để thảo luận về tướng mặt truyền thống Trung Quốc, cũng sẽ cảm nhận được rằng nghiên cứu trong lĩnh vực này rất tinh tế. Nếu quan sát từ góc độ triết học, lại thấy rằng tướng mặt truyền thống Trung Quốc không hề thô thiển hay hỗn loạn, mà xuyên suốt là lý thuyết thiên nhân hợp nhất và thuyết âm dương ngũ hành của triết học truyền thống Trung Quốc. Còn việc sử dụng nó để suy đoán sự việc của con người, thì thực sự có sự khác biệt lớn. Trong giang hồ có nhiều người xem tướng mặt, chỉ biết sơ qua về tướng mặt học, không nghiên cứu sâu, nhưng vẫn xem tướng mặt cho người khác, thực chất chỉ là dùng nó để làm trò vui. Cũng có người dùng nó để kiếm sống, chỉ để kiếm miếng cơm manh áo. Nhưng trong dân gian thực sự có những cao nhân tinh thông thuật này, xem tướng mặt và nói về sự việc của con người rất chính xác và có hiệu quả.

Trong “Thạch Thất Thần Dị Phú” của Ma Y tiên sinh có viết: Trong thuật xem tướng, việc đoán tuổi thọ là khó nhất, không chỉ dựa vào nhân trung, mà còn phải dựa vào thần sắc. Khi tác giả viết đến đây, chợt nhớ đến một đoạn trong hồi ký “Tôi và Lý Tông Nhân” của Lý Tú Văn, nguyên phối phu nhân của Lý Tông Nhân, có một đoạn viết về việc xem tướng, thực sự có thể dùng làm bằng chứng, xin trích dẫn như sau.

Ký ức sâu sắc nhất là lần đi xem tướng ở miếu Thành Hoàng. Nhớ rằng sau khi em dâu thứ tư đến Quảng Châu không lâu, cô ấy đã đưa tôi đi xem tướng ở miếu Thành Hoàng, nói rằng ở đó có một thầy xem tướng rất linh nghiệm, xem trăm người đúng cả trăm. Cô ấy muốn đi xem bói để tính toán về vận mệnh của mình. Họa phúc, cũng để kiểm chứng xem vị thầy này có thực sự xem trăm người đúng cả trăm hay không. Tôi vốn không muốn đi, nhưng không thể từ chối sự nài nỉ của cô ấy, nên đã nhờ bà chủ nhà Lý Thái dẫn đường, và rủ thêm bà Vương Tượng Minh cùng đi.

Khi chúng tôi đến nơi, mới biết đó không phải là một ngôi miếu, mà là một khu vực nhộn nhịp ở Quảng Châu, có đủ các ngành nghề buôn bán, và cả các sạp y, bói, tinh, tướng. Vị thầy mà chúng tôi tìm kiếm lại khác biệt hơn. Ông có một cửa hàng nhỏ, biển hiệu là Ma Y tướng pháp, bên trong bày một cái bàn và vài chiếc ghế dài. Khi chúng tôi đến, có rất nhiều người đang xem tướng, nên phải ngồi xếp hàng trên ghế dài chờ đợi, khoảng nửa giờ sau mới đến lượt chúng tôi. Đầu tiên, ông xem cho bà Lý Thái, nói một loạt lời tốt đẹp: “Bà này cả đời không thiếu ăn thiếu mặc, không tai họa, sống an lành đến già, có phúc lớn. Tuy nhiên, bà chỉ có tài mà không có quan, nhưng mệnh như vậy cũng là tốt rồi.” Tiếp theo, ông xem cho bà Vương Tượng Minh, nói rằng bà có tấm lòng nhân hậu, thích làm việc thiện. Ông còn nói: “Bà không phải là tiểu thư khuê các, nhưng lại làm vợ lẽ, tuy có chút oan ức, nhưng đó là số mệnh. May mắn là bà làm nhiều việc thiện, nên không lâu sau sẽ được làm chính thất, sau này sẽ giúp chồng thăng tiến, giàu sang phú quý.” Cuối cùng, ông xem cho tôi, thầy xem tướng nhìn qua nhìn lại, quan sát kỹ lưỡng một lúc, rồi yêu cầu tôi đứng thẳng, sau đó ông cười và nói: “Tướng của bà là một trong muôn người, tôi đã xem rất nhiều tướng phụ nữ, nhưng hiếm có ai có phúc mệnh như bà, không chỉ quý phái mà còn đầy đủ phúc lộc thọ hỷ. Chồng bà là người đứng dưới một người, trên vạn người. Tôi thấy bà có lông mày dài, tai dài, nhân trung dài, tay dài, nếu là đàn ông, bà sẽ là quốc vương, còn là phụ nữ thì sẽ là phu nhân nhất phẩm. Tuy nhiên, cũng có chút thiếu sót, đó là vợ chồng không thể bên nhau đến đầu bạc răng long.” Bà Lý Thái không nhịn được cười, tôi vội ngăn bà lại và nói: “Thầy xem tướng này không linh nghiệm rồi, chồng của hai bà này đều làm quan, còn chồng tôi là cấp dưới của họ, thầy xem tướng cũng sai rồi.” Thầy xem tướng vẫn cười và nói: “Ai cũng nói xem tướng là dựa vào miệng lưỡi để kiếm cơm, còn tôi dựa vào sách tướng để kiếm sống, sách tướng nói thế nào, tôi nói thế ấy, nói đúng thì trả tiền, không đúng thì không lấy tiền. Với mệnh của bà, dù có trả gấp mười lần cũng xứng đáng. Nhưng cũng có điều cần nói thêm, xem tướng không thể hoàn toàn chính xác, tướng quyết định một nửa, tâm quyết định một nửa. Tướng tốt còn phải làm nhiều việc thiện, tâm thiện tự nhiên sẽ linh nghiệm, nếu có chút thiếu sót, cũng có thể cứu vãn.”

Đoạn trích dẫn đến đây. Kết quả của những lời tiên tri mà thầy xem tướng này đưa ra như thế nào, những độc giả quen thuộc với lịch sử hiện đại Trung Quốc đều hiểu rõ. Lý Tú Văn sinh năm 1891, hiện vẫn còn sống, theo báo cáo, bà vẫn có thể làm một số công việc như trồng rau, điều này cho thấy bà có phúc lớn và sống lâu. Ở tuổi gần trăm, bà viết hồi ký này, ghi chép rõ ràng những chuyện xưa, khiến độc giả phải suy ngẫm.

Ngoài việc dạy Vương Lực Bình thuật xem tướng mặt, ba vị lão nhân còn dạy anh thuật xem tướng tay, tướng chân, tướng bụng lưng, tướng đầu, tóm lại là các bộ phận trên cơ thể đều có thuật xem tướng. Thuật xem tướng mà ba vị lão nhân truyền thụ khác biệt so với thuật xem tướng thông thường ở hai điểm: một là phân tích chi tiết, hai là phân tích trước rồi tổng hợp sau, những vấn đề nhìn thấy ở một chỗ cần được kiểm chứng lại ở chỗ khác, sau đó mới đưa ra kết luận.

Về xem tướng tay, người xem tướng thông thường thường chỉ chú ý đến đường chỉ tay, nhiều hơn thì xem hình dáng bàn tay. Ba vị lão nhân dạy Vương Lực Bình cách xem tướng tay, bổ sung thêm nhiều nội dung, không chỉ xem từ cổ tay đến đầu ngón tay, từ lòng bàn tay đến mu bàn tay, mà còn xem từ ngoài vào trong, từ đường chỉ, da, thịt, xương, tủy, từng lớp một. Ngay cả bề mặt mu bàn tay, cũng xem kỹ lỗ chân lông, đường dọc, đường ngang, từ đó nhìn ra mối liên hệ giữa người được xem và tổ tiên của họ. Như vậy, đây không phải là thuật xem tướng thông thường, cũng không phải là điều mà mắt thường có thể nhìn thấy. Chỉ có người có nội công cao thâm mới có thể nhìn thấy chân thực và sâu sắc như vậy.

Việc suy luận toàn bộ cơ thể dựa trên một bộ phận cụ thể để chẩn đoán và chữa bệnh, điều này hiện đã được mọi người chấp nhận. Đây chính là “lý thuyết toàn ảnh vũ trụ” mà con người hiện nay đưa ra.

Liệu pháp Nhĩ châm trong Y học cổ truyền Trung Quốc: Nguyên lý của nó là coi tai như một cơ thể người thu nhỏ, các huyệt trên tai tương ứng với các cơ quan trong cơ thể. Khi một cơ quan trong cơ thể bị bệnh, nó sẽ phản ánh ở các vị trí tương ứng trên tai. Bằng cách châm cứu vào các huyệt nhất định trên tai, bệnh có thể được chữa khỏi. Tai chính là một “toàn ảnh nguyên” của cơ thể. Đây là một phát hiện lớn của người Trung Quốc. Vào những năm 1950, liệu pháp châm cứu tai của Trung Quốc đã thu hút sự chú ý của thế giới và trở thành chủ đề nóng trong giới y học toàn cầu.

Năm 1980, một người Trung Quốc tên là Trương Dĩnh Thanh đã công bố một bài viết kỳ lạ có tên “Quy luật toàn ảnh sinh học”, gây chấn động trong và ngoài nước. Sau đó, ông Trương liên tục công bố các bài nghiên cứu và chuyên khảo, giải thích chi tiết về “quy luật toàn ảnh sinh học”.

Ông Trương Dĩnh Thanh viết:

Mỗi bộ phận trên một toàn ảnh nguyên của cơ thể sinh vật đều có các vị trí tương ứng trên toàn bộ cơ thể hoặc trên các toàn ảnh nguyên khác; một bộ phận trên một toàn ảnh nguyên và các vị trí không tương ứng trên toàn bộ cơ thể hoặc trên một toàn ảnh nguyên khác luôn có mức độ tương đồng sinh học cao hơn so với các vị trí tương ứng của chúng; quy luật phân bố của các bộ phận trên một toàn ảnh nguyên giống với quy luật phân bố của các vị trí tương ứng trên toàn bộ cơ thể hoặc trên các toàn ảnh nguyên khác.

Mỗi toàn ảnh nguyên chứa đựng thông tin về đặc điểm sinh học của các bộ phận trên toàn bộ cơ thể cũng như các điểm trên các toàn ảnh nguyên khác, điều này rất giống với việc mỗi mảnh vỡ nhỏ của một bức ảnh toàn ảnh đều chứa thông tin của toàn bộ khung cảnh.

Năm 1973, ông Trương Dĩnh Thanh phát hiện ra rằng trên xương bàn tay thứ hai của con người tồn tại một nhóm huyệt có trật tự mới, có thể sử dụng nó để chẩn đoán và điều trị các bệnh liên quan đến các bộ phận tương ứng trên cơ thể. Mặc dù xương bàn tay thứ hai không chứa nhiều thông tin toàn thân như tai, nhưng nó lại rất thiết thực và phổ biến hơn trong việc chẩn đoán bệnh. Đặc biệt quan trọng là…

Cơ sở lý thuyết của cả hai là giống nhau, đó chính là quy luật toàn ảnh sinh học.

Từ “lý thuyết toàn ảnh sinh học” đến “lý thuyết toàn ảnh vũ trụ”, chỉ cách nhau một bước, và đã được người Trung Quốc đề xuất trong thời gian ngắn. Nền tảng triết học và văn hóa đằng sau đó chính là triết học và văn hóa truyền thống cổ đại của Trung Quốc, trong đó âm dương ngũ hành là “toàn ảnh nguyên” của vạn vật!

Lão Tử nói: “Đạo lớn, trời lớn, đất lớn, người cũng lớn.” “Người pháp đất, đất pháp trời, trời pháp đạo, đạo pháp tự nhiên.” Pháp ở đây có nghĩa là bắt chước, tương tự, toàn ảnh.

Nếu một con mắt có thể chứa đựng thông tin về ngũ tạng lục phủ, một tai giống như một cơ thể người thu nhỏ, chứa đựng thông tin toàn thân, thì có thể nói rằng khuôn mặt, bàn tay và các bộ phận khác của con người cũng chứa đựng thông tin về cả cuộc đời của một người?

Thầy thuốc nhìn vào bệnh tật từ một bộ phận của cơ thể, thầy tướng nhìn vào sự thay đổi của sự việc. Nói một cách đơn giản, cả hai đều là thông tin, nhưng “người nhân thấy nhân, người trí thấy trí”, sử dụng con mắt khác nhau, thu nhận thông tin khác nhau từ cùng một nguồn, và đưa ra kết luận khác nhau.

Trong “ngũ thuật”, dễ được hiểu và chấp nhận nhất là “y”, tiếp theo là “tướng” và “sơn”, khó hiểu và chấp nhận nhất là “mệnh” và “bốc”.

“Sơn” chính là các phương pháp tu luyện mà mọi người thường nói, theo nghĩa hẹp là “võ thuật”. Võ thuật vì có các “đường lối” cố định cho cả công phu mềm và cứng, mọi người có thể nhìn thấy, nên tin tưởng vào nó.

Dù là “y”, “tướng” hay “sơn”, chỉ cần ở trong phạm vi “hạ tam giới” tức là “người, sự, vật”, người thường đều cho rằng chúng tương thích với khoa học và có thể hiểu và chấp nhận được. Nhưng một khi vượt ra khỏi phạm vi này, tiến lên “trung tam giới” tức là “thiên, địa, nhân”, mọi người sẽ bắt đầu nghi ngờ. Ví dụ như thực hiện “vô cực châm”, truyền “massage từ xa”, dùng bùa chữa bệnh, trong mắt người thường chỉ là “thần công”, khó có thể hiểu được. Xem tướng đến mức nhìn thấu xương tủy cũng là điều mà người xem tướng thông thường không thể làm được, người thường cũng sẽ nói đó là “chuyện vô lý”. Luyện tập võ thuật thông thường chỉ tập trung vào “lực” và “kỹ thuật”, nhưng khi thực sự vận dụng nội công, cộng thêm “pháp thuật”, thì đã vượt xa khả năng “lực” và “kỹ thuật” của người thường, và cũng khó để người thường hiểu được.

Còn khi nói đến “mệnh” và “bốc”, ngay từ đầu đã gây ra sự nghi ngờ từ mọi người.

Mọi người thường nói đến “mệnh”, nhưng đó chỉ là từ đồng nghĩa với “tính ngẫu nhiên”, không ai liên kết nó với “tính tất yếu”. Tư duy của người thường dừng lại ở điểm này.

“Mệnh” và “bốc” đều là thuật dự đoán, là học thuyết dự đoán, điều mà con người thường xuyên sử dụng trong cuộc sống. Có thể nói, có tư duy thì có dự đoán, chỉ là phương pháp dự đoán khác nhau, lý thuyết khác nhau, kết quả có thô có tinh mà thôi.

Mệnh học truyền thống Trung Quốc chủ yếu được sử dụng để dự đoán xu hướng phát triển và biến đổi trong cuộc đời của một người, trong khi bốc học chủ yếu được sử dụng để dự đoán những sự việc sẽ xảy ra hoặc đang xảy ra tại một thời điểm và không gian cụ thể.

Cơ sở lý thuyết của mệnh học chính là lý thuyết thiên nhân hợp nhất và học thuyết âm dương ngũ hành của triết học truyền thống Trung Quốc. Nó cho rằng sự biến đổi trong cuộc đời của một người là một phiên bản thu nhỏ của sự biến đổi vũ trụ, và sự biến đổi của vũ trụ quyết định sự biến đổi trong cuộc đời của con người. Ở điểm này, khoa học và mệnh học có nhận thức giống nhau. Nhưng nếu dừng lại ở giai đoạn “đại khái” này, mệnh học sẽ không thể xuất hiện, và tranh luận giữa mệnh học và khoa học cũng sẽ không xảy ra. Dưới sự hướng dẫn của triết học truyền thống Trung Quốc, các bậc trí giả cổ đại Trung Quốc đã bắt đầu suy nghĩ, khám phá xem cuộc đời của một người liên kết với sự biến đổi của vũ trụ như thế nào, và làm thế nào để có thể dự đoán được cuộc đời của một người. Đây là một đề tài lớn, chưa nói đến kết quả ra sao, chỉ việc đưa ra đề tài này đã cần rất nhiều dũng khí và trí tuệ. Một giải pháp mà người xưa Trung Quốc đưa ra để trả lời câu hỏi này chính là phương pháp tính toán “tứ trụ”, bắt đầu từ thời điểm một người được sinh ra, xây dựng nhiều “mô hình” biến đổi khác nhau để dự đoán con đường mà một người sẽ đi trong cuộc đời. Tranh luận giữa khoa học và mệnh học bắt đầu từ đây, mệnh học cho rằng có thể dự đoán, trong khi khoa học cho rằng những dự đoán này thiếu cơ sở.

Vấn đề hiện nay là, ở các nước phát triển phương Tây, trình độ văn hóa thông thường của người dân tương đối cao, quan niệm khoa học đã ăn sâu vào tâm trí của người thường, nhưng khoa học không thể giải thích được nhiều vấn đề trong phạm vi thông thường, một số trí giả đã nhận thấy khoa học đang đối mặt với khủng hoảng bắt đầu tìm kiếm trí tuệ từ các nền văn hóa ngoài khoa học thông thường, khám phá những cách giải thích khác cho các vấn đề này. Mệnh học là một trong những khía cạnh mà họ thảo luận. Ở Trung Quốc, mặc dù quan niệm khoa học đã có ảnh hưởng đáng kể, nhưng do giáo dục chưa phát triển, ảnh hưởng của văn hóa truyền thống vẫn rất lớn, số người tin vào mệnh học trong dân chúng rất đông. Đây là tình hình văn hóa hiện tại, dù nhìn từ góc độ nào, mệnh học vẫn là một yếu tố không thể xem nhẹ.

Mệnh học Trung Quốc thường được truy nguyên từ Quỷ Cốc Tử và Lạc Tuy Tử thời Chiến Quốc, nhưng thuật “tứ trụ” chỉ đến thời Đường Tống mới trở thành một hệ thống hoàn chỉnh, trong đó nhân vật then chốt là Lý Hư Trung thời Đường và Từ Tử Bình thời Tống. Lý thị tính toán dựa trên năm, tháng, ngày sinh của một người, còn Từ thị thêm một yếu tố nữa, đó là giờ sinh. Theo lịch truyền thống Trung Quốc, năm, tháng, ngày, giờ đều được tính bằng thiên can địa chi, bốn số xếp ngang, trên là thiên can, dưới là địa chi, tạo thành bốn cột, tổng cộng tám chữ, nên phương pháp này còn được gọi là bát tự toán mệnh. Thiên can địa chi vừa đại diện cho thời gian, vừa đại diện cho phương vị, trong đó bao hàm âm dương ngũ hành, các mối quan hệ biến đổi phức tạp của thiên, địa, nhân đều được bao quát. Theo ngôn ngữ khoa học hiện đại, tám chữ này vừa định tính, vừa định lượng, nên có thể sử dụng chúng để “tính toán”, để dự đoán.

Trong mệnh học, “Tử Bình mệnh thuật” sử dụng bát tự là một loại đồ hình, còn “Tử Vi Đẩu Số” cũng là một loại đồ hình khác. “Tử Vi Đẩu Số” phức tạp hơn, nó đưa vào các tinh tượng thiên thể, sắp xếp thành một biểu đồ vuông, có thể dự đoán chi tiết hơn về hành trình cuộc đời của một người. Nếu dùng ngôn ngữ khoa học hiện đại để giải thích, cả hai đồ hình này đều là một toàn ảnh nguyên độc lập, việc sử dụng chúng để dự đoán cuộc đời là hoàn toàn khả thi, về mặt lý thuyết không có vấn đề gì. Vấn đề nằm ở chỗ, làm thế nào để sử dụng các đồ hình này để dự đoán chính xác những sự việc chắc chắn sẽ xảy ra tại một thời điểm và không gian cụ thể trong tương lai. Khi nói đến “chính xác” và “cụ thể”, khoa học sẽ phản đối, vì khoa học cho rằng “tính ngẫu nhiên” không thể dự đoán được.

Liệu có thể đạt được bước này hay không là một vấn đề, và liệu mọi người sử dụng các công cụ này có thể đạt được bước này hay không lại là một vấn đề khác, đây là hai loại vấn đề khác nhau, không không thể trộn lẫn vào nhau.

Ba vị lão nhân dạy Vương Lực Bình học mệnh học là sử dụng đồng thời nhiều công cụ dự đoán khác nhau. Sư phụ dạy anh rằng, mệnh học là kỹ thuật mà người xưa dùng để hiểu về con người. Ai cũng có mệnh, mệnh chính là sinh, lão, bệnh, tử; mệnh chính là sự thăng trầm của con người trong xã hội. Sự biến đổi của xã hội có quy luật để theo dõi, sự biến đổi trong cuộc đời của con người cũng có quy luật để theo dõi. Những biến đổi này có cái hữu hình, có cái vô hình, nắm bắt được cái hữu hình, nhìn thấy được cái vô hình, nhìn thấy hiện tại, dự đoán tương lai, đó chính là vấn đề mà mệnh học cần nghiên cứu. Tử Vi Đẩu Số, Tử Bình suy mệnh, Tinh Bình Hội Hải; Thất Cải Tinh Học, tất cả đều cần đọc kỹ. Dùng “tứ trụ” để suy mệnh, có thể biết được đại khái cuộc đời, các giai đoạn biến đổi và vận thế ra sao. Dùng “Tử Vi Đẩu Số” để tính toán vị trí của mặt trời, trái đất, mặt trăng tại thời điểm sinh, cũng như góc và hướng của năm hành tinh lớn so với trái đất, sau đó xem mối quan hệ giữa các thiên thể này vào một năm cụ thể, dự đoán những sự kiện lớn sẽ xảy ra trong năm đó, và mối quan hệ giữa những sự kiện này với cuộc đời. Tính toán vị trí và góc của các thiên thể, gọi là “minh toán”. Còn có những phép tính khó hơn, cần tính ngược từ thời điểm sinh, từ hậu thiên chuyển sang tiên thiên, không chỉ tính ra tính cách, khả năng, vợ chồng, cha mẹ, anh chị em, mà còn tính ra cả linh cảm, điều này đã vượt ra ngoài phạm vi của các phép tính thông thường.

Ba vị lão nhân đã dành rất nhiều công sức để dạy Vương Lực Bình học “bốc”. Cơ sở của bốc học cũng là âm dương ngũ hành, nhưng khi phát triển, các phương pháp tính toán cụ thể trở nên đa dạng hơn. Bát quái là môn học cơ bản.

Cả Nho gia và Đạo gia đều tôn sùng “Kinh Dịch”. Nho gia coi trọng triết lý ẩn chứa trong “Kinh Dịch”. Hàng nghìn năm qua, Nho gia đã viết hàng nghìn tác phẩm chú giải “Kinh Dịch”, phần lớn là bàn về triết lý. Đạo gia coi trọng công cụ và phương pháp nhận thức mà “Kinh Dịch” cung cấp, khiến “Kinh Dịch” trở nên thực dụng hơn.

Ba vị lão nhân dạy Vương Lực Bình học “Kinh Dịch” theo truyền thống của Đạo gia, chia “Kinh Dịch” thành 72 loại, đều lấy 64 quẻ của “Kinh Dịch” làm đồ hình cơ bản, trong đó có Dịch thực vật, Dịch động vật, Dịch cơ thể người, v.v. Tóm lại, vạn sự vạn vật đều có thể được phân loại vào 64 quẻ, để quan sát và dự phòng sự phát triển và biến đổi của chúng. Điều này thực chất lại là đưa bát quái và 64 quẻ như một toàn ảnh nguyên của vũ trụ, sự biến đổi của vạn vật đều tuân theo cùng một quy luật.

Sư phụ dạy Vương Lực Bình sử dụng bát quái có những điểm độc đáo, thứ nhất là không thể hiểu như người thường chỉ coi bát quái là một mặt phẳng, mà phải coi nó là một khối lập thể, một hình cầu. Trong bát quái, hai quẻ Càn và Khôn là hai cực, có thể tách ra. Sáu quẻ còn lại tương ứng với sáu hướng trên, dưới, trái, phải, trước, sau, từ đó tạo thành một khối lập thể, vạn sự vạn vật, hễ có hình dạng đều không thể vượt ra khỏi phạm vi này. Thứ hai là dùng quẻ để bói toán, tức là hỏi quẻ về sự việc, điều này có mối quan hệ chủ khách, phải đặt đúng vị trí, nếu không sẽ không nhận được câu trả lời chính xác. Quẻ là chủ, tôi là khách, tôi hỏi quẻ về sự việc, phải đặt 64 quẻ bên ngoài, 64 quẻ tạo thành một quả cầu lớn bao bọc bên ngoài tôi. Đây mới là mối quan hệ chính xác. Nếu tôi là chủ, đặt 64 quẻ trong lòng tôi, thì câu hỏi và câu trả lời đều nằm trong lòng tôi, làm sao có thể hỏi quẻ?

Dùng bát quái để bói toán, điểm khó nằm ở “đoán quẻ”, thời xưa gọi là “phá quẻ”, tức là khi bản quẻ và biến quẻ đã xuất hiện, trong đó nói lên ý nghĩa gì, phải giải mã. Giải mã phải có học thức, có kinh nghiệm, biết liên tưởng, như vậy mới có thể loại bỏ nhiều câu trả lời không thể xảy ra, và chọn ra một câu trả lời có thể xảy ra. “Mai Hoa Dịch Số” của Thiệu Ung thời Tống đã đề xuất một số phương pháp cơ bản để khởi quẻ và đoán quẻ, khá thực dụng. Nhưng cần chú ý đi từng bước, không có nội công thì không thể làm được.

Ngoài bói quẻ, bốc học còn có “Lục Nhâm Thần Khóa” và “Kỳ Môn Độn Giáp”.

Lục Nhâm, dựa trên “Hà Đồ” với chín số sắp xếp, thiên nhất sinh thủy, địa lục thành chi; lại dựa trên “Lạc Thư” sắp xếp bát quái hậu thiên, Khảm một, Càn sáu, Nhâm án Càn cung, là số đầu tiên, quẻ đầu tiên, nên lấy tên là “Lục Nhâm”. Đồ hình cơ bản của “Lục Nhâm” là địa bàn, thiên bàn, trên đó xếp bốn bài, trên nữa xếp ba truyền, nên còn gọi là “Lục Nhâm Khóa”.

“Địa bàn”, tức là sắp xếp theo thứ tự 12 địa chi: Hợi, Tý, Sửu, Dần ở phía Bắc, Dần, Mão, Thìn, Tỵ ở phía Đông, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân ở phía Nam, Thân, Dậu, Tuất, Hợi ở phía Tây, là 12 thời điểm chiêm nghiệm, tĩnh mà không động, ẩn mà không hiện, đây là địa bàn.

“Thiên bàn”, tức là dùng nguyệt tướng đặt lên trên thời điểm chiêm nghiệm, sắp xếp theo thứ tự địa bàn để tạo thành thiên bàn. “Nguyệt tướng” tức là tướng của một tháng, mặt trời vận vào cung nào thì đó là tướng, qua trung khí thì đổi, nên “Lục Nhâm” nguyệt tướng khác với “tứ trụ” tính tháng, “tứ trụ” dựa vào “tiết”, tương đối phù hợp với âm lịch, còn “Lục Nhâm” dựa vào “khí”, muộn hơn nửa tháng so với “tứ trụ”; hơn nữa, “tứ trụ” sử dụng can chi theo âm lịch, còn thứ tự sắp xếp nguyệt tướng của “Lục Nhâm” lại ngược lại.

“Tứ khóa” và “tam truyền” sắp xếp càng phức tạp hơn. “Khóa thể” được chia thành 62 loại, “tam truyền” được chia thành 9 loại, đều dựa vào ngũ hành sinh khắc, xạ ngôn, tỷ dụng, phục ngâm, v.v.

Quy trình chiêm nghiệm “Lục Nhâm” đại khái chia thành các bước sau: xác định thái tuế, nguyệt tướng, can chi ngày giờ tại thời điểm chiêm nghiệm; viết thiên bàn trên địa bàn; kết hợp can chi ngày với thiên địa bàn để tạo thành tứ khóa; dựa vào mối quan hệ sinh khắc ngũ hành của tứ khóa để liệt kê tam truyền; theo ngày đêm của thời điểm chiêm nghiệm, sắp xếp thuận nghịch 12 thiên tướng trên địa bàn; tra di can của tam truyền, liệt kê mối quan hệ sinh khắc của tam truyền; liệt kê niên mệnh, hành mệnh trên địa bàn; cuối cùng tiến hành chiêm đoán. Chiêm đoán càng phức tạp hơn, cần xem mối quan hệ giữa thời điểm chiêm nghiệm và can chi ngày, nguyệt tướng có nhập truyền hay không, có trống không, sau đó lần lượt xem nhật thần, tam truyền, niên mệnh, thiên tướng, khóa thể, thần sát, chi thần, âm thần, độn can, khắc ứng, đức lộc, hình xung, phá hại, không hợp, quỷ mộ, đinh mã, v.v., phải luận đến từng thứ mới có thể đưa ra kết luận. Chuỗi quan hệ tính toán này cực kỳ phức tạp, không thành thạo thì không thể vận dụng được.

“Kỳ Môn Độn Giáp” là một trong những bí thuật của văn hóa truyền thống Trung Quốc, cũng là học thuyết dự đoán. Thuật này thâm sâu, tự học khó thành, nếu không được minh sư truyền thụ trực tiếp thì không thể nắm được yếu lĩnh, học mà dùng được. Vì vậy từ xưa đến nay, người biết đến tên của nó rất nhiều, nhưng người tinh thông thuật này lại rất ít, còn người sử dụng được đều là những bậc đại gia, như Trương Lương, Gia Cát Lượng, Lưu Bá Ôn, đều nhờ nó mà lập nên đại nghiệp.

Kỳ Môn Độn Giáp lấy bát quái cửu cung làm cơ sở, kết hợp tam kỳ lục nghi và bát môn cửu tinh, chọn ra điểm tốt nhất tại một thời điểm không gian, dự đoán cát hung, để quyết định hướng hành động. Trong mười thiên can, Ất, Bính, Đinh là tam kỳ, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý là lục nghi, lấy Giáp làm chủ, nên gọi là “Kỳ Môn Độn Giáp”. Đồ hình cơ bản của nó được chia thành bốn bàn: địa bàn, nhân bàn, thiên bàn, thần bàn. Thông Phương pháp của Giáp, ba tầng tượng trưng cho tam tài, tầng trên tượng trưng cho trời, liệt kê chín sao, tầng giữa tượng trưng cho người, sắp xếp tám cửa, tầng dưới tượng trưng cho đất, bố trí bát quái cửu cung. Thiên Bồng, Hưu Môn và Khảm một cung tương đối, đây là tam tài định vị. Tam kỳ, Ất là nhật kỳ, Bính là nguyệt kỳ, Đinh là tinh kỳ. Thiên bàn: Thủy tinh Thiên Bồng, Thổ tinh Thiên Nhậm, Thiên Nhuế, Thiên Cầm, Mộc tinh Thiên Xung, Thiên Thư, Hỏa tinh Thiên Anh, Kim tinh Thiên Trụ, Thiên Tâm. Nhân bàn: Hưu, Cảnh, Sinh, Khai tứ cát môn, Thương, Kinh, Đỗ, Tử tứ hung môn. Địa bàn: Ngũ cung ký cư trong nhị cung. Thần bàn: Cửu Thiên, Cửu Địa, Chu Tước, Câu Trần, Lục Hợp, Thái Âm, Hoàng Xà, Trực Phù. Sau Đông chí là dương độn, sau Hạ chí là âm độn. Dương độn thuận bố lục kỳ, nghịch bố tam kỳ. Âm độn nghịch bố lục nghi, thuận bố tam kỳ.

Đồ hình cơ bản của Kỳ Môn Độn Giáp cũng là một toàn ảnh nguyên của vũ trụ, nó đưa trời, đất, người, thần vào một đồ hình, xem xét các mối quan hệ sinh khắc âm dương ngũ hành trong đó, tìm ra cát hung tại một thời điểm không gian, để hướng dẫn hành động của con người. Ở đây xuyên suốt là tư tưởng triết học thiên nhân hợp nhất, “nói” về vấn đề tất yếu. Nó dự đoán những sự việc gì sẽ xảy ra, hành động của con người nên thuận theo, không nên trái ngược, đây là vấn đề tất yếu, không phải vấn đề ngẫu nhiên trùng hợp.

Bốc học Trung Quốc còn có “Thiết Bản Thần Số”. Sách “Thiết Bản Thần Số” lưu truyền rộng rãi trong dân gian, có nhiều bản chép tay, bản in khác nhau, số lượng điều khoản có 1.200 điều, 5.000 điều, 13.000 điều không giống nhau. Sách này được truyền là do Thiệu Ung thời Tống viết, vì Thiệu Tử có tác phẩm lớn “Hoàng Cực Kinh Thế”, và phương pháp tính toán lại tự thành một hệ thống độc lập, được “Thiết Bản Thần Số” sử dụng, nên người đời sau đều gán tên Thiệu Tử, đặt “Thiết Bản Thần Số” dưới tên Thiệu Tử. Tuy nhiên, sách “Thiết Bản Thần Số” có nhiều bản khác nhau, nội dung hỗn tạp, thực tế không phải do một người viết. “Thiết Bản Thần Số” lấy quẻ trị nhật nguyệt làm dòng chính, thần số là thứ yếu. Quẻ dùng quẻ sai, lấy trung khí làm điểm khởi đầu, khởi Phục kết thúc Khôn. Lịch quẻ hào này không phải là lịch thông thường, phải tự biên soạn theo phương pháp của Thiệu Khang Tiết. Năm tháng ngày quẻ hào tương đối dễ, giờ quẻ hào phức tạp. Về việc dùng quẻ, quẻ Hà Đồ, quẻ Lạc Thư, quẻ Văn Vương đều được sử dụng, nhưng không dùng hết. Lại dùng Lã Luật Cung Thương của Kinh Phòng để phối hợp với quẻ Tửu Thiên và quẻ Nạp Giáp. Về số, sử dụng số ngũ hành, số can chi và số Thái Ất.

số Cửu Cung. Phương pháp sử dụng nhanh thì kết hợp can chi, ẩn bát quái vào trong ngũ hành, đồng thời sử dụng phương pháp Tử Bình, nạp âm can chi, quẻ khí trị nhật, thập thanh thập nhị âm, v.v., còn hấp thụ khái niệm tinh tòa thần sát của các thuật như Tử Vi Đẩu Số. Vì vậy, “Thiết Bản Thần Số” là một tổng hợp phức tạp, nó gần như tập hợp nhiều mặt kiến thức, kỹ thuật, thuật ngữ, phương pháp của các thuật dự đoán truyền thống Trung Quốc. Văn tự trong đó có khi tao nhã, có khi giản dị thô tục. Phương pháp tra cứu rất khó, và khi đọc các điều khoản, nếu không có trình độ văn sử cổ điển tương đối, gặp văn từ ẩn dụ, lại càng khó hiểu được ý nghĩa. Vì vậy, “Thiết Bản Thần Số” lưu truyền rất rộng, nhưng người biết sử dụng lại rất ít.

Ba vị lão nhân đã truyền thụ từng thuật khai trí này cho Vương Lực Bình, và dặn dò anh rằng, năm thuật này đều lấy đạo làm gốc, dùng thuật để cứu người, dùng thuật để chở đạo, dùng thuật để truyền đạo, đây là căn bản. Thuật là tiểu kỹ. Đạo là bản thể. Đạo cao thì trí khai, học kỹ thuật không khó. Đạo cao thì kỹ thuật cũng cao. Đặc biệt là đối với công phu thượng thừa, đạo lý này càng rõ ràng.

Vương Lực Bình thấu hiểu ý nghĩa bên trong lời dạy của sư gia và sư phụ, mặc dù rất hứng thú với việc học kỹ thuật và cũng dành nhiều công sức, nhưng cuối cùng vẫn không rời xa cái gốc là đạo. Và thực tiễn sau này của Vương Lực Bình cũng chứng minh lời dạy của ba vị lão nhân là vô cùng chính xác. Khi anh đối mặt với những bệnh nhân nguy kịch, chữa trị những căn bệnh khó chưa từng có tiền lệ, thì tự nhiên có thượng sư trong mơ chỉ điểm cho anh, truyền thụ tuyệt kỹ, áp dụng phương pháp này để chữa trị, bệnh liền khỏi. Lúc này, Vương Lực Bình đương nhiên đã có năng lực thông thần.

Sau khi khai trí, ba vị lão nhân liền dạy Vương Lực Bình “luyện thần”.

Chương 11: Vận Mộng Luyện Thần

“Luyện thần” là giai đoạn thứ tám trong quá trình học đạo của Vương Lực Bình. Ở giai đoạn này, tinh, khí, thần đều đã được nâng lên một tầng cao hơn. Xin độc giả đặc biệt chú ý đến cách viết của chữ “khí” này. Ở tầng “người, sự, vật” thuộc hạ tam giới, chữ “khí” được viết là “气”, ở tầng “thiên, địa, nhân” thuộc trung tam giới, chữ “khí” được viết là “炁”, và ở tầng “thời không vũ trụ” thuộc thượng tam giới, chữ “khí” được viết là “hi”. Đây không chỉ là sự khác biệt trong cách viết, mà quan trọng hơn là liên quan đến việc hiểu bản chất của “khí” ở tầng cao.

Ví dụ, dưới ánh sáng, người, sự, vật đều có bóng. Bóng này là hư hay thực? Ở tầng “người, sự, vật”, người ta nói nó là hư, bạn phá hủy nó, thì đối với thực thể tương ứng của nó không có tác dụng gì. Nhưng thực tế thì sao? Có tác dụng, nhưng người, sự, vật không cảm nhận được, vì cảm giác quá chậm chạp. Đến tầng “thiên, địa, nhân” thì khác, cho rằng bóng là thực. Ví dụ, bóng của người tương ứng với các bộ phận trên cơ thể, dùng “doanh” hoặc vật tác động lên bóng người, tương đương với tác động lên thân người. Khi Vương Lực Bình luyện “tu tam giới”, đã đạt đến trình độ này, tức là sư phụ đánh vỡ bóng của anh trong nước, Vương Lực Bình cảm nhận được trên cơ thể, cảm giác này chỉ khi nội công đạt đến trình độ cao mới có thể cảm nhận được. Bây giờ thì cao hơn một tầng nữa, ví dụ như dùng kim châm vào một bộ phận nào đó trên bóng người, cũng tương đương với việc châm kim vào người, đối với người thường thì hoàn toàn không cảm nhận được, nhưng thực tế đã có tác dụng, đây là bản chất của việc chữa bệnh bằng cách châm kim vào bóng.

Tóm lại, ở tầng này, độc giả phải thay đổi tư duy, việc sử dụng ý nghĩa nguyên thủy của một khái niệm nào đó đã không còn phù hợp nữa.

Ba vị lão nhân huấn luyện Vương Lực Bình cách vận mộng.

Giấc mơ trong mắt người thường là thứ “có hình mà không có chất”, ngủ một giấc, làm những giấc mơ kỳ lạ, phần lớn không lưu lại ký ức, một số ít để lại ấn tượng sâu sắc, nhưng không hiểu được ý nghĩa.

Ba vị lão nhân và Vương Lực Bình đều có quan điểm khác với người thường về giấc mơ, nói một cách đơn giản, ở tầng này, giấc mơ là “có hình có chất”. Ở tầng “thiên, địa, nhân”, con người không bị động mơ, mà chủ động mơ, làm những việc họ muốn làm trong “giấc mơ”. Để đạt được trình độ này, cần phải trải qua huấn luyện chuyên biệt, và có nội công tương đối cao. Nội công này chính là sự huấn luyện chuyên biệt về tinh, khí, thần.

Ba vị lão nhân dạy Vương Lực Bình trước tiên tu luyện tinh, khí, thần của bản thân đến cảnh giới rất cao, sau đó dạy anh cách sử dụng tinh, khí, thần để mơ.

Ba vị lão nhân bắt đầu giảng rằng thần chia làm hai loại, con người có “âm thần” và “dương thần”, âm thần là hồn, dương thần là phách. Ba vị lão nhân ngày nào cũng giảng những điều này, Vương Lực Bình trong lòng không hiểu, cảm thấy chẳng có ý nghĩa gì. Nhưng sau đó thì lại say mê, ngày nào cũng bám lấy sư gia và sư phụ, yêu cầu họ giảng giải rõ ràng. Ban đầu là ba vị lão nhân “nhồi nhét” cho Vương Lực Bình, sau đó thấy Vương Lực Bình đã “vào đạo”, liền tránh mặt anh, nhưng Vương Lực Bình luôn tìm được họ, không phải vị này thì là vị kia. Những gì ba vị lão nhân giảng đều có tổng cương giống nhau, nhưng mỗi người đều có đặc sắc riêng.

Ở tầng “thiên, địa, nhân”, làm thế nào để mơ? Giấc mơ có hai loại, một là vận động trong cơ thể, hình thức này giống như người thường mơ, nhưng khác biệt ở chỗ có thể điều khiển nội dung của giấc mơ. Ví dụ, xác định một chủ đề, muốn suy nghĩ vấn đề gì, hoặc muốn tìm kiếm câu trả lời cho một vấn đề nào đó, chỉ cần nằm xuống ngủ một lúc, trong giấc mơ sẽ có câu trả lời cho vấn đề đó.

Ông Vương Lực Bình nói rằng, khi ông đi giảng bài, tổ chức các lớp huấn luyện, ông chưa bao giờ viết bài giảng, cũng không viết dàn ý hay những thứ tương tự. Mỗi ngày ông đều ngồi thiền vài giờ, đến khoảng ba, bốn giờ sáng thì đi ngủ, trước tiên xác định một chủ đề, tức là những gì sẽ giảng vào ban ngày, sau đó mơ, trong giấc mơ sẽ xuất hiện nội dung cần giảng. Thường ngủ khoảng hai, ba tiếng, sau khi thức dậy, trong lòng rõ ràng minh bạch, lên lớp là giảng, nội dung trong giấc mơ có thể giảng vài tiếng, thậm chí mười mấy tiếng cũng không hết.

Một loại giấc mơ khác, thực chất không còn là giấc mơ nữa, mà đã vượt ra ngoài giấc mơ mà người thường nói, đó là “đi ra ngoài” của âm thần và dương thần.

Âm thần và dương thần xuất khỏi cơ thể là một công phu rất cao. Nhiều người không tin rằng con người có âm thần và dương thần, càng không tin rằng thần có thể “đi ra ngoài”. Đây là một vấn đề học thuật rất nghiêm túc, có ý nghĩa lớn đối với nhân loại và vũ trụ, rất đáng để nghiên cứu kỹ lưỡng.

Làm thế nào để thực hiện loại “giấc mơ” thứ hai này? Ông Vương Lực Bình nói rằng, ba vị lão nhân dạy ông, đó là coi tinh, khí, thần lần lượt là “quân chủ”. Có thể là thần đi trước, tinh làm quân, khí đẩy phía sau; cũng có thể là tinh đi trước, thần làm quân, khí đẩy phía sau; hoặc thần đi trước, khí làm quân, tinh đẩy phía sau.

Ví dụ, khi âm thần đi ra ngoài, thần làm quân, tinh bao bọc thần, khí bao bọc tinh, thì hiện hình. Nếu thần làm quân, khí bao bọc thần, tinh ở bên ngoài, thì hình không hiện. Hiện hình còn gọi là “phân thân thuật”, không cần mơ cũng có thể làm được. Không hiện hình cũng có thể làm được khi không mơ. Nhưng khi mơ, phần lớn là để âm thần đi ra ngoài, còn dương thần thì không cố định.

Khi thực hiện loại “giấc mơ” thứ hai này, để thần đi ra ngoài, thực hiện hành trình xuyên thời gian, “giấc mơ” là “có hình có chất”, không có chút ảo tưởng nào.

Người viết cuốn sách này, khi viết đến đây, không khỏi muốn nói thêm vài lời về giấc mơ.

Theo thực tiễn của ông Vương Lực Bình, hiện nay chúng ta biết rằng giấc mơ của con người có thể chia thành hai loại chính: một loại là giấc mơ tự phát, con người không thể kiểm soát nó; loại khác là giấc mơ có thể kiểm soát, do con người điều khiển, trở thành công cụ phục vụ cho “tôi”. Loại giấc mơ thứ nhất là giấc mơ của người thường, loại giấc mơ thứ hai là giấc mơ của những người đã đạt đến tầng “thiên, địa, nhân”.

Về giấc mơ của người thường, từ xưa đến nay, nhân loại đã không ngừng nghiên cứu. Từ thế kỷ 20 trở đi, các cuộc thảo luận về giấc mơ càng trở nên sôi nổi, phương Tây đã xuất hiện một số học giả có ảnh hưởng toàn cầu, như Freud và Jung. Ở Trung Quốc gần đây cũng xuất hiện một học giả, đó là ông Lưu Văn Anh, ông đã dành nhiều năm nghiên cứu sâu sắc các tài liệu về giấc mơ của Trung Quốc, đề xuất “một thuyết mới về giấc mơ của người Trung Quốc”, thuyết này được trình bày trong cuốn chuyên khảo gần đây của ông có tên “Mê tín và khám phá giấc mơ – Một khía cạnh của tôn giáo, triết học và khoa học cổ đại Trung Quốc” (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Trung Quốc, 1989). Những trích dẫn sau đây về thuyết giấc mơ cổ đại Trung Quốc, trừ khi có ghi chú đặc biệt, đều đến từ chuyên khảo của ông Lưu.

Về phân loại giấc mơ, các tài liệu cổ đại Trung Quốc ghi chép lần đầu tiên trong “Chu Lễ”, là cách phân loại giấc mơ của người thời Tiên Tần. “Chu Lễ – Xuân Quan” chia giấc mơ thành sáu loại:

  1. Chính mộng (giấc mơ bình thường),
  2. Ác mộng (giấc mơ xấu),
  3. Tư mộng (giấc mơ do suy nghĩ),
  4. Ngộ mộng (giấc mơ khi tỉnh táo),
  5. Hỷ mộng (giấc mơ vui),
  6. Cụ mộng (giấc mơ sợ hãi).

Đây là phương pháp phân loại giấc mơ của quan chiêm mộng thời Chu. Quan chiêm mộng “dùng nhật nguyệt tinh thần để chiêm đoán cát hung của sáu loại giấc mơ”. Cách phân loại này chủ yếu dựa trên nội dung giấc mơ và trạng thái tâm lý của người mơ.

Thời Đông Hán, Vương Phù trong “Tiềm Phu Luận” đã chia giấc mơ thành mười loại:

Mọi giấc mơ đều có: trực (trực tiếp), tượng (hình tượng), tinh (tinh túy), khủng (sợ hãi), nhân (con người), cảm (cảm xúc), thời (thời gian), phản (phản chiếu), bệnh (bệnh tật), tính (tính cách).

Vương Phù nói: “Mười loại này là đại lược của việc chiêm mộng.” Và giấc mơ còn có sự phân biệt giữa ứng nghiệm và không ứng nghiệm. Nhưng “những giấc mơ kỳ lạ, phần lớn đều có nguyên nhân chứ ít khi vô cớ.” Từ đó có thể thấy, người xưa rất coi trọng việc nghiên cứu giấc mơ, không coi các loại giấc mơ là như nhau, mà đặc biệt chú trọng đến những “giấc mơ kỳ lạ”, hy vọng có thể “giải mã” được một số thông tin hữu ích cho cuộc sống và xã hội.

Kinh Phật đã tiến thêm một bước trong việc phân loại giấc mơ. Ví dụ như trong “Pháp Uyển Châu Lâm – Miên Mộng Thiên – Tam Tính Bộ” dẫn lời “Thiện Kiến Luật” về phân loại giấc mơ:

Giấc mơ có bốn loại:

  1. Tứ đại bất hòa mộng (giấc mơ do tứ đại không hòa hợp),
  2. Tiên kiến mộng (giấc mơ do những điều đã thấy trước đó),
  3. Thiên nhân mộng (giấc mơ do thiên nhân cảm ứng),
  4. Tưởng mộng (giấc mơ do tưởng tượng).

Ở đây, không nên suy đoán theo nghĩa đen của bốn loại giấc mơ này, rất khó để nói rõ bốn loại giấc mơ thực sự ám chỉ điều gì. Nhưng với “thiên nhân mộng”, có thể hiểu là giấc mơ do thiên nhân cảm ứng, mang tính chất dự đoán.

Lại có “Đại Trí Độ Luận – Giải Liễu Chư Pháp Thích Luận”, chia giấc mơ thành năm loại:

  • Nếu trong cơ thể không điều hòa: nếu nhiệt khí nhiều, thì thường mơ thấy lửa, thấy màu vàng, thấy màu đỏ;
  • Nếu hàn khí nhiều, thì mơ thấy nước, thấy màu trắng;
  • Nếu phong khí nhiều, thì thường mơ thấy bay, thấy màu đen.
  • Lại có những việc đã nghe thấy, do suy nghĩ nhiều nên mơ thấy.
  • Hoặc trời cho mơ, muốn cho biết việc tương lai.

Ba loại đầu tiên, tức là “tứ đại bất hòa mộng”. Loại thứ tư là “tưởng mộng”. Bốn loại này là giấc mơ thông thường. Loại thứ năm “thiên dữ mộng”, giống với “thiên nhân mộng” đã dẫn trước đó, là giấc mơ giao tiếp với thần linh, có thể “biết được tương lai”, nên là giấc mơ không bình thường.

Về những giấc mơ không bình thường, các tài liệu từ trước đến nay ít đề cập, và càng thiếu nghiên cứu đầy đủ, đây là một nguyên nhân quan trọng khiến nhận thức của con người về giấc mơ không có đột phá lớn. Hiện tại, dựa trên chuyên khảo của Lưu Văn Anh, xin trích dẫn hai đoạn.

Đoạn thứ nhất được ghi trong “Sử Ký”, quyển 128, “Quy Sách Liệt Truyện chương 68”:

Năm thứ hai đời Tống Nguyên Vương, sứ giả của sông Giang là thần Quy đi sứ đến sông Hà, đến Tuyền Dương, ngư dân Dự Thả giăng lưới bắt được và nhốt nó vào lồng. Nửa đêm, thần Quy hiện về trong giấc mơ của Tống Nguyên Vương và nói: “Ta là sứ giả của sông Giang đi đến sông Hà, nhưng màn đêm chắn lối ta, Dự Thả ở Tuyền Dương bắt được ta, ta không thể đi được. Thân đang gặp nạn, không biết kêu ai. Vương có đức nghĩa, nên ta đến báo cáo.” Nguyên Vương tỉnh giấc, liền triệu Tiến sĩ Vệ Bình đến hỏi: “Đêm qua quả nhân mơ thấy một người đàn ông, cổ dài đầu lớn, mặc áo thêu đen, ngồi trên xe tứ mã, đến báo mộng với quả nhân rằng: ‘Ta là sứ giả của sông Giang đi đến sông Hà, nhưng màn đêm chắn lối ta. Dự Thả ở Tuyền Dương bắt được ta, ta không thể đi được, thân đang gặp nạn, không biết kêu ai. Vương có đức nghĩa, nên ta đến báo cáo.’ Đây là điềm gì vậy?”

Vệ Bình liền cầm gậy đứng dậy, ngẩng đầu nhìn ánh trăng, xem sao Bắc Đẩu chỉ hướng, xác định vị trí mặt trời. Dùng quy củ làm phụ trợ, cân nhắc thêm. Bốn phương đã định, bát quái đối chiếu. Xem cát hung, loài giáp xác hiện ra trước. Rồi đáp với Nguyên Vương: “Đêm qua, Vương nằm mơ, sao Khiên Ngưu chiếu mệnh. Sông Hà hội tụ lớn, quỷ thần bàn mưu. Hán chính nam bắc, sông Giang Hà cố kỳ, gió nam dần đến, sứ giả sông Giang đến trước. Mây trắng lấp sông Hán, vạn vật đều lưu lại. Cán sao Bắc Đẩu chỉ mặt trời, sứ giả sẽ bị giam cầm. Mặc áo đen ngồi xe tứ mã, tên của nó là Quy. Vương hãy nhanh chóng sai người đi hỏi và tìm nó.” Vương nói: “Tốt.”

Sau đó, Vương liền sai người phi ngựa đến hỏi lệnh Tuyền Dương: “Có bao nhiêu nhà ngư dân? Ai tên là Dự Thả? Dự Thả bắt được Quy, hiện về trong giấc mơ của Vương, Vương nên sai ta đi tìm nó.” Lệnh Tuyền Dương liền sai sử tập hợp sổ sách và xem bản đồ, trên sông có 55 nhà ngư dân, phía thượng lưu, tên là Dự Thả. Lệnh Tuyền Dương nói: “Được.” Rồi cùng sứ giả phi ngựa đến hỏi Dự Thả: “Đêm qua ngươi đánh cá được gì?” Dự Thả đáp: “Nửa đêm giăng lưới bắt được một con rùa.” Sứ giả hỏi: “Bây giờ con rùa ở đâu?” Dự Thả đáp: “Ở trong lồng.” Sứ giả nói: “Vương biết ngươi bắt được rùa, nên sai ta đến tìm nó.” Dự Thả nói: “Được.” Liền buộc rùa và đưa nó ra khỏi lồng, dâng lên sứ giả.

Đoạn ghi chép này rất sinh động và thú vị. Nó cho chúng ta biết rằng quả thực có những giấc mơ không bình thường như vậy tồn tại. Nó còn giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của giấc mơ đã được giải mã như thế nào. Cuối cùng, nó cũng cho chúng ta biết rằng lời tiên tri trong giấc mơ đã được thực tế chứng minh.

Một ví dụ khác là giấc mơ “Mộng Khê” của học giả thời Bắc Tống, Thẩm Quát. Hiện xin trích dẫn đoạn văn từ chuyên khảo của ông Lưu Văn Anh:

Thẩm Quát từng tự thuật rằng, vào khoảng ba mươi tuổi, ông đã mơ thấy một nơi “leo lên một ngọn đồi nhỏ, hoa cỏ phủ kín, dưới chân đồi có dòng nước trong vắt, tầm mắt nhìn xa, cây cao che phủ phía trên.” Trong giấc mơ, ông rất vui mừng, hy vọng có thể sống ở nơi này. Sau đó, giấc mơ này thường xuyên xuất hiện, thậm chí một năm ba lần, bốn lần mơ thấy nơi này, quen thuộc như thể đã từng đến đó. Mười năm sau, khi bị giáng chức đến Tuyên Thành, có một đạo sĩ nói rằng ở Kinh Khẩu có một khu đất rất tốt, ông bỏ ra ba mươi quan tiền để mua nó, nhưng không biết vườn tược nằm ở đâu. Đến khi về già bị giáng chức, ông tự mình đến khu vườn mà đạo sĩ đã mua cho mình, chợt nhận ra đây chẳng phải là nơi ông đã nhiều lần mơ thấy sao! Vì vậy, ông đã tu sửa lại khu vườn này và đặt tên là “Mộng Khê”.

Bản thân Thẩm Quát không tin rằng giấc mơ có thể biết trước tương lai, nhưng giấc mơ “Mộng Khê” lặp đi lặp lại nhiều lần này quả thực đã được chứng minh bởi sự thật nhiều năm sau đó, điều này thực sự rất “kỳ lạ”. Thẩm Quát đã viết một tác phẩm lưu danh sử sách, lấy tên là “Mộng Khê Bút Đàm”, bản thân sự việc này cũng khiến người ta cảm thấy rất ý nghĩa.

Ông Vương Lực Bình cho rằng, học thuyết và thực tiễn về giấc mơ của Đạo gia đã tiết lộ bản chất tồn tại của vũ trụ ở một tầng cao hơn.

Thứ nhất, giấc mơ được chia thành giấc mơ bị động và giấc mơ chủ động. Giấc mơ bị động có thể là sự biểu lộ tiềm thức của con người, cũng có thể là do ngoại lực thúc đẩy mà mơ, nói chung đều không phải là kết quả mà người mơ mong muốn theo ý chí chủ quan. “Ngoại lực” được đề cập ở đây, như các tài liệu đã dẫn ở trên chỉ ra, là những lực lượng mà đến nay vẫn chưa được làm rõ (khoa học chưa làm rõ), dân gian thường gọi là “mộng báo”. Ngoài ra, ông Vương Lực Bình đã thông qua thực tiễn của mình để chứng minh rằng đó chính là “tinh, khí, thần” của con người. Tinh, khí, thần đã được tu luyện có thể được con người kiểm soát, vận hành, và dùng chúng để kiểm soát tinh, khí, thần của người thường chưa tu luyện để tạo ra giấc mơ. Trong giấc mơ bị động đã có giấc mơ chủ động, đối với người thường là bị động, nhưng đối với người tu luyện thì là chủ động. Giấc mơ chủ động cũng được chia thành hai loại, một loại như đã nói ở trên, dùng công lực của mình để khiến người khác mơ, loại khác là trước tiên xác định một chủ đề, sau đó mơ, trong giấc mơ sẽ có được câu trả lời cho vấn đề.

Thứ hai, trong giấc mơ, mối quan hệ thời gian và không gian có sự thay đổi lớn. Ngay cả với giấc mơ của người thường, không gian dường như bị bóp méo, mọi thứ như mây, nước, khí, lơ lửng, từ cảnh này sang cảnh khác, thay đổi nhanh chóng, khó nắm bắt. Có cảm giác về thời gian, nhưng dường như không có cảm giác rõ ràng về thời gian. Nhưng trong giấc mơ chủ động của ông Vương Lực Bình, tình hình lại khác, “cảnh mơ” và cảnh thực rất khó phân biệt, hoặc nói cách khác là không có sự khác biệt, có thể nói là “như đang ở trong cảnh thực”. Ở đây, chúng ta chạm đến một vấn đề quan trọng trong tranh luận học thuật: bản chất của giấc mơ là gì? Nhà nghiên cứu giấc mơ nổi tiếng phương Tây hiện đại, Freud, cho rằng giấc mơ là biểu hiện của hoạt động tinh thần tiềm thức của con người, ở tầng “người, sự, vật”, đây là một thành tựu lớn trong lý thuyết về giấc mơ. Nhưng Đạo gia cho rằng chỉ dừng lại ở tầng này là chưa đủ, cần phải đi sâu hơn nữa, điều này lại quay trở lại vấn đề “tinh, khí, thần”, bản chất của giấc mơ không chỉ liên quan đến “thần”, mà còn liên quan đến “khí” và “tinh”, không chỉ người thường mơ như vậy, mà người tu luyện khi mơ cũng như thế. Chính vì giấc mơ là một phương thức tồn tại của sự vận động tổng hợp “tinh, khí, thần”, nên hình thức biểu hiện của nó trong không-thời gian là vô cùng “linh hoạt tự nhiên”. Đây là cơ sở để các đạo gia tu luyện sử dụng hình thức giấc mơ để khai phát trí tuệ, liên hệ với người khác, vượt qua rào cản không-thời gian.

Thứ ba, về ý nghĩa của giấc mơ, đây là vấn đề được bàn luận nhiều nhất trong suốt lịch sử. Đạo gia kiên trì tư tưởng thiên nhân hợp nhất, sử dụng lý luận cân bằng – mất cân bằng của “tinh, khí, thần” để giải thích bản chất của giấc mơ, cho rằng cả giấc mơ bị động lẫn giấc mơ chủ động đều mang ý nghĩa sâu sắc. Điều này giống như quẻ tượng trong Kinh Dịch: có vật tất có tượng, có tượng tất có số, có số tất có lý – cái lý này không “hiển” thì cũng “ẩn”. Cách thức biểu đạt của giấc mơ nằm ở sự mô tả bằng hình ảnh sống động, chứ không phải thông qua ngôn ngữ chữ viết trừu tượng, điều này biểu hiện mối liên hệ giữa con người và vũ trụ một cách trực tiếp hơn. Biểu đạt bằng ngôn ngữ chữ viết trừu tượng thường có những hạn chế, đặc biệt khi ngôn ngữ chữ viết bị đóng khung bởi những quan điểm văn hóa cố định thì những hạn chế này càng trở nên rõ rệt. Giấc mơ không bị trói buộc bởi không-thời gian, có tính liên kết ngẫu nhiên rất lớn, nên có sự tự do lớn hơn trong việc “diễn đạt”.

Con người do chịu sự ràng buộc của hiện thực, đặc biệt là văn hóa, tinh thần và thể xác của họ thường ở trong trạng thái bị đè nén. Giấc mơ là một phương thức giúp giải phóng điều đó. Khi đánh giá Freud, Jung đã nói:
“Bằng cách khẳng định giá trị của giấc mơ với tư cách là nguồn thông tin quan trọng nhất về các quá trình vô thức, ông ấy đã trao lại vào tay nhân loại một công cụ tưởng chừng như đã mất đi vĩnh viễn.” (Trang 286, Tự Truyện Jung, Nhà xuất bản Nhân dân Giang Ninh, 1988)

Tuy nhiên, Jung đã tiến một bước xa hơn Freud. Ông không đồng ý với quan điểm của Freud khi cho rằng giấc mơ chỉ đơn thuần là một “bề mặt”. Ngược lại,
“Đối với tôi, giấc mơ là một phần của bản tính tự nhiên, nó hoàn toàn không có ý định lừa dối ai, mà cố gắng hết sức để biểu đạt một điều gì đó. Những hình thái sự sống này cũng không có mong muốn đánh lừa nhận thức của chúng ta; lý do khiến chúng ta có thể tự lừa dối mình là vì đôi mắt của chúng ta đã mắc chứng cận thị.” (Cùng sách trên, trang 275)

Trong vấn đề ý nghĩa của giấc mơ, quan điểm của Jung gần gũi hơn với quan điểm của Đạo gia.

Cuối cùng, là việc giải thích ý nghĩa của giấc mơ. Đạo gia cho rằng, đối với giấc mơ chủ động, ý nghĩa tự nó đã rõ ràng, không cần giải thích. Đối với giấc mơ bị động, nếu ý nghĩa “hiển” thì cũng không cần giải thích, nếu ý nghĩa “ẩn” thì dựa vào “tượng” để ngộ “ý”. Công cụ giải thích cũng không thể tách rời nguồn gốc của giấc mơ là “tinh, khí, thần”, không thể tách rời lý thuyết âm dương ngũ hành. Ở đây, điều quan trọng vẫn là nâng tư duy từ “con người, sự vật” lên “thiên địa nhân”, cần thể ngộ ở mức độ cao.

Như đã nói ở trên, việc chủ động mơ, dẫn dắt người khác mơ, thực hiện chuyến du hành xuyên thời gian, thực chất không phải là “mơ” mà là “xuất thần”.

Điều kiện cơ bản để “xuất thần” là “tinh, khí, thần” đều đủ, qua quá trình luyện tập để sử dụng một cách thuần thục.

Ba yếu tố này dạy Vương Lực Bình cách luyện tập “tinh, khí, thần”.

Âm thần giống như “đứa trẻ”, đầu tiên được hình thành từ từ trong bụng, sau đó di chuyển vào cung Nê Hoàn. Khi âm thần trưởng thành, cần được bảo vệ cẩn thận. Đặc biệt chú ý đến sự thay đổi thời tiết, không luyện công “xuất thần” trong thời tiết xấu. Điều này giống như một đứa trẻ, khi trưởng thành có thể tách khỏi cơ thể mẹ, nhưng khi mới sinh ra vẫn rất yếu ớt, cần được cho bú và chăm sóc cẩn thận để phát triển khỏe mạnh. Khi “thân cường lực tráng” rồi mới có thể dạy nó tập đi, dần dần để nó tự vận hành.

Khi mới bắt đầu “xuất thần”, chỉ cho phép âm thần hoạt động ở những nơi rất gần và nhanh chóng thu hồi lại. Sau đó, dần dần cho phép âm thần hoạt động ngoài trời và quay trở lại theo con đường cũ. Qua quá trình luyện tập lâu dài, âm thần đã trở nên mạnh mẽ hơn, việc xuất hiện và thu hồi cũng trở nên tự nhiên hơn, có thể dần dần cho phép âm thần đi xa hơn và mỗi ngày có thể xuất hiện nhiều lần. Vì đây là sự xuất hiện của “tinh, khí, thần”, nên sau khi luyện tập, tốc độ của nó sẽ nhanh như ý nghĩ của con người. Hơn nữa, tùy thuộc vào cách sử dụng “tinh, khí, thần”, nó có thể hiện hình hoặc không hiện hình, đó chính là bí mật của “phân thân thuật”.

Sau khi Vương Lực Bình học được cách “xuất thần”, ông đã trải qua nhiều lần những cảnh tượng mà ông đã từng trải qua sau khi chết trong quá trình tịch cốc. Tuy nhiên, lúc này có hai điểm khác biệt so với khi chết. Thứ nhất là không có cảm giác đau đớn cực độ trong khoảnh khắc chết; thứ hai là những nhân vật mà ông gặp không chỉ có thể nghe hiểu lời nói của họ mà bản thân Vương Lực Bình cũng có thể đối thoại với họ, không giống như lần trước chỉ có thể nghe mà không thể nói.

Ông Vương Lực Bình đã kể với người viết cuốn sách này về những cảnh tượng mà ông đã trải qua, chúng mang đậm màu sắc thần thoại và đầy tính lãng mạn, điều mà đối với người thường là không thể hiểu được.

Chương 12: Thâm Sơn Thám Bảo

Vượt núi băng sông, nắng hạ qua đi, giá lạnh lại đến, thầy trò bốn người từ khi rời khỏi Phủ Thuận Tây Sơn Đầu để tránh nạn và đi du ngoạn, không ngờ đã gần hai năm.

Đạo nhân Vô Cực Trương Hợp Đạo đã là một cụ già tám mươi tám tuổi, Đạo nhân Thanh Tịnh Vương Giáo Minh cũng đã bảy mươi tám tuổi, còn Đạo nhân Thanh Hư Giả Đôn Nghĩa thì đã bảy mươi sáu tuổi. Nếu nói về người thường, đến tuổi này, phần lớn đã gần như cạn kiệt sức lực, sắp về với đất. Một số ít người dù sức khỏe tốt cũng không chịu được nhiều khổ cực, mà chỉ an hưởng tuổi già. Làm sao có thể chịu đựng được cảnh phong ba bão táp, mưa nắng dãi dầu, lang thang khắp nơi? Nhưng ba vị lão nhân này thì tâm thân hợp đạo, dù tránh nạn bốn phương, vẫn giữ được tâm hồn trẻ thơ, tắm mình trong thiên nhiên, như cá bơi trong nước, không thấy họ khổ, mà chỉ thấy niềm vui. Thêm vào đó, có Vương Lực Bình, chàng trai trẻ đi cùng họ, cuộc sống càng thêm nhiều thú vị.

Dù quần áo rách rưới, nhưng nét mặt họ đều ánh lên sắc hồng. Tinh thần càng khác thường. Nếu đặt họ cùng với người thường, dù là người không có con mắt tinh tường nhất cũng có thể nhận ra từ nét mặt và trạng thái tinh thần của họ rằng: bốn người này là những người đắc đạo.

Bốn người họ ngày ngày bên nhau, nhiệm vụ của ba vị lão nhân rất rõ ràng, đó là dẫn dắt người đệ tử trẻ tuổi này, từng bước truyền thụ công pháp cho anh ta. Vương Lực Bình do hoàn cảnh thời cuộc bắt buộc, không thể học đạo theo cách thông thường, mà chỉ có thể nắm bắt cơ hội tu luyện trong quá trình du ngoạn này.

Họ đi và ngủ lại giữa núi rừng hoang vu, kiếm được gì ăn nấy, no bụng một bữa, không có gì ăn thì cũng không ai nói một chữ “đói”. Trong lòng bốn người đều hiểu rõ, ai là người đầu tiên thể hiện ý nghĩ này, chắc chắn sẽ bị người khác “bắt lấy”: “Được thôi, vậy thì cậu đi kiếm chút gì ăn đi.”

Ban đầu, Vương Lực Bình không hiểu đây là một cách “đấu trí” giữa sư phụ và sư gia, anh ta còn trẻ, cũng không từ chối, luôn là người đầu tiên nói ra chữ “đói”, rồi lại tự mình chạy đi rất xa, tìm cách kiếm thức ăn mang về cho mọi người cùng chia sẻ.

Khi ăn cơm, thường là “sư nhiều cháo ít”, căn bản không thể chia đều được. Lúc này, mọi người sẽ đặt thức ăn ở giữa, bốn người ngồi vây quanh, mỗi người trình bày ý kiến của mình, sau một hồi “luận chứng”, nếu có lý do mà mọi người đều chấp nhận được, thì sẽ chia thức ăn theo cách đó. Nếu mọi người không đồng ý, cứ giằng co mãi, thì sẽ tiếp tục “tranh luận” cho đến khi có kết quả.

Sau này, Vương Lực Bình hiểu ra rằng, đi bộ và khất thực đều không phải là việc khó, vấn đề là ai bị bắt phải làm những việc này, thì người đó đã thua một nước trong “trí tuệ”. Vương Lực Bình cũng bắt đầu động não, tìm cách để “bắt” được sư phụ và sư gia.

Có một lần, Giả Đôn Nghĩa không cẩn thận bị mọi người “bắt được”, nên phải đi rất xa để kiếm về một cái bánh nửa gạo nửa rau, mọi người ngồi lại bắt đầu thảo luận cách chia phần.

Trương Hợp Đạo vuốt râu, nói trước: “Ta tuổi cao nhất, không thể so sánh với các người thân thể cường tráng, ta phải ăn nhiều một chút mới chịu được.”

Vương Lực Bình tiếp lời: “Con đang tuổi lớn, cần phải ăn nhiều mới được, các cụ nên yêu quý người trẻ hơn chứ.”

Giả Đôn Nghĩa nói một cách “chính trực”: “Tôi đã chạy rất nhiều đường, cái bánh này không dễ kiếm được, nên chia theo công lao, tôi nên được một nửa trước, phần còn lại các người chia nhau.”

“Không phải vậy”, Vương Giáo Minh không chịu thua, “cái túi này là tôi thay anh trông coi, nếu nói về công lao thì chúng ta mỗi người nên có một phần, không thể toàn bộ công lao đều thuộc về anh. Tôi nghĩ nên chia làm ba phần, tôi và Đôn Nghĩa mỗi người lấy một phần, phần còn lại để sư phụ và Vĩnh Sinh chia nhau.”

Trương Hợp Đạo thấy ba người đều không nhắc đến chữ “già”, có lẽ tranh cãi cũng vô ích, bèn nhượng bộ: “Chia đều cho bốn người thì sao?”

“Không được, không được.” Ba người đều không đồng ý, “Chia đều là vô nghĩa nhất, cũng không có lý.”

Nhưng không ai đưa ra được lý do thuyết phục người khác về cách chia.

Trương Hợp Đạo thấy mọi người đã hết cách, bèn nghĩ ra một “diệu kế”.

“Được rồi, mọi người đừng tranh cãi nữa, tôi có một cách, công bằng nhất, mọi người đồng ý thì làm theo cách này.”

“Có cách gì hay, xin sư gia nói nhanh.”

“Đặt cái bánh ở đây, bốn người cùng ăn, cơ hội đều nhau, chẳng phải là công bằng nhất sao?”

“Hay, hay!” Mọi người đều đồng ý.

Trương Hợp Đạo lấy một hòn đá, đặt cái bánh lên trên. Bốn người cùng lúc từ bốn hướng cúi đầu lại, bốn cái miệng cùng lúc hướng về phía cái bánh. Nhưng cái bánh không lớn, đầu mọi người chạm vào nhau, miệng vẫn không cắn được.

Giả Đôn Nghĩa là người đầu tiên rút lui, vẫy tay nói: “Thôi, thôi, tôi không thể làm thế này được, để các người cắn đi.”

Trương Hợp Đạo cười, “Đúng ý tôi, anh quý mặt mũi, chúng tôi quý cái bánh.” Ba người đều cười, đã cắn mỗi người một miếng bánh, ăn rất ngon. Khi cắn đến cuối, Ba người cũng không thể chen chúc được nữa, Vương Giáo Minh cũng chủ động rút lui, chỉ còn lại hai người, Trương Hợp Đạo cầm lấy cái bánh, cùng Vương Lực Bình bạn một miếng tôi một miếng, chẳng mấy chốc đã ăn hết cái bánh.

Vương Giáo Minh thấy Giả Đôn Nghĩa quay lưng lại, biết rằng “chắc có lý do”, bèn lén đi ra phía sau, thấy ông ta đang gặm một củ khoai lang, không nói không rằng, liền giật lấy củ khoai, bẻ làm đôi, hai người cùng chia nhau.

Một cái bánh, một củ khoai lang, vốn không đủ để một người no bụng, nhưng cảnh chia nhau ăn lại tràn đầy tình cảm cuộc sống. Trong núi rừng hoang vu, thỉnh thoảng vang lên tiếng cười đùa vui vẻ của bốn người.

Thời gian trôi qua trong bầu không khí vô tư, ngây thơ và lãng mạn như vậy. Bốn thầy trò luôn điều chỉnh lẫn nhau, khơi dậy trí tuệ, khơi gợi cảm hứng, trong tình cảm tràn đầy sự tôn trọng và yêu thương, họ cùng nhau “thiết kế”, giăng bẫy, để đối phương “mắc lừa” và “xấu hổ”. Một khi ai đó “lộ tẩy”, những người khác sẽ vui mừng khôn xiết, ba vị lão nhân này giống như những “đứa trẻ” không bao giờ lớn. Tình hình thời cuộc tuy vẫn còn hỗn loạn, nhưng trong thế giới của bốn người này, luôn không có bất kỳ sự ràng buộc hay giới hạn nào, không phân biệt trước sau, đông tây, tâm tính như trăng sáng, tư duy như mây trôi nước chảy, không vướng bụi trần, trong suốt, chân thật, tự nhiên, sống động, hòa hợp và vui vẻ. Thiên đạo, địa đạo, nhân đạo hợp thành một thể.

Cuộc sống tu đạo du ngoạn là khoảng thời gian khó quên đối với Vương Lực Bình, đây là đỉnh cao thứ hai trong cuộc đời anh.

Trong khoảng thời gian này, ba vị lão nhân đã truyền thụ cho Vương Lực Bình những bí quyết về vận động của thiên thể, lý lẽ biến đổi của xã hội, mệnh lý, y thuật, tướng số, bói toán, và thuật xuất thần vận mộng. Trong quá trình tu luyện Linh Bảo Tất Pháp Tam Tiên Công của Vương Lực Bình, ba vị lão nhân cũng truyền thụ cho anh những tuyệt kỹ mà họ đã tu luyện suốt đời. Bây giờ, Vương Lực Bình có thể nói là “thân thủ bất phàm”.

Vương Lực Bình cuối cùng cũng hiểu ra nhiệm vụ của đời mình là gì. Anh phải không phụ lòng giáo dục của ba vị lão nhân, không làm nhục nhiệm vụ của chính mình.

Anh đã thấu hiểu sâu sắc lý lẽ của sự hợp nhất giữa trời, đất và con người, nắm vững phương pháp để tâm người, tâm trời và tâm đạo gặp gỡ.

Trong mắt ba vị lão nhân, Vương Lực Bình – đứa con mà họ “nuôi dưỡng” – đã dần trưởng thành.

Bốn thầy trò vừa đi vừa trò chuyện vui vẻ, thoải mái, sớm đã xua tan mệt mỏi, đắm chìm trong cảnh giới hòa hợp giữa thân tâm và thiên nhiên.

Hôm đó, họ đi lên một con đường núi rộng rãi. Thỉnh thoảng có xe ô tô chạy qua bên cạnh họ. Trương Hợp Đạo nhìn xuống đôi giày đã mòn của mình, Giả Đôn Nghĩa đã biết ông lại có ý định gì đó, vô thức sờ vào ba lô trên lưng, như thể kiểm tra xem có vấn đề gì không. Vương Giáo Minh cũng sờ vào thắt lưng, dường như nói, “Không có vấn đề gì”. Chỉ có Vương Lực Bình nhìn chiếc xe phía trước đi qua, quay đầu lại nhìn, một chiếc xe khác sắp tới.

Khi chiếc xe phía sau tiến gần đến họ, chỉ thấy ba vị lão nhân đã bay khỏi mặt đất, vùn vụt dính vào thành xe tải. Vương Lực Bình giật mình, chạy nhanh theo, nhưng xe đã đi xa vài trượng, ba vị lão nhân trong nháy mắt đã nhảy vào thùng xe, cười lớn với Vương Lực Bình. Vương Lực Bình biết mình lại bị “ba ông già” này tính toán, trong lúc kích động, công lực đã lên, chạy nhanh hơn trăm mét cũng bám được vào thành xe, nhẹ nhàng nhảy vào thùng xe. Ba vị lão nhân lại cười lớn. Vương Lực Bình không khỏi đỏ mặt.

Tài xế lái xe rất nhanh, chỉ chăm chú nhìn phía trước, hoàn toàn không biết chuyện gì xảy ra phía sau. Đột nhiên nghe thấy tiếng cười, cảm thấy rất kỳ lạ. Con đường núi này, xe cộ qua lại không nhiều, người đi bộ cũng ít, không thấy người đi bộ, sao lại có tiếng cười? Nghe kỹ lại, tiếng cười ở rất gần, lẽ nào có người trên xe? Nhưng trên xe trống rỗng không chở người, sao lại có tiếng người? Tài xế nhìn vào gương chiếu hậu, trong thùng xe quả thật có người, lại là mấy ông già, điều này thật quá kỳ lạ. Tài xế muốn hỏi mấy người này là ai, bèn Tài xế phanh gấp và dừng xe lại.

Tài xế bước ra khỏi buồng lái, đứng trên bậc đạp nhìn vào thùng xe, nhưng không thấy bóng người nào. Tài xế càng thấy kỳ lạ hơn.

Đúng lúc tài xế đang nghi ngờ, bỗng nghe có người nói: “Cảm ơn bác tài đã cho chúng tôi đi nhờ.” Tài xế quay đầu lại, thấy bốn người đứng trước xe, ba già một trẻ, đang chắp tay tỏ lòng biết ơn. Tài xế muốn hỏi chi tiết, nhưng bốn người đã rời đường đi lên núi.

Hóa ra bốn thầy trò thấy xe dừng lại, đã dùng phép ẩn thân, rời khỏi xe, nên tài xế không thể nhìn thấy họ.

Bốn thầy trò tiếp tục hành trình, hôm nay đã đến chân núi Hoa Sơn thuộc dãy Tây Nhạc.

Bốn người ngẩng đầu nhìn lên, thấy thế núi thật kỳ lạ, khí thế phi phàm, như một người khổng lồ đứng chống trời, hùng vĩ, tráng lệ.

“Đạo Tạng” có ghi chép một quyển “Tây Nhạc Hoa Sơn Chí”, ghi chi tiết về các thắng cảnh của Hoa Sơn. Trước phần chí có lời tựa của Đường Huyền Tông, nói rằng:

“Trời có bốn mùa, các vì sao xác định vị trí. Đất có năm phương, núi non trấn giữ thành trì. Âm dương giao hòa, vạn vật hình thành; tinh khí tương thông, thần minh hiển hiện. Tây Nhạc Thái Hoa Sơn, khi âm khí thịnh, vạn vật đơm hoa, nên gọi là Hoa Sơn. Nằm ở phía tây trung thổ, bảy vì sao chính vị, được gọi là Tây Nhạc. Xem bản đồ, thấy núi được tạo thành bốn phía. Đo chiều cao, năm ngàn nhẫn sáng rõ. Vách đá kiên cố hùng vĩ, các núi khác đều nghiêng mình phụ thuộc. Khí núi nghiêm trang, thế núi uy nghi, hành kim, giờ Dậu. Phía trước là thung lũng Hoa Dương, phía sau là quận Hoa Âm, bên trái là ải Đào Lâm, bên phải là ngọc Lam Điền. Dưới núi có phương sĩ chân nhân, đỉnh vàng phòng đá, trên núi có minh tinh ngọc nữ, tiên thảo quỳnh tương.” (Đạo Tạng, Nhà xuất bản Tam Gia, tập 5, trang 744-745)

Hoa Sơn vốn nổi tiếng với sự hùng vĩ và hiểm trở. Núi có năm đỉnh: Đông là Bạch Triều Dương, Tây là Bạch Liên Hoa, Nam là Lạc Nhạn, Bắc là Ngũ Vân, Trung là Ngọc Nữ. Năm đỉnh núi đối diện nhau từ xa, tạo nên một cảnh tượng hùng vĩ. Các đỉnh núi dựng đứng như được đẽo gọt bằng dao rìu, việc leo lên cực kỳ khó khăn. “Từ xưa đến nay chỉ có một con đường lên Hoa Sơn”, và con đường này cực kỳ nguy hiểm và hẹp, thực sự là “một người giữ cửa, vạn người không qua nổi”.

Nhà thơ đời Tống – Khấu Chuẩn có bài thơ vịnh Hoa Sơn như sau:

只有天在上,

更无山与齐。

举头红日近,

回首白云低

Dịch thơ: 

Chỉ trời xanh lộng lẫy,

Không núi nào sánh ngang.

Ngẩng đầu mặt trời đỏ,

Cúi xuống mây trắng bay.

Nhưng Hoa Sơn còn có điểm kỳ lạ khác. Nó đứng sừng sững ở phía nam sông Vị, phía bắc là đồng bằng rộng lớn của sông Vị. Sông Hoàng Hà sau khi uốn khúc hình chữ “nhĩ” trên cao nguyên Hoàng Thổ, thì ngay dưới chân Hoa Sơn đột ngột chuyển hướng đông, đổ thẳng ra biển. Về phía nam là dãy núi Tần Lĩnh, qua sông Hán Thủy, tiếp tục về phía nam là dãy núi Đại Ba. Về phía đông, xuyên qua dãy núi phía tây Hà Nam, là đồng bằng Hoa Bắc trải dài ngàn dặm, kéo dài đến tận bờ biển. Nếu vẽ một đường thẳng từ đông bắc theo hướng tây nam dọc theo dãy Đại Hưng An Lĩnh, sẽ chia Trung Quốc thành hai phần đông và tây, hình thành hai khu vực kinh tế tự nhiên. Và Hoa Sơn gần như nằm ở điểm giữa của đường chéo này. Đường Huyền Tông nhìn thấy tầm quan trọng của Hoa Sơn trong bối cảnh văn hóa truyền thống, còn ngày nay, tầm quan trọng của Hoa Sơn được chỉ ra trong bối cảnh văn hóa hiện đại, ý nghĩa tuy khác nhau, nhưng hai điểm này trùng khớp với nhau.

Đạo gia đã tổng hợp các đặc điểm này của Hoa Sơn, ở đây họ không chỉ nhìn thấy hướng đi của núi, mà còn nhìn thấy những thứ tụ hội và lưu chuyển ở đây, đó chính là “khí”, là “phong”.

Hoa Sơn từ xưa đến nay là nơi đạo gia luyện “khí”, luyện “phong”. Bốn thầy trò Vương Lực Bình lần này đến Hoa Sơn là có mục đích.

Bốn thầy tròi lần theo con đường núi cheo leo hiểm trở, bước từng bước mà leo lên. Khi ấy, khí thế ban đầu của Phong trào Cách mạng Văn hóa đã dần lắng xuống, nhưng dấu vết mà Hồng Vệ Binh để lại sau đợt “càn quét” vẫn còn in hằn rõ rệt. Dọc đường gần như không thấy khách du lịch, nhiều danh lam cổ tích đã trở thành phế tích; cỏ hoang phủ kín những viên ngói vỡ, gạch vụn.

Ba vị sư phụ đều từng nhiều lần đến Hoa Sơn. Nhưng cảnh tượng trước mắt bây giờ khiến họ vô cùng chấn động, đau lòng.

Thầy trò bốn người tiếp tục leo lên con đường nổi tiếng “Thiên Xích Trường” – một trong những lối đi hiểm trở nhất để chinh phục Hoa Sơn. Những bậc đá gần như dựng đứng, chỉ có xích sắt làm tay vịn, lối đi chỉ đủ cho một người leo. Một người ở trên, một người ở dưới, người dưới có thể nhìn thấy cả lòng bàn chân của người trên. Nếu ngoảnh đầu nhìn xuống, sẽ có cảm giác như đang đứng trên một chiếc thang treo lơ lửng giữa không trung – khiến ai nấy không khỏi run sợ.

Khi đang leo được nửa chừng, sư phụ bất ngờ gọi Vương Lực Bình dừng lại và quay đầu nhìn về phía xa – nơi trên sườn núi mờ hiện những cửa hang thấp thoáng. Thầy nói với anh, đó chính là nơi Trường Chân Tử – Hách Đại Thông, một trong “Bắc Thất Chân”, từng tu luyện và đắc đạo.

Chuyện kể rằng Trường Chân Tử khi du hành đến Hoa Sơn đã đục hang trên vách đá để làm nơi tu luyện. Vừa đục xong hang đầu tiên, ông gặp một đạo sĩ khác đến, mang theo chiếu ngồi, nói rằng mình không có chỗ ngồi thiền, xin mượn hang. Trường Chân Tử lập tức đồng ý và lại đi tìm một nơi khác để đục hang mới. Nhưng khi hang thứ hai vừa hoàn thành, lại có một đạo sĩ khác đến xin. Ông cũng không từ chối. Cứ như thế, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này nối năm kia… Không ai đếm xuể ông đã mài mòn bao nhiêu cây sắt, đổ bao nhiêu mồ hôi. Nhưng tất cả các hang động ông đào ra đều bị người khác mượn hết.

Mãi đến hang thứ 72, khi đục xong, Hách Đại Thông cuối cùng mới đắc đạo, thành chân nhân.

Bên một đình hoang đổ nát, bốn người dừng chân. Sư gia nói với Vương Lực Bình rằng ngôi đình này tên là “Hạ Kỳ Đình” – nơi xưa kia Trần Đoàn lão tổ từng đánh cờ với Tống Thái Tổ. Tống Thái Tổ đem hai vùng Hoa Âm, Hoa Huyện dưới chân núi Hoa Sơn ra làm vật đánh cược, muốn thắng Trần Đoàn, nhưng cuối cùng lại chính Thái Tổ thua trận. Trần Đoàn vốn không màng quan lộc, bèn xin Thái Tổ miễn thuế khoán cho dân chúng hai huyện.Thái Tổ vui vẻ đồng ý. Trần Đoàn lão tổ tu luyện ở Hoa Sơn, nổi tiếng với công pháp Thụy Công.

Hoa Sơn Sạn Đạo là nơi khiến du khách kinh hãi nhất. Ở giữa vách đá dựng đứng, có người đã đục một hàng lỗ nhỏ trên vách đá, cắm thanh gỗ vào lỗ, rồi đặt những tấm ván hẹp lên trên, đó chính là Sạn Đạo. Nhìn từ xa, những tấm ván giống như một dải lụa mảnh mai buộc ngang lưng vách đá. Đứng trên tấm ván, nhìn lên trên, thấy vách đá xanh nghiêng nghiêng đè xuống, che khuất cả trời đất, khiến người ta nghẹt thở. Nếu nhìn xuống dưới, càng khiến người ta rùng mình. Phía dưới không thấy đáy, mây mù dày đặc lúc đậm lúc nhạt cuộn sóng dưới chân, người ta như đang đứng trên sóng nước, nếu rơi xuống sẽ rơi vào vực sâu muôn trượng, tan xương nát thịt. Ai đến đây cũng đều sợ hãi.

Lúc này đang là tháng ba mùa xuân, gió từ nhiều hướng đổ về Hoa Sơn, xuyên qua Hoa Sơn. Đây là mùa tốt để luyện “khí” và “phong”.

Vào lúc hoàng hôn, bốn thầy trò chưa đến Sạn Đạo, đã nghe thấy tiếng gió núi rít qua tai, làn gió lạnh lướt qua mặt. Khi leo qua một tảng đá khổng lồ chọc trời, đúng lúc đứng trước gió, gió lớn thổi mạnh, cát đá bay tứ tung. Trong thung lũng như có vô số rồng lượn vòng. Gió núi cuốn cát đá đập vào vách đá xào xạc. Tiếng gió rít, tiếng cát đá đập vào nhau vang vọng trong thung lũng, chúng hợp thành một luồng âm thanh lớn, vang dội trên không trung.

Tháng ba cuối xuân này, cũng là lúc cỏ cây phương nam đang mọc. Ở sườn nam Tần Lĩnh, hoa núi đã nở rộ, cỏ xanh cây biếc. Còn phía bắc Tần Lĩnh, cỏ cây vừa mới xanh trở lại, lá non từ từ nhú ra. Tần Lĩnh giống như một bức tường thành tự nhiên, chặn luồng khí ẩm ấm từ phương nam, khí xuân ở đây lưu lại khó vượt qua núi Tần Ba. Mà Hoa Sơn lại nằm ở cuối hai dãy núi lớn, tạo thành một cửa ải tự nhiên, luồng khí ẩm ấm lớn từ cửa ải này cuồn cuộn đổ về phía bắc, tưới mát vạn vật phương bắc.

Trời có ngũ vận lục khí bát phong, khí xuân chủ trưởng cỏ cây, mộc hóa thành phong. Phương nam là hỏa, khí từ phương nam đến hỏa thịnh khí táo, cần giảm tính hỏa, khiến nó ấm mà không táo, dương chứa âm. Hoa Sơn “nằm ở phía tây trung thổ”, “khí núi nghiêm trang, thế núi uy nghi, hành kim, giờ Dậu”, luồng khí ẩm ấm từ phương nam uốn lượn giữa năm đỉnh Hoa Sơn, khí nóng táo đã tiêu tan phần lớn, khi chuyển ra khỏi núi đã trở nên mát mẻ, ẩm chứa ấm, có lợi cho sự phát triển của vạn vật. 

Bốn thầy trò đối mặt với gió núi leo lên ván gỗ, chính thức bước vào Sạn Đạo, sát vào vách đá di chuyển về phía trước. Lúc này trời đã tối, trên bầu trời treo lơ lửng vầng trăng khuyết, xung quanh là những đỉnh núi đen sẫm, dưới chân là vực sâu thăm thẳm. Gió núi đập vào vách đá, rồi xoáy ngược trở lại, đẩy người ta ra ngoài. Đôi khi từ dưới chân lại cuộn lên một luồng gió lạnh, như muốn đẩy người ta vào hư không.

Sư gia đi trước, như đang bay lượn trên không. Chỉ thấy ông động tác nhanh nhẹn, như con mèo rừng, từ chỗ này nhanh chóng di chuyển sang chỗ khác. Vương Lực Bình lần đầu tiên cảm nhận được “vần” gió của Hoa Sơn, cần hóa giải sức gió biến đổi khôn lường từ mọi phía, nắm vững thăng bằng. Hai vị sư phụ đi trên đường ván như đi trên đất bằng. Bốn người đi qua Sạn Đạo, đến một nơi bằng phẳng. Ở đây sức gió đột nhiên giảm, gió nhẹ lướt qua mặt, khiến lòng người khoan khoái. Sư gia lập tức ra lệnh ngồi thiền tại đây. Sư phụ dạy Vương Lực Bình phương pháp hô hấp, thổ nạp, đạo dẫn cần dùng khi ngồi thiền ở đây. Vương Lực Bình làm theo, lập tức cảm thấy khác biệt lớn so với lúc ngồi thiền trước đây, có một cảnh giới khác.

Sư phụ lại dạy Vương Lực Bình cách luyện phong ở Hoa Sơn, cách “hô phong”, truyền thụ cho anh bí pháp bí quyết. Cuối cùng, sư gia cũng dạy Vương Lực Bình bí pháp ngồi trên đỉnh chính của Hoa Sơn để quan sát sự biến đổi của phong vân thiên hạ.

Đỉnh Lạc Nhạn thuộc Nam Phong là đỉnh chính của Hoa Sơn. Bốn thầy trò leo lên đỉnh núi, đã là đêm khuya sao sáng, ánh trăng lặng lẽ tỏa sáng trên những ngọn núi. Trên bầu trời không một gợn mây, trong suốt như ngọc. Nhìn xuống đỉnh núi dưới chân, như được phủ một lớp khăn voan mỏng. Cây cối từng cụm bao phủ bởi quầng sáng màu xám đen, càng xa càng mờ ảo. Trên đỉnh núi có một hồ nước, tên là “Thái Thượng Tuyền”. Nước trong hồ như gương, sao trăng đều chìm xuống đáy hồ.

Bốn thầy trò ngồi thiền bên hồ, hòa làm một với sao trăng, núi sông, cỏ cây, suối trong. Bốn người mở rộng “trường” vũ trụ của bản thân ra xung quanh, dần dần bao phủ toàn bộ Hoa Sơn.

Vương Lực Bình mơ màng cảm thấy các đỉnh núi dần dần biến mất trước mắt. Trước mặt là một vùng nước trắng xóa, sau đó xuất hiện một mảnh đất. Lúc này dường như đang lơ lửng trên không trung rất cao, nhìn xuống phía dưới, thấy những vùng nước lác đác như sao trên trời, hình dáng khác nhau, kích thước không giống nhau. Giữa các vùng nước là những dải đất rộng lớn màu đen sẫm, lúc sáng lúc tối, hiện lên những ánh sáng màu sắc khác nhau, có màu vàng kim, màu xám trắng, màu đỏ máu, có nơi là sự pha trộn của nhiều màu sắc. Có nơi giống như những hố sâu đen kịt.

Một cảnh tượng khác xuất hiện, giống như đồng bằng dưới núi, không rõ ràng lắm, nhưng có thể nhận ra. Đó là một chiến trường cổ. Một bên là đội hình phương trận màu xám xịt tiến lên từ từ, khí thế hùng dũng. Trong trận dường như có cờ bay phấp phới, ngựa hí vang, xe chiến lăn bánh, ánh đao lóe sáng. Bên kia là đại quân cuồn cuộn như thủy triều, trang phục không chỉnh tề, gậy gộc, cuốc xẻng lẫn lộn, tình cảm kích động, khí thế bi tráng. Hai bên giao chiến, hỗn chiến bắt đầu, người ngựa phía trước lần lượt ngã xuống, người ngựa phía sau lại ào ạt tiến lên. Phía đội hình phương trận bắt đầu hỗn loạn, trận không thành trận. Phía “thủy triều” không thể ngăn cản, áp đảo đối phương. Bụi bay lên, tình hình chi tiết đã không còn nhìn rõ. Chỉ nghe tiếng người hò hét, tiếng ngựa hí, tiếng đao thương va chạm vang lên, không lâu sau, phía đội hình phương trận đã tan rã, phía “thủy triều” thì thế như chẻ tre. Chỉ một lát sau, nghìn quân ngựa này dường như lại chiến đấu trên không trung, có nơi đảo ngược lại, di chuyển qua lại, trôi nổi, mờ ảo, biến hóa vô cùng. Khi một làn gió mát thổi qua, tất cả những cảnh tượng này lập tức tan biến như khói.

Mờ ảo, chập chờn, trước mắt lại hiện ra một cảnh tượng khác. Núi xanh nước biếc, chim hót hoa thơm. Nơi rừng trúc che phủ, bên dòng suối chảy róc rách, lộ ra mái hiên vẽ một góc của một ngôi nhà. Có làn khói xanh nhẹ nhàng bay lên, hương thơm thấm vào lòng người. Trên sườn núi có vài cây đại long đằng, uốn lượn nhiều đốt, quanh co cổ kính. Dưới gốc đằng có một cao nhân nằm ngủ, trang phục cổ xưa, ngực trần, tóc dài rối bù, tay cầm quạt đang ngủ say sưa, ngàn năm không tỉnh.

Khoảng một giờ sau, bốn người đều thu pháp lại. Chỉ thấy bầu trời quang đãng sao sáng, bên cạnh vẫn là một hồ nước trong như gương.

Vương Lực Bình vẫn đắm chìm trong cảnh tượng vừa rồi, một cảm xúc khó tả bằng lời bỗng trào dâng.

Sư gia hỏi anh: “Có thấy Trần Đoàn lão tổ không?”

Vương Lực Bình đáp: “Có phải là vị tiên ngủ dưới gốc long đằng không?”

Sư gia cười mà không nói. Vương Lực Bình đã hiểu ý, trong lòng thầm “ừ” một tiếng.

Có lẽ có người sẽ đưa ra giả thuyết về hiện tượng trên như sau, cho rằng đây là từ trường trái đất hoặc tầng điện ly trong trạng thái hoặc tác động đặc biệt, lưu giữ hoặc ghi lại thông tin về một số sự kiện thực tế trong quá khứ, thông tin này có thể được gọi là “thông tin dư”. Khi người có công phu cao thực hiện công phu, “tần số” của họ trùng khớp với “thông tin dư” này, họ có thể bắt được hoặc kích hoạt “thông tin dư” này, khiến nó hiển thị lại cảnh tượng ban đầu.

Giả thuyết này cuối cùng đã kết nối thuật nội công cổ xưa với khoa học hiện đại, giúp thuật nội công chuyển tiếp sang khoa học cơ thể hiện đại. Tuy nhiên, giả thuyết này đúng hay sai cần được kiểm chứng.

Ở đây, trước tiên có một điểm có thể đặt ra để chất vấn, theo giả thuyết trên, từ trường trái đất và tầng điện ly chỉ ghi lại các sự kiện xã hội xảy ra vào thời điểm tương ứng trong trạng thái đặc biệt, vậy thì, thứ nhất, nhiều sự kiện xã hội trong trạng thái bình thường của từ trường trái đất và tầng điện ly sẽ không được ghi lại, điều này sẽ dẫn đến nhiều “thiếu sót” quan trọng; thứ hai, trạng thái đặc biệt của từ trường trái đất và tầng điện ly còn phải trùng khớp về không gian với sự kiện xã hội, nếu không cũng không thể thực hiện được việc ghi chép như trên. Giả thuyết này có thể giải thích một số “hiện tượng đặc biệt”, nhưng không thể giải thích được các hiện tượng xuất hiện khi các cao nhân đạo gia tu luyện, tức là khi từ trường trái đất và tầng điện ly ở trạng thái bình thường, nhưng vẫn có thể nhìn thấy các sự kiện xã hội ở thời điểm và địa điểm khác.

Có vẻ như giả thuyết cần được phát triển thêm, cần có quan niệm mới về thời gian và không gian, cần khám phá các hình thức tồn tại vật chất ở tầng sâu hơn.

Người viết cuốn sách này khi viết đến đây, tình cờ đọc được một bài viết ngắn trên trang tám của tờ Nhân Dân Nhật Báo ngày 15 tháng 7 năm 1990, trong mục “Văn Trích Hàng Tuần”, nội dung như sau:

Học giả Liên Xô Venik đề xuất –
Thuyết mới về bản chất của thời gian

Thời gian là dòng chảy vô thủy vô chung. Nó có những tính chất gì? Có ngoại diên và nội hàm như thế nào?

Gần đây, trong việc khám phá bí ẩn về bản chất bên trong của thời gian, học giả Liên Xô Venik đã đề xuất một giả thuyết hoàn toàn mới về “vật chất thời gian” và “trường thời gian”. Giả thuyết này cho rằng, vạn vật trong vũ trụ đều thuộc về vật chất thời gian, có tính liên tục của thời gian; vật chất thời gian cũng giống như bức xạ điện tử, sóng điện từ, không ngừng phát ra một loại hạt thời gian gọi là “Cronon”, nó có thể đóng vai trò là vật mang thông tin. Do đó, tất cả các vật thể đã từng xuất hiện trên thế giới đều có thể để lại dấu vết của mình dưới dạng bức xạ thời gian. Venik suy đoán rằng, các loài động vật như chim bồ câu, mèo, chó trong cuộc sống có thể tìm được đường về nhà từ xa, có thể là do bản thân chúng có giác quan cảm nhận được bức xạ thời gian.

Nếu giả thuyết “vật chất thời gian” của Venik được chứng minh, thì con người có thể thông qua việc theo dõi dấu vết thông tin thời gian để nắm bắt được bí mật của tất cả mọi người và sự vật từ xưa đến nay.

Đây lại là một giả thuyết mới mẻ.

Chúng ta có thể phân tích cơ chế ghi nhớ của bộ não con người. Kinh nghiệm của chúng ta là, những sự việc mà chúng ta tham gia bằng các giác quan như ngũ quan hoặc nói chung là đã trải qua, đều sẽ để lại ký ức trong não bộ của chúng ta. Những ký ức này có độ sâu khác nhau, thời gian lưu lại trong não bộ cũng dài ngắn khác nhau. Nhiều sự việc đã trải qua lâu ngày sẽ dần bị lãng quên. Não bộ có ghi nhớ và quên lãng, đây là một mâu thuẫn, điều này cho thấy khả năng não bộ của người thường là có giới hạn, chỉ có thể chứa được một số lượng nhất định các sự kiện để ghi nhớ. Nhưng theo nghiên cứu hiện nay về não bộ, não người có hơn 100 tỷ tế bào thần kinh, nếu tất cả đều được sử dụng để lưu trữ thông tin, thì số lượng sự kiện có thể ghi nhớ là rất lớn. Nhiều nhà khoa học cho rằng, 90% não bộ con người chưa được khai thác và phát triển, triển vọng phát triển trí tuệ của con người là rất tươi sáng.

Sau khi thuyết về giấc mơ của Freud và những người khác được thành lập, vấn đề “tiềm thức” của não bộ đã thu hút sự chú ý của mọi người. Jung tiếp tục đề xuất học thuyết về “vô thức cá nhân” và “vô thức tập thể”, đẩy nghiên cứu về lưu trữ thông tin trong não bộ và các vấn đề tinh thần của con người từ chiều ngang sang chiều dọc, tức là ý thức của con người hiện đại là sự tích lũy ý thức của con người trong quá khứ, tiềm thức hoặc vô thức này được ví như tảng băng trôi nổi trên mặt nước, chúng là phần chìm dưới mặt nước, phần này còn lớn hơn phần nổi trên mặt nước. Tiềm thức hoặc vô thức thường biểu hiện dưới dạng giấc mơ, chỉ là con người không thể hiểu được chúng mà thôi.

Điều này có nghĩa là, các sự kiện trong quá khứ đã để lại thông tin trong não bộ, tưởng chừng như đã biến mất hoặc bị lãng quên, nhưng thực tế không phải vậy. Chúng đều lặng lẽ tiềm ẩn trong não bộ, nếu không được trích xuất, hoặc không thể trích xuất, thì không thể chuyển thành ý thức hiện tại.

Đạo gia tu luyện nội công, tập trung vào “tinh, khí, thần”, khi công phu đạt đến trình độ nhất định, có thể trích xuất những thông tin tiềm ẩn này. Độc giả đã thấy ở phần trước Độc giả đã thấy ở phần trước, khi Vương Lực Bình luyện “Hồi Ấu Ức Vọng”, anh có thể nhớ lại những cảnh tượng thời thơ ấu. Còn khi luyện “Tịch Cốc”, đặc biệt là lúc “chết giả”, trong thời gian rất ngắn, toàn bộ cuộc đời đều hiện ra một lần nữa. Lúc này, sự lãng quên không còn tồn tại, mà ký ức đạt đến mức độ hoạt động chưa từng có.

Đây là chỉ xem xét việc lưu trữ, ghi nhớ và quên lãng thông tin trong bộ não nhỏ bé của con người. Vậy nếu xem xét vũ trụ lớn từ góc độ “thiên nhân hợp nhất”, tình hình sẽ như thế nào? Có thể khẳng định rằng, tình hình là giống nhau. Trong vũ trụ, một hình thức tồn tại chuyển đổi thành một hình thức khác, dù chuyển đổi như thế nào, nó cũng sẽ để lại thông tin, lưu lại những thông tin này trong một số “kho thông tin” tương tự như của con người. Và từ việc có hình dạng cụ thể đến việc để lại thông tin, bản thân nó cũng là một sự chuyển đổi. “Kho thông tin” chắc chắn là có, nhưng là núi, là nước, là người, v.v., hiện tại chưa thể nói rõ, có lẽ mỗi vật thể tự nhiên đều là một kho thông tin. Những thông tin này tồn tại ở đó, người thường không thể trích xuất bằng ngũ quan, nhưng người tu luyện thì có thể hoặc có khả năng trích xuất được.

Đây cũng là một “giả thuyết”, nhưng giả thuyết này được hỗ trợ bởi thực tiễn tu luyện của Đạo gia, là nền tảng có nhiều triển vọng để phát triển thành một hệ thống lý thuyết mới hoàn chỉnh.

Vương Lực Bình sau khi trải qua quá trình tu luyện hệ thống công pháp nghiêm ngặt của Đạo gia, hiện tại anh đã đạt đến một trình độ mà vũ trụ mà anh sở hữu, cảm nhận và suy nghĩ đã hoàn toàn khác biệt so với người thường. Người thường khi đến một nơi mới, họ sẽ quan sát bề ngoài của môi trường xung quanh, nhiều nhất cũng chỉ là khảo sát khoa học thông thường về sinh thái, khí hậu, thủy văn, địa chất để xác định xem nơi đó có thuận lợi cho cuộc sống, công việc, học tập, giải trí, xây dựng, mở nhà máy, khoan giếng, khai thác mỏ, v.v. hay không. Nhưng Vương Lực Bình đi sâu hơn một bậc, anh muốn cơ thể mình “cảm nhận” trời đất, nắm bắt những yếu tố vi tế hơn để xác định ảnh hưởng của nơi này đối với cơ thể và hoạt động của con người, cuối cùng mới quyết định nơi này phù hợp với những gì và không phù hợp với những gì.

Đây chính là sự khác biệt giữa người đã đạt đến trình độ “thiên địa nhân” với người vẫn còn ở mức “nhân sự vật”.

Đây là nơi mà những người đạt đến trình độ này khác biệt so với những người vẫn còn ở mức độ thấp hơn.

Sau khi bốn thầy trò thu công không lâu, trời đã hừng sáng, ánh sáng ban mai nhạt nhòa dần vẽ nên những đường nét rõ ràng của núi xa cây gần. Dãy núi vẫn dịu dàng và yên tĩnh như thế. Đứng trên đỉnh cao, thậm chí không cảm nhận được một chút bóng gió nào.

Đối diện với cảnh núi non này, Đạo nhân Vô Cực không khỏi nhớ đến bài thơ của Tần Quan đời Tống:

Âm phong nhất dạ nhiễu thanh minh,
Phong định phi phi tuyết tiễn linh.
Tưởng kiến Ngọc Thanh chân cảnh thượng,
Bạch hư quang lý tụng Hoàng Đình.

Bốn thầy trò đến đỉnh Ngọc Nữ thuộc Trung Phong, kịp lúc mặt trời chưa mọc, lại ngồi thiền ở đây, lặng lẽ cảm nhận những biến đổi vi diệu của bốn ngọn núi xung quanh.

Vương Lực Bình tập trung lắng nghe, dường như nghe thấy núi đang thở, đang rung động nhẹ nhàng. Xung quanh là một sự yên tĩnh, nhưng lại đang vận hành âm thầm, không hề tĩnh lặng. Trời và đất kết nối chặt chẽ đến vậy, con người và núi hòa quyện sâu sắc đến vậy, mọi thứ trong vũ trụ đang thực hiện một cuộc trao đổi bí ẩn, một cuộc đối thoại không lời, những điều tốt đẹp và xấu xa cùng được ấp ủ, thiện và ác cùng được sinh ra. Vương Lực Bình đang cảm nhận nó, nắm bắt nó, anh muốn trong sự yên tĩnh này nhìn thấy những biến đổi lớn lao.

Anh nhìn thấy trên các đỉnh núi xung quanh, có một lớp sương núi mỏng nhẹ như mây, như sương, như khói, như ánh sáng, đang nhẹ nhàng trôi nổi và bay lên. Khi lớp sương này vừa bốc lên, trong trẻo, nhạt nhòa, mang lại cảm giác mát mẻ, thoáng đãng. Khi nó bay lên, dần dần trở nên hơi đục và mờ, tối và dày đặc hơn. Khi bay lên cao hơn, sắp rời khỏi núi, lớp sương dày và tối này đột nhiên lẫn với ánh sáng đỏ thẫm và tím xanh.

Trên không trung không một chút gió, nhưng đám mây khói lúc sáng lúc tối bao phủ trên đỉnh núi, như bị thứ gì đó xua đuổi, nhảy nhót, chen lấn, vướng víu, lăn qua lăn lại, uốn lượn, kéo dài, hỗn loạn, muôn hình vạn trạng.

Vương Lực Bình cảm thấy trong lòng cũng có một nỗi buồn man mác nhẹ nhàng rung động. Đạo nhân Vô Cực đã quan sát từ lâu, ông khép mí mắt lại, giữa chân mày như có một đám mây buồn thoáng qua.

“Tứ tượng bất hòa, sơn khí bất tường, thiên hạ phân loạn, nhất thời nan đắc thanh bình.” Đạo nhân Thanh Hư giải thích.

Đạo nhân Thanh Tịnh hỏi Vương Lực Bình: “Đã hiểu chưa?”

Vương Lực Bình biết sư phụ đang nói gì, gật đầu.

Lúc này, một tiếng còi dài xé toang sự yên tĩnh của bình minh, một đoàn tàu hỏa phun hơi trắng ầm ầm chạy qua dưới chân núi. Đêm Hoa Sơn đã kết thúc.

Phía đông chân trời lộ ra ánh sáng đỏ, mọi thứ đã rõ ràng. Biển mây cuộn sóng, mênh mông bát ngát, một vầng mặt trời đỏ như máu nhảy lên nơi giao nhau giữa trời và mây, mang lại một vẻ đẹp bi tráng.

Cổng đạo xưa nằm ngay dưới tầm mắt, dòng Hoàng Hà bất tận vội vã chuyển hướng đông. Hoàng Hà vẫn chưa thể mang đi những nỗi khổ đau của thế gian. Cổng đạo từng trải qua nhiều nỗi lo âu vẫn đứng sừng sững bên cạnh nó.

Sau khi quan sát gió đêm qua và khí sáng nay, đối diện với núi non sông nước này, cảnh tượng này, Đạo nhân Vô Cực cảm thán về sự mênh mông của nhân thế, sự hưng thịnh và suy tàn của thế sự, không khỏi nhớ đến một bài từ cổ, liền ngâm lên:

Phong loan như tụ,
Ba đào như nộ,
Sơn hà biểu lý tiền mộ lộ.

Vọng Tây đô,

Ý cước lạc.

Thương tâm Tần Hán kinh hành xứ,

Cung khuyết vạn vấn đô tác liễu thổ.

Hưng, bách tính khổ.

Vong, bách tính khổ.

Một khúc ngâm xong, bốn thầy trò liền xuống núi mà đi.

Bốn người men theo sườn bắc Tần Lĩnh đi về phía tây, tránh những thành phố náo nhiệt, chỉ đi đường núi, thỉnh thoảng cũng qua các làng núi. Những người dân làng mà họ gặp đều chất phác, hào sảng, mang đậm phong cách cổ xưa.

Đạo nhân Vô Cực khi trở lại nơi này, không khỏi nhớ lại cảnh tượng khi Tổ sư ngày xưa tu chân truyền đạo ở vùng này, nhớ đến bài thơ “Cựu Du” trong tập “Phê Khê Tập” của Khâu Tổ, liền nhẹ nhàng ngâm lên:

Tần Xuyên Vị Thủy hảo hành trình,

Bất vấn trường đình cập đoản đình.

Tây Nhạc vân khai tiên chưởng bạch,

Nam Sơn vũ quá Phật đầu thanh.

Đan tiêu phảng phất thư thần thái,

Bích u tham sai liệt họa bình.

Hải thượng giao bằng văn ngã đạo,

Hư tâm trắc nhĩ tận lai thính.

Chỉ vài ngày sau, bốn người đã đến núi Chung Nam.

Chung Nam còn gọi là Nam Sơn, cũng gọi là Địa Phế Sơn, tên cổ là Thái Ất, Trung Nam, Chu Nam, thời Tần Là một trong những ngọn núi chính của dãy Tần Lĩnh, là một trong những vùng đất phúc của Đạo gia. “Tây Vực Ký” ghi rằng ngọn núi này bắt nguồn từ Lư, kết thúc ở Quan Trung, nên gọi là Chung Nam. Có các thắng cảnh như Nam Sơn, Kim Hoa Động, Ngọc Tuyền Động, Nhật Nguyệt Nham, v.v.

Chung Ly Tử, Lã Động Tân, Lưu Hải Thiềm, Vương Trùng Dương đều tu đạo ở đây.

Nhà thơ lớn đời Đường Vương Duy có bài “Chung Nam Sơn” miêu tả sự u tịch của nó:

Thái Ất cận thiên đô,

Liên sơn đáo hải ngung.

Bạch vân tứ vọng hợp,

Thanh song nhập khán vô.

Phân dã trung phong biến,

Âm tình chúng chủng thù.

Dục đầu nhân xứ túc,

Cách thủy hà tiều phu.

Từ Chung Nam Sơn đi tiếp về phía tây, đến Lâu Quán thuộc huyện Chu Chí, đây là thắng cảnh nổi tiếng của Đạo giáo. Theo “Lâu Quán Bản Khởi Truyện” ghi chép: “Lâu Quán là nơi ở cũ của Quan Lệnh Doãn, đại phu thời Chu Khang Vương, ông dùng cỏ kết thành lầu, quan sát sao và khí, nên gọi là Lâu Quán.”

Đây là cung quán sớm nhất của Đạo giáo, qua các đời đều được tu sửa hoặc xây dựng lại.

“Sử Ký” ghi rằng:

Lão Tử tu đạo đức, học vấn của ông lấy việc ẩn dật không danh làm chính. Ông ở lâu tại Chu, thấy Chu suy yếu, bèn bỏ đi. Đến cửa ải, Quan Lệnh Doãn Hỉ nói: “Ngài sắp ẩn cư rồi, xin hãy viết sách cho tôi.” Do đó, Lão Tử viết sách gồm hai thiên, nói về ý nghĩa của đạo đức với hơn năm nghìn chữ rồi đi, không ai biết ông đi đâu.

Tương truyền, Lão Tử, người được coi là tổ sư của Đạo gia, đã giảng kinh và viết cuốn “Đạo Đức Kinh” được mệnh danh là “Vua của muôn kinh” tại Lâu Quán.

“Đạo Đức Kinh” còn được gọi là “Lão Tử”, gồm hai phần, phần trên gọi là Đạo Kinh, phần dưới gọi là Đức Kinh, toàn bộ cuốn sách được chia thành 81 chương.

Cuốn “Lão Tử” có văn phong súc tích, giản dị, nhưng những đạo lý được trình bày lại vô cùng sâu sắc và phong phú. Theo các tài liệu lịch sử, vào thời Tiên Tần, cuốn sách này đã được lưu truyền rộng rãi, nhiều nhà tư tưởng nổi tiếng đã quen thuộc với cuốn sách và chấp nhận tư tưởng của nó. Trong những năm tháng sau đó, ảnh hưởng của cuốn “Lão Tử” càng trở nên rộng lớn và sâu sắc hơn, từ các nhà chính trị, quân sự, triết học, khoa học, văn học, y học, từ vua chúa đến thường dân, không ai là không biết đến Lão Tử và cuốn “Lão Tử”. Những người biết đọc sách đều đọc cuốn sách này, thấu hiểu những đạo lý sâu sắc được chứa đựng trong từng câu chữ; những người không biết chữ cũng từ những câu nói nổi tiếng trong cuốn “Lão Tử” đã trở thành ngôn ngữ hàng ngày, hấp thụ tinh hoa, cảm nhận đạo lý vận hành của trời đất, hiểu rõ căn bản của việc làm người.

“Lão Tử” đã hòa tan vào dòng máu văn hóa Trung Quốc, bén rễ vào tâm hồn người Trung Quốc.

Nhà tư tưởng hiện đại Lỗ Tấn từng nói: “Trung Quốc rất hòa hợp trong Đạo giáo.” (“Tuyển tập Lỗ Tấn” tập 4 trang 378) Chỉ những người thực sự hiểu văn hóa Trung Quốc mới có thể nói ra điều này.

Có một người tên là Trương Mặc Sinh, biên soạn cuốn “Lão Tử Chương Câu Tân Thích”, xuất bản năm 1946 bởi Nhà xuất bản Đông Phương, năm 1988 Nhà sách Cổ tịch Thành Đô lại in lại theo bản này, trong phần “Tựa” của cuốn sách có viết:

Trung Quốc có hai cuốn sách đáng chú ý nhất: một là “Luận Ngữ” của Nho gia, hai là “Lão Tử” của Đạo gia. Hai cuốn sách này, những người biết đọc chữ đều nên đọc; không phải chỉ những học giả chuyên môn mới có thể nghiên cứu. Bởi vì “Luận Ngữ” nói về những đạo lý bình dị trong việc làm người và quản lý công việc; còn “Lão Tử” nói về nguyên lý cao nhất của việc làm người và quản lý công việc. Một là lẽ đương nhiên của sự việc, một là nguyên nhân sâu xa của sự việc. Chúng ta sống trên đời, từ tu thân, tề gia cho đến trị quốc, bình thiên hạ, đối với mọi lẽ đương nhiên của sự việc, không chỉ cần biết lẽ đương nhiên, mà còn nên biết nguyên nhân sâu xa. Như vậy mới có thể coi là một người thông suốt. Hai cuốn sách “Luận Ngữ” và “Lão Tử” chính có hai công dụng lớn này, vì vậy không thể không đọc.

Đạo gia tôn sùng “Lão Tử”, chính vì nó nói ra nguyên lý cao nhất của vận hành vũ trụ, làm người và trị thế.

Thời Chiến Quốc có người được gọi là “Hà Thượng Trượng Nhân”, là người đầu tiên chú giải “Lão Tử”, tức là “Lão Tử Hà Thượng Công Chương Câu”. “Hà Thượng Công Chương Câu” lấy việc dưỡng sinh làm trọng, là tác phẩm quan trọng của thuật dưỡng sinh Đạo gia.

Hãy cùng trích dẫn một vài đoạn từ “Lão Tử”:

Đạo, khả đạo, phi thường đạo; danh, khả danh, phi thường danh. Thiên, danh thiên địa chi thủy; hữu, danh vạn vật chi mẫu. Cố thường vô, dục dĩ quan kỳ diệu; thường hữu, dục dĩ quan kỳ vi. Thử lưỡng giả, đồng xuất nhi dị danh, đồng vị chi huyền. Huyền chi hữu huyền, chúng diệu chi môn.

Đạo giả, vạn vật chi áo.

Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật. Vạn vật phụ âm nhi bão dương, xung khí dĩ vi hòa.

Thiên đắc nhất dĩ thanh, địa đắc nhất dĩ ninh, thần đắc nhất dĩ linh, cốc đắc nhất dĩ doanh, vạn vật đắc nhất dĩ sinh, hầu vương đắc nhất dĩ vi thiên hạ chính.

Người pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên.

Cốc thần bất tử, thị vị huyền tẫn. Huyền tẫn chi môn, thị vị thiên địa căn. Miên miên nhược tồn, dụng chi bất cần.

Thiên chi đạo, bất tranh nhi thiện thắng, bất ngôn nhi thiện ứng, bất triệu nhi tự lai.

Phản giả, đạo chi động; nhược giả, đạo chi dụng. Thiên hạ vạn vật sinh ư hữu, hữu sinh ư vô.

Tri nhân giả trí, tự tri giả minh. Thắng nhân giả hữu lực, tự thắng giả cường.

Đại thành nhược khuyết, kỳ dụng bất tệ. Đại doanh nhược xung, kỳ dụng bất cùng. Đại trực nhược khuất. Đại xảo nhược chuyết. Đại biện nhược nột. Táo thắng hàn, tĩnh thắng nhiệt. Thanh tĩnh vi thiên hạ chính.

Tri bất tri, thượng; bất tri tri, bệnh. Phù duy bệnh bệnh, thị dĩ bất bệnh.

Tín ngôn bất mỹ, mỹ giả bất tín. Thiện giả bất biện, biện giả bất thiện. Tri giả bất bác, bác giả bất tri.

Giang hải sở dĩ năng vi bách cốc vương giả, dĩ kỳ thiện hạ chi, cố năng vi bách cốc vương. Thị dĩ dục thượng dân, tất dĩ ngôn hạ chi; dục tiên dân, tất dĩ thân hậu chi.

Thiên hạ chi chí nhu, trì sính thiên hạ chi chí kiên.

Trị quốc đại, nhược phanh tiểu tiên.

Thánh nhân vô thường tâm, dĩ bách tính tâm vi tâm.

Dân chi nan trị, dĩ kỳ thượng chi hữu vi, thị dĩ nan trị.

Tương dục hư chi, tất cố trương chi. Tương dục nhược chi, tất cố cường chi. Tương dục phế chi, tất cố cử chi. Tương dục đoạt chi, tất cố dữ chi. Thị vị vi minh. Nhu thắng cương, nhược thắng cường. Ngư bất khả thoát ư uyên, quốc chi lợi khí bất khả dĩ thị nhân.

Chấp đại tượng, thiên hạ vãng. Vãng nhi bất hại, an bình thái.

Bốn thầy trò trong đạo quán đã bái lạy linh vị của Thái Thượng Lão Quân, lại ở Thuyết Kinh Đài đọc thầm một lần “Đạo Đức Kinh”. Từ Thuyết Kinh Đài đi sâu vào trong, ở cửa khe Vấn Tiên, dưới vách đá có một hang đá sâu và rộng. Sư gia nói với Vương Lực Bình, đây là Lữ Tổ Động.

Lữ Động Tân, tên là Đảo, hiệu là Thuần Dương Tử, là một trong Bát Tiên được lưu truyền rộng rãi trong dân gian. Thuở nhỏ học Nho Mặc, thi đỗ Tiến sĩ không đỗ, bèn lang thang khắp nơi. Ở Trường An gặp Chung Ly Tử, trải qua mười lần thử thách mà được truyền thụ thuật kéo dài tuổi thọ. Sau lại gặp Khổ Trúc Chân Quân, được truyền pháp giao bái nhật nguyệt. Lâu ngày, du ngoạn Chung Nam Sơn, lại gặp Chung Ly Tử, được công phu đại đan kim dịch. Năm năm mươi tuổi, đạo mới thành. Hơn trăm tuổi mà mặt mày trẻ trung, bước đi nhẹ nhàng nhanh nhẹn, trong chốc lát đi được mấy trăm dặm.

Lữ Tổ ở trong hang động Lâu Quán này chuyên tâm tu đạo, toàn thần luyện khí, tham ngộ huyền lý, cuối cùng đạt được thể chất thuần dương. Ông đã sáng tạo nhiều phương pháp mới trong tu luyện. Một phần trong số các công pháp này được truyền bí mật trong phái Long Môn, còn một phần khá lớn chưa được truyền thụ, Lữ Tổ đã biên soạn thành sách, cất giấu ở các động thiên phúc địa.

Lữ Tổ từng gặp Hỏa Long Chân Nhân, được truyền thụ kiếm pháp thiên đạo. Lữ Tổ cải biến kiếm thuật thành “Nhất đoạn phiền não, nhị đoạn sắc dục, tam đoạn tham sân”, lại cải biến thuật đan thiên và hoàng bạch thành nội công, lấy từ bi độ thế làm con đường thành đạo. 

Ông từng nói: “Người nếu có thể trung với nước, hiếu thuận với gia đình, tín nghĩa với bạn bè, nhân từ với kẻ dưới, không khinh thường tự tâm, không lừa dối nơi tối tăm, lấy phương tiện giúp đỡ người khác, lấy âm chất cách trời, người yêu mến, quỷ thần kính trọng, tức là một niệm này đã cùng ta đồng, tuy không thấy ta, cũng như thấy ta vậy.” (Trích dẫn từ “Trung Quốc Đại Bách Khoa Toàn Thư” quyển Tôn giáo)

Một phần quan trọng của “Linh Bảo Thông Trí Năng Nội Công Thuật” trong bí pháp Toàn Chân, chính là “Tự Nhiên Hoán Khí Pháp”, được Lữ Tổ sáng lập khi du ngoạn vạn dặm ở Chung Nam Sơn.

Tu luyện “Tự Nhiên Hoán Khí Pháp”, yêu cầu người tu luyện phải kết hợp chặt chẽ giữa tâm, thần, khí, ý, tinh, trong quá trình vận hành có quy luật, tiến hành tu luyện vũ trụ bản thân. Khi tu luyện công pháp này, người tu luyện giữ tư thế đi bộ thư giãn tự nhiên, ý niệm thì tâm thần hợp nhất, ta là vũ trụ, vũ trụ vạn biến, vạn vật tất động, động mà sinh linh, thân thể là động hành, ý niệm là thu phóng, trong động tìm tĩnh, trong tĩnh sinh thần, tâm thần tương hợp, khí ý tương y, linh quang vạn biến.

Phương pháp tu luyện “Tự Nhiên Hoán Khí Pháp” khác biệt cơ bản so với việc đi bộ tự nhiên, đi dạo của người thường. Người thường đi bộ tự nhiên không thêm ý niệm, tâm thần quy về ngoài thân, tâm, thần, ý, khí, hành không tương hợp, tức là không làm “công”, tâm tán thần bay, tương đương với lãng phí, người ta thường nói: “Sau bữa ăn đi bộ trăm bước, sống đến chín mươi chín tuổi.” Cũng chỉ khi tâm trạng thoải mái tự nhiên, gần với trạng thái làm công, kiên trì lâu dài, mới có thể đạt được hiệu quả.

“Tự Nhiên Hoán Khí Pháp” thì nhấn mạnh sự kết hợp chặt chẽ giữa hình thể vận động với tâm, thần, ý, khí, tinh, nhấn mạnh việc tiểu vũ trụ hòa làm một với đại vũ trụ, thông qua tu luyện có quy luật, phân bước, đạt đến thành quả cao hơn.

Người tu luyện “Tự Nhiên Hoán Khí Pháp” thành thục, có thể tùy lúc mở rộng hoặc thu nhỏ “trường” vũ trụ bản thân và linh tín nhân thể, kết hợp, hấp dẫn, đẩy lùi, phân tách, tách rời, đối lập, kế thừa, xâm phạm, hướng tới với trường vũ trụ tự nhiên và linh vạn vật tự nhiên, sử dụng đồng thời tâm, thần, ý, khí, hành, nhân thể vũ trụ đồng hóa với thiên thể vũ trụ. Người tu luyện thông qua phương pháp này, có thể thu phóng linh chất của vạn vật để chẩn bệnh trị bệnh cho người khác, truyền linh chỉ đường, bố khí phân cục, hành lân đới công.

Người lao động trí óc thường là thần không thuộc về mình, chí không quy về mình, tinh không theo sức, thể không do tâm. Lâu ngày thì “tinh bại khí suy, thần chi vong thời”. Tu luyện “Tự Nhiên Hoán Khí Pháp” thì có thể “tâm thần tương hợp, sinh thần quy tâm, tâm phóng thần chí, thần thánh tâm quy, tinh mãn thần vượng, thần vượng khí quy”, mà đạt được mục đích điều tức dưỡng thần, kiện não ích trí, trừ bệnh bảo kiện, kéo dài tuổi thọ.

“Tự Nhiên Hoán Khí Pháp” chia làm ba thừa chín pháp hoặc gọi là ba bộ chín pháp.

Bộ thứ nhất: Pháp trừ bệnh kéo dài tuổi thọ, khỏe mạnh an lạc. Chia làm ba pháp: Hành bộ thổ nạp pháp; Hành bộ bế khí pháp; Hành bộ nạp chất pháp.

Bộ thứ hai: Pháp vạn vật hoàn bản, vũ trụ trường sinh. Chia làm ba pháp: Hành bộ thổ chất pháp; Hành bộ bố khí pháp; Hành bộ phân cục pháp.

Bộ thứ ba: Pháp kinh vĩ thông biến, thiên nhân đồng hóa. Chia làm ba pháp: Hành bộ bế quyết thông kinh pháp; Hành bộ truyền linh pháp; Hành bộ ẩn thân pháp.

Đây lại là ba tầng “thiên, địa, nhân”, quá trình phát triển từ thấp lên cao.

Sinh và tử, tử và sinh, quy túc và vĩnh hằng, từ xưa đến nay là chủ đề chính mà Đạo gia khám phá.

Là một cá nhân, đối với sự sinh ra của chính mình, anh ta không thể lựa chọn cũng không thể nắm bắt; đối với cái chết không thể tránh khỏi chắc chắn sẽ đến, anh ta cũng tỏ ra bất lực; trong khoảng giữa sinh và tử là “sống”, anh ta dường như tỉnh táo, có một chút tự do, nhưng thực tế anh ta bị chi phối bởi nhiều lực lượng ngoại lai, trước những lực lượng này, anh ta vẫn nhỏ bé, yếu đuối, bất lực, anh ta không thể làm chủ vận mệnh của chính mình.

“Thiên, địa, nhân”, con người nằm trong trời đất. “Sinh, sống, chết”, sống nằm giữa sinh và tử. Sinh và tử tạo thành hai cực của đời người, con người đối với “sống” cảm nhận nhiều nhất, biết nhiều nhất, nhưng đối với hai cực của “sống” là sinh và tử, thời gian cảm nhận ngắn nhất, biết rất ít.

Đạo gia đối với ba yếu tố “sinh, sống, chết” của đời người đều nỗ lực thảo luận, và độ sâu cũng như phạm vi thảo luận đều vượt xa khả năng tưởng tượng của người thường.

Tại sao con người sinh ra? Tại sao lại sinh ra “tôi” tại thời điểm không gian thời gian đó? Trong khoảnh khắc sinh ra đã xảy ra những thay đổi gì, nó ảnh hưởng như thế nào đến “sống” sau này?

Tại sao con người lại chết? Cảm nhận của con người trong khoảnh khắc chết như thế nào? Đã xảy ra những thay đổi gì? Sau khi chết, con người có còn tồn tại dưới hình thức nào đó không? Cái chết có phải là sự kết thúc cuối cùng của con người không?

Đây là sinh và tử.

Con người chết đi, có thể tái sinh không? Nếu nói rằng có người chết trong thời gian ngắn, sau khi được cứu chữa lại sống lại, điều này là có thể. Vậy nếu thời gian chết kéo dài hơn, một năm hai năm, mười năm hai mươi năm, người đó có thể sống lại không? Tiến thêm một bước nữa, nếu người đó chết, hình dạng ban đầu không còn tồn tại, liệu họ có thể tái sinh dưới hình thức khác không? Điều này có khả thi không?

Đây là tử và sinh.

Con người có thể không chết không? Hoặc dù có chết nhưng có thể sống lâu hơn. Người thường cho rằng điều này có thể. Nhưng vượt qua một giới hạn thời gian, ví dụ như sống một trăm năm, hai trăm năm, ba trăm năm, hoặc thậm chí lâu hơn, điều này có khả thi không? Ngoài ra, việc sống vượt qua không gian thời gian có thể thực hiện được không?

Đây là sinh tử hoạt.

Đây là những băn khoăn của hạ tam giới. Vậy nếu nhìn từ trung tam giới, loài người đến từ đâu? Loài người có thể tuyệt chủng không? Tương lai của loài người sẽ đi về đâu? Nhìn xa hơn nữa, sự sinh tử của Trái Đất, Hệ Mặt Trời như thế nào? Sự sinh tử của vũ trụ như thế nào?

Đưa những vấn đề này tiến thêm một bước, trong phạm vi kiến thức của người thường sẽ không thể chấp nhận, và cho rằng đó là điều hoang đường.

Nhưng Đạo gia không bị ràng buộc bởi những điều này, họ không chỉ đặt ra những câu hỏi sâu sắc hơn, mà còn sử dụng chính cơ thể mình làm đối tượng thí nghiệm, khám phá xem có khả năng đó hay không.

Họ tin tưởng vững chắc rằng nền tảng triết học thiên nhân hợp nhất của Đạo gia không hề sai lầm. Họ tin tưởng rằng những chân lý vũ trụ được tiết lộ trong “Lão Tử”, “Kinh Dịch” và phương pháp, con đường nhận thức những chân lý này không hề sai.

Điều này đã mang lại cho họ trí tuệ lớn và lòng dũng cảm lớn.

Bất kể xã hội phát triển như thế nào, trong mắt mọi người, trời đất vẫn là trời đất, mặt trăng mặt trời vẫn là mặt trăng mặt trời, trong sự biến đổi tồn tại sự vĩnh hằng. Sinh, giống như một bí ẩn vĩnh cửu, làm phiền chúng ta, cũng làm phiền người xưa; tử, giống như một bóng ma không thể xua đuổi, ám ảnh trong lòng chúng ta, cũng ám ảnh trong lòng người xưa.

Ngày nay, chúng ta sử dụng các loại dụng cụ để nghiên cứu vấn đề sinh tử, còn Đạo gia thì sử dụng cơ thể người để nghiên cứu cơ thể người, sử dụng phương pháp tự nhiên để nghiên cứu tự nhiên. Hai cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu vấn đề này: cách nào gần hơn với bản chất của cơ thể và vũ trụ?

Quay trở lại cơ thể mẹ, trải nghiệm lại một lần sinh, hiện tại không thể làm được. Nhưng khi một người được sinh ra, cảm giác từ thai nhi đến trẻ sơ sinh mà mỗi người đều trải qua, chắc chắn đã được lưu giữ trong ký ức, nhưng lại bị lãng quên một cách khó hiểu. Nếu có thể tìm ra một phương pháp, ký ức này có thể được khôi phục. Điều này có khả thi không? Đạo gia có cách khám phá và trả lời riêng của họ đối với vấn đề này.

Đối với cái chết, việc biết trước nó chắc chắn xảy ra, và trải nghiệm thực tế, là hai việc hoàn toàn khác nhau. Để có được trải nghiệm này, chỉ có cách là chết một lần.

Lữ Động Tân đã làm điều này, thực hiện một thử nghiệm lớn lao và không sợ hãi về cái chết.

Cái chết đã cho ông thấy chân lý lớn của vũ trụ.

Cái chết đã ban cho ông trí tuệ lớn.

Để biến việc thấu hiểu vũ trụ thông qua cái chết thành một quá trình tu luyện có thể thực hiện được Lữ Động Tân đã dẫn dắt các đệ tử của mình trên con đường khám phá bí mật của vũ trụ và cuộc sống, thực hiện những thí nghiệm vô cùng bi tráng. Ba nghìn đệ tử đã chết đi tám trăm, trả giá rất lớn. Kết quả thu được là vô cùng quý giá. Các công pháp đã được hệ thống hóa được truyền miệng trong phái Long Môn Toàn Chân, bí mật không tiết lộ, qua hàng ngàn năm vẫn tiếp tục không ngừng.

Tám trăm người tiên phong, họ tên là gì, đã không còn cách nào để tra cứu, nhưng hậu thế không quên công lao của họ.

Tuy nhiên, cho đến nay, phái Long Môn vẫn chưa hoàn toàn giải quyết được vấn đề chết đi sống lại. Khi Vương Lực Bình tu luyện đến mức chết trong tịch cốc, sư phụ và sư gia vẫn chưa hoàn toàn chắc chắn liệu anh có thể sống lại hay không.

Vương Lực Bình không chút do dự, bình tĩnh và tự nhiên chấp nhận thử thách. Trong lòng anh đến nay vẫn kiên định với một niềm tin: “Chỉ cần có thể hiểu rõ một việc, dù chết cũng đáng!”

Từ việc chết trong tịch cốc đến việc sống lại, điều này đã bắt đầu sự thăng hoa từ hạ tam giới “nhân sự vật” lên trung tam giới “thiên địa nhân”, con người bắt đầu bước vào một cảnh giới hoàn toàn mới.

Con đường thành công này chính là nội công thuật do Lữ Tổ sáng lập, một phần quan trọng của nội công thuật chính là tu luyện sáu đường nội công trong cơ thể người.

Người xưa nghiên cứu về cơ thể người cũng bắt đầu từ những thứ hữu hình hữu chất, sau đó mới đi sâu vào những thứ hữu hình vô chất, cuối cùng mới suy ngẫm về những thứ vô hình vô chất. Y học bắt nguồn từ vu thuật, là do người xưa được giấc mơ khơi gợi, mà liên tưởng đến việc trong và ngoài cơ thể đều tồn tại một “thế giới” bí ẩn, chúng vô hình vô chất, sâu không thể dò. Giải mã bí mật của cơ thể người trở thành công việc thiêng liêng của con người qua các thời đại.

Điều tuyệt vời của Đông y là trên cơ sở học thuyết âm dương ngũ hành, đã khám phá ra sự tồn tại của kinh lạc trong cơ thể người. Nhưng quá trình khám phá và phát hiện này, hiện tại chúng ta không thể biết được.

Người hiện đại sử dụng phương pháp khoa học vẫn không thể nhìn thấy sự tồn tại của kinh lạc trong cơ thể người. Đạo gia sử dụng hai phương pháp để nhìn thấy kinh lạc, một là khi nội công tu luyện đến một mức độ nhất định có thể nội thị, hai là sau khi tu luyện nội công, nuốt đan dược bên ngoài, có thể nhìn thấy mạng lưới kinh lạc rõ ràng trên bề mặt cơ thể người.

Vương Lực Bình trong quá trình tu luyện đã nuốt đan dược bên ngoài ba lần. Lần đầu tiên đã được giới thiệu ở phần trước. Lần thứ hai là để thực hiện thí nghiệm quan sát đường kinh lạc trong cơ thể người. Sau khi thí nghiệm kết thúc, anh ngồi vào một chậu nước lớn, trong chậu đổ nước nóng, mặt nước ngang với môi, rồi ngồi thiền trong nước. Dựa vào công lực nội công, anh từ từ đào thải đan dược trong cơ thể ra ngoài, cho đến khi trên mặt nước nổi lên đủ lượng thuốc, mới thu công ra khỏi chậu.

Còn đường nội công này là thứ còn huyền diệu hơn cả đường kinh lạc trong cơ thể người, nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc tu luyện nội công của con người.

Đường nội công trong cơ thể người chủ yếu có sáu đường.

Đường nội công trong cơ thể người chủ yếu có sáu đường.

  1. Đường thẳng dọc từ đỉnh đầu Thiên Môn đến Tiền Âm (xương mu), Tổ sư Trùng Dương gọi nó là “Đoạn Tuyến”. Người tu luyện nội công thông thường không có sự hướng dẫn của minh sư, dễ bị lệch, chính là lệch ở đường này, tẩu hỏa nhập ma cũng xảy ra ở đường này.
  2. Đường thẳng dọc từ Bách Hội đến Hội Âm gọi là “Phản Xạ Tuyến”. Khi bắt đầu luyện nó, nó nằm bên cạnh cột sống, sau đó dần dần di chuyển vào trong cột sống. Phản xạ tuyến thời xưa còn gọi là “Trung Mạch”, người tu luyện thông qua nó để nội thị. Nó lúc ẩn lúc hiện, người có nội công tinh thâm, khi dùng thì hiện, không dùng thì ẩn. Hai bên cột sống còn có hai đường mạch, gọi là tả mạch và hữu mạch.
  3. Đường thẳng ngang qua ba điểm “Thiên, Mục, Huyệt” ở đầu gọi là “Tính Tuyến”. Thiên Mục Huyệt ban đầu gọi là Thiên Tâm, còn gọi là Thiên Can. Khi mới sinh ra, giữa hai lông mày có một khe hở, sau đó dần dần khép lại, nhưng để lại một lỗ. Lỗ này tùy người mà khác nhau, có người dài, có người ngắn. “Thiên, Mục, Huyệt” thực tế nên là “Huyệt, Mục, Thiên”, “Huyệt” ở phía trước, “Mục” ở giữa, “Thiên” ở phía sau. “Huyệt” có thể châm cứu, “Thiên” có thể phản xạ, “Mục” chính là Nê Hoàn Cung. Phía sau Tính Tuyến là Ngọc Chẩm Quan.
  4. Đường thẳng ngang từ huyệt Đản Trung đến Giáp Tích Quan gọi là “Tráng Lực Tuyến”.
  5. Đường thẳng ngang đi từ rốn ra phía sau gọi là “Bảo Mệnh Tuyến”. Hai bên trái phải của đường này là hai quả thận, đây là khu vực Mệnh Môn.
  6. Đường thẳng ngang từ rốn đo xuống một tấc hai đến một tấc năm đi vào trong, đối diện với Vĩ Lư Quan, khi tu luyện có thể kéo ra một đường, đường này gọi là “Tu Mệnh Tuyến”.

Các đường Tính Tuyến, Tráng Lực Tuyến và Tu Mệnh Tuyến đi qua các vị trí có đan điền, đó là Thượng Đan Điền, Trung Đan Điền và Hạ Đan Điền. Ba đường đi qua ba đan điền, ba đường đối ứng với ba cửa (tam quan), khi tu luyện kéo ra ba đường, khí động dễ vượt qua ba cửa (tam quan).

Trong các đường này, hai đường dọc là những đường sáng có thể nhìn thấy bằng nội thị, bốn đường ngang là những con đường ẩn nhưng thực sự tồn tại. Ngoài ra, ở rìa vũ trụ cơ thể người bên ngoài, còn có hai đường không gian.

Ở cấp độ “nhân sự vật”, con người có Thượng Huyền Quan, Trung Huyền Quan và Hạ Huyền Quan. Thượng Huyền Quan chính là Thiên Mục Huyệt, còn gọi là Tổ Huyệt, Tổ Khiếu, là huyệt thông suốt thần khí qua lại. Bắc Ngũ Tổ gọi nó là “Thiên Cương Khiếu”. Vì huyệt này nằm giữa hai mắt và hai lông mày, thời xưa dùng ba điểm để biểu thị, ba điểm lần lượt đại diện cho Nhật, Nguyệt và Thiên Cương. Lữ Tổ thu nhận ba nghìn đệ tử, chết đi tám trăm, luyện ra chính là điểm này, Thiên Mục Huyệt.

Lữ Tổ nói: “Thiên Mục Huyệt là chỗ huyền diệu trong các chỗ huyền diệu, là khiếu trong các khiếu, hợp nhất đạo lý bên trong và bên ngoài. Người hiền triết thì khai mở nó, kẻ ngu muội thì đóng kín nó. Người khai mở thì trường sinh, kẻ đóng kín thì đoản mệnh.”

Lại nói: “Công dụng diệu kỳ của ‘Tồn Thành’, vẫn còn có chỗ tuyệt diệu trong cái tuyệt diệu, chính là lúc ‘buông bỏ muôn lo nghĩ’.”

Khi lên đến cấp độ “thiên địa nhân”, huyền quan có ở khắp nơi. Khi lên đến cấp độ “vũ trụ, thời gian, không gian”, Thiên Mục Huyệt không còn nằm trong thân hay ngoài thân, khi dùng sẽ tự nhiên mở ra.

Lữ Tổ nói: ” Trong tu luyện, cần phải có sự tập trung nhưng không được dính mắc, phải giữ được bản nguyện trong sáng, và phương pháp then chốt nhất chính là luôn giữ một lòng chân thành (Tồn Thành). Có như vậy, mọi sự khai mở mới thực sự bền vững..”

Thiên Mục Huyệt là con đường thần quang ra vào qua lại. Khi trong đầu người ta xuất hiện ảo giác, hình ảnh và cảm hứng một cách vô thức, hoặc khi có ý thức xây dựng một hình ảnh nào đó, họ có thể đặt ra câu hỏi liệu có thể cố định những hình ảnh trong đầu không có quy luật, không thể nắm bắt này bằng một phương pháp nào đó, biến nó thành có thể kiểm soát được không. Đạo gia chính là đi theo hướng suy nghĩ này để khám phá và thực hành, thông qua tu luyện, họ “đóng khung” những hình ảnh trong đầu này, sau đó đưa chúng ra ngoài não, quan sát rõ ràng rồi thu lại. Con đường đưa ra và thu vào này chính là Thiên Mục Huyệt.

Phương pháp luyện tập Thiên Mục Huyệt còn được gọi là “Kéo Tính Tuyến”. Cách làm là sau khi thu tâm, tĩnh tọa, điều thân, điều tức, ngẩng đầu nhìn về phía trước, từ từ thu cảnh vật ở xa bằng thần quang, thu về “Huyệt” của Thiên Mục Huyệt, sau đó thu vào trong, thu về “Mục”, rồi thu vào trong nữa, thu về “Thiên”. Sau đó đảo ngược lại, đưa thần quang nhanh chóng ra ngoài, đưa đến nơi xa tận chân trời. Lặp lại hai lần như vậy, cuối cùng thu về nơi “Thiên”. “Thiên” còn được gọi là “hậu thiên kính”, là một mặt phản xạ, thần quang từ đây phản xạ xuống.

Sau đó có thể tiến hành xây dựng hình ảnh trong não, xây dựng một cảnh, một vật, một thứ gì đó đẹp đẽ. Những thứ được xây dựng có hình nhưng không có chất. Sau đó nhắm mắt nhìn về phía trước, thực tế là dưới sự thúc đẩy của khí, đưa hình ảnh này ra ngoài thông qua Thiên Mục Huyệt. Khi bắt đầu luyện tập, không có gì, không hình không chất, không nhìn thấy gì. Về sau dần dần xuất hiện hình ảnh, cùng với sự nâng cao công lực, hình ảnh này cũng dần trở nên hoàn chỉnh, rõ ràng, và có thể di chuyển, có thể xa có thể gần, có thể lớn có thể nhỏ. Hình ảnh tuy có, nhưng khi đưa tay ra nắm bắt, lại không có gì.

Khi Tính Tuyến được kéo ra, Thiên Mục Huyệt luyện thành, có thể từ con đường này đưa hình, thu hình, đưa ánh sáng, thu ánh sáng, tư duy, tinh thần v.v. có thể chạy ra ngoài não, tiến vào vũ trụ bên ngoài thân thể, từ đó mở rộng vô hạn không gian hoạt động của tư duy và tinh thần. Lúc này, khả năng cảm nhận thế giới bên ngoài của con người sẽ khác với trước đây, có thể cảm nhận những thứ mà người thường không thể cảm nhận bằng ngũ quan, chức năng thấu thị và nội thị chính là được luyện tập ra như vậy. Đến bước này, thế giới mà người tu luyện cảm nhận sẽ rất khác so với thế giới mà người thường cảm nhận, tư duy và ngôn ngữ của hai bên cũng có sự khác biệt rõ rệt. Người tu luyện quan sát vũ trụ phong phú, hoàn chỉnh và sâu sắc hơn so với người thường, nhận thức của họ cũng gần hơn với bản chất của sự vật.

Ở cấp độ này, bốn hình thức tồn tại của vũ trụ: hữu hình hữu chất, hữu hình vô chất, hữu chất vô hình, vô hình vô chất, trong mắt người tu luyện không chỉ thực sự tồn tại, mà còn chuyển hóa lẫn nhau. Trong mắt người tu luyện, việc người thường giới hạn vũ trụ trong phạm vi cảm nhận của ngũ quan là quá hẹp, ngay cả khi họ nhờ sự trợ giúp của các thiết bị khoa học hiện đại cũng vẫn bị giới hạn trong một khuôn khổ nhỏ hẹp.

Tư duy có thể từ vô hình vô chất biến thành hữu hình vô chất, còn có thể biến thành hữu hình hữu chất. Tư duy có thể không cần dựa vào ngôn ngữ, văn tự và các phương tiện thông thường mà dựa vào “thần quang” để truyền đi, con người có thể thực hiện viễn cảm xuyên không gian thời gian.

Những điều này có khả thi không?

Chức năng đặc biệt tự phát của cơ thể người tạm thời không bàn đến, việc dựa vào phương pháp tu luyện cơ thể để tự giác đạt đến bước này, theo lịch sử của phái Long Môn Toàn Chân, ít nhất từ nghìn năm trước đã hình thành một hệ thống công pháp và thực hành hoàn chỉnh.

Văn minh nhân loại phát triển về phía trước, nhưng chỉ có một số khía cạnh tiến bộ, còn một số khía cạnh khác lại thụt lùi. Hậu thế không phải ở mọi phương diện đều vượt qua tiền nhân. Trong “Bát Tiên”, Trương Quả Lão đã thấu hiểu đạo lý này, ông luôn ngồi ngược trên lưng lừa, để không nhìn về phía trước mà nhìn về phía sau, ông ngưỡng mộ và học hỏi những người xưa có cảnh giới cao hơn và thành tựu lớn hơn.

Bốn thầy trò ngồi thiền trong Lữ Tổ Động, trải nghiệm vị trí của Hạ Đan Điền trên cơ thể người ở nơi này. Sau vài ngày quan sát và trải nghiệm, cả bốn người đều cảm nhận rõ ràng rằng Tu Mệnh Tuyến đã từ từ đi lên, ổn định ở vị trí dưới rốn khoảng một tấc ba. Khi tu luyện ở Phủ Thuận, Hạ Đan Điền cần phải xuống thấp hơn một chút. Vương Lực Bình đã thấu hiểu mối quan hệ tương ứng giữa cơ thể người và Trái Đất. Anh càng thấu hiểu rằng, triết lý “thiên nhân hợp nhất” quá sâu sắc, sử dụng phương pháp tu luyện là con đường đơn giản để giải mã bí mật của cơ thể người và vũ trụ.

Trong những ngày ở Lâu Quán, Vương Lực Bình đã tham gia một buổi học lớn, người thầy tôn kính chính là Lão Tử và Lữ Tổ. Vương Lực Bình đã có sự thấu hiểu sâu sắc hơn về đạo.

Đạo, đây là báu vật tối cao của vũ trụ và cuộc sống con người.

Chương 13: Thiên Ngoại Hữu Thiên

Bốn thầy trò rời Lâu Quán, vượt qua Tần Lĩnh, lội qua sông Hán, đi xuyên qua dãy núi Mễ Thương, tiến vào lòng chảo Tứ Xuyên.

Dọc đường núi cao sông sâu, đường đi hiểm trở, nhưng đối với bốn người đều không thành vấn đề. Nhìn thấy núi non trùng điệp, thác nước đổ ào ào, cây khô đổ ngược, chim hót vượn kêu, như đang đứng giữa chốn thế ngoại, bốn người cảm thấy vô cùng vui vẻ.

Sau khi vào Tứ Xuyên, họ vẫn đi dọc theo vùng núi xung quanh lòng chảo về hướng tây nam, chỉ vài ngày sau đã đến được Thanh Thành.

Núi Thanh Thành nằm ở phía tây nam huyện Quán, Tứ Xuyên, vì núi xanh bao bọc bốn phía, hình dáng giống như thành quách, nên có tên như vậy. Hoàng Đế phong cho ngọn núi này là Ngũ Nhạc Trượng Nhân, nên còn có tên là Trượng Nhân Sơn. Đây là một trong mười động thiên lớn của Đạo gia, được gọi là Bảo Tiên Cửu Thất Động Thiên. Các vị thần tiên qua các triều đại như Trương Đạo Lăng, Phạm Trường Sinh, Tôn Tư Mạc, Đỗ Quang Đình đều từng ẩn tu tại đây. Bốn người đã tham quan qua Trượng Nhân Quán, Trường Sinh Quán, Thiên Sư Động, Bạch Vân Khê, nhưng không gặp được đạo hữu nào, nên rời Thanh Thành, đi về hướng núi Nga My.

Nhìn từ xa, núi Nga My xanh biếc, sương mù mờ ảo, bao trùm một bầu không khí thần bí và linh thiêng.

Núi Nga My kéo dài từ dãy núi Miên Sơn, nổi bật với ba ngọn núi xinh đẹp và hiên ngang là Đại Nga, Trung Nga và Tiểu Nga, khí thế phi phàm. Vì địa thế núi uốn lượn như đầu rắn và lông mày người thiếu nữ, mảnh mai và dài, đẹp đẽ và quyến rũ, nên có tên như vậy. Núi Nga My là một trong ba mươi sáu động thiên của Đạo gia, được gọi là “Hư Linh Động Thiên”, “Linh Lăng Thái Diệu Thiên”. Đồng thời, đây cũng là một trong bốn ngọn núi nổi tiếng của Phật giáo, được gọi là “Quang Minh Sơn”.

Bốn người đi theo con đường lên núi, đến các ngôi chùa đều thấy cảnh tượng bị tàn phá, hương khói tắt lịm, tăng nhân bỏ đi, chùa chiền trống vắng, cảnh tượng hỗn loạn. Ba vị lão nhân nhìn cảnh vật mà đau lòng.

Sư gia nói với Vương Lực Bình rằng, Nga My là thánh địa của Phật giáo, toàn núi có hàng trăm ngôi chùa lớn nhỏ. Ngọn núi này là đạo tràng ứng hóa của Bồ Tát Phổ Hiền nổi tiếng trong Phật giáo. Trong các ngôi chùa có nhiều cao tăng thiền sư, có căn cơ và ngộ tính, tu dưỡng Phật học rất sâu. Trước đây, ông từng dẫn Thanh Tịnh và Thanh Hư du ngoạn đến đây, cùng phương trượng bàn luận Phật pháp và đạo lý, học hỏi lẫn nhau, rất tâm đầu ý hợp. Bây giờ tai họa ập xuống, không biết các vị đại sư đã đi đâu, có an toàn hay không.

Từ khi Toàn Chân được thành lập, đã xóa bỏ quan niệm giáo phái, chủ trương Nho, Đạo, Thích tam giáo hợp nhất. Trong các kinh điển Đạo gia về sau đã đưa vào nhiều từ ngữ của Phật giáo. Đạo và Thích đều là văn hóa phương Đông, lý lẽ giống nhau, phương pháp tương thông, càng lên cao thì sự khác biệt càng nhỏ.

Đã đến đất Phật, sư gia liền dạy Vương Lực Bình một số kiến thức về Phật học, để mở đường cho anh nghiên cứu sâu hơn sau này.

Phật là tên gọi tắt của Phật Đà, được phiên âm từ tiếng Phạn, có nghĩa là người giác ngộ. Giác ngộ có ba nghĩa: tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn. Người có đủ ba giác ngộ này được gọi là Phật. Thành Phật tức là giác ngộ rõ ràng về mọi thứ trong vũ trụ và cuộc sống. Phật là bậc cao nhất trong Tứ Thánh của Phật giáo.

Phật giáo được thành lập cách đây hai nghìn năm trăm năm ở Ấn Độ, người sáng lập là Thích Ca Mâu Ni, có nghĩa là “Thánh nhân của dòng họ Thích Ca”.

Thích Ca Mâu Ni xuất thân từ hoàng tộc, là một hoàng tử tuấn tú, lại có vợ con, giàu sang phú quý, công danh lợi lộc, hạnh phúc gia đình, đều có đủ. Nhưng ông biết rằng tất cả những điều này chỉ là hiện tượng tạm thời, cuối cùng sẽ biến mất, không thể vĩnh viễn. Ông muốn tìm hiểu nguyên nhân và đạo lý đằng sau, tìm kiếm một con đường có thể loại bỏ mọi phiền não và đau khổ để siêu thoát sinh tử. Vì vậy, ông từ bỏ giàu sang, danh lợi, quyền lực, tình yêu thương – những thứ khiến người thường day dứt, xuất gia tu hành năm 29 tuổi, trải qua nhiều khổ hạnh. Sáu năm sau, cuối cùng dưới gốc cây bồ đề, ngồi kiết già, tĩnh tâm suy ngẫm, giác ngộ thành đạo.

Phật Đà có thuyết “Tứ Đế”. Đế tức là chân lý, Tứ Đế tức là Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Niết Bàn là cảnh giới lý tưởng cao nhất đạt được qua tu tập.

Sau khi Phật Đà qua đời, Phật giáo lan rộng ra xung quanh, nội bộ chia thành nhiều phái, chủ yếu là Thượng Tọa Bộ Phật giáo và Đại Chúng Bộ Phật giáo. Sau này, Đại Chúng Bộ Phật giáo lại chia thành Đại Thừa Phật giáo và Tiểu Thừa Phật giáo. Tiểu Thừa Phật giáo chủ trương thông qua tu tập cá nhân để đạt đến cảnh giới La Hán, siêu thoát sinh tử. Đại Thừa Phật giáo nói về việc phổ độ chúng sinh, cùng nhau đến bờ giác ngộ. Đại Thừa Phật giáo cho rằng Phật pháp vô biên, người tin theo đều có thể thành Phật, số lượng như cát sông Hằng. Đại Thừa Phật giáo lại chia thành Không Tông và Hữu Tông. Một số phái của Đại Thừa Phật giáo kết hợp với Bà La Môn giáo, tạo ra Mật Tông. Mật giáo bí truyền, để phân biệt với Hiển giáo.

Vào thế kỷ thứ nhất, Phật giáo truyền vào Trung Quốc qua hai con đường. Một đường từ Ấn Độ truyền sang Pakistan đến Afghanistan, rồi vào Tân Cương Trung Quốc và truyền vào Trung Nguyên, sau đó từ Trung Quốc truyền sang Triều Tiên, Nhật Bản. Đây là hệ thống kinh điển bằng tiếng Hán. Một đường khác từ Ấn Độ qua Nepal vào Tây Tạng rồi đến nội địa, là Phật giáo Tây Tạng còn gọi là Lạt Ma giáo. Sau đó truyền sang Mông Cổ đến Siberia. Đây là hệ thống kinh điển bằng tiếng Tạng.

Phật giáo Nam truyền từ Tích Lan đến Thái Lan, Myanmar, Lào, Việt Nam và các nước khác, cũng như Vân Nam Trung Quốc. Đây là hệ thống kinh điển bằng tiếng Pali.

Sau thế kỷ 19, Phật giáo truyền vào các nước phương Tây.

Vương Lực Bình vừa nghe sư gia kể về lịch sử Phật giáo, vừa nghĩ rằng, sư gia đối với Phật giáo lại thông thạo đến vậy. Từ khi theo ba vị lão nhân học đạo, tai anh luôn nghe thấy học thuyết Đạo gia. Từ khi bắt đầu học đạo, ba vị lão nhân lại lấy “Đạo Tạng” làm trung tâm, hệ thống kể về nguồn gốc và quá trình phát triển của văn hóa truyền thống Trung Quốc. “Đạo Tạng” có hơn năm nghìn quyển, bảy mươi hai môn học, thiên văn địa lý, chư tử bách gia, triết học sử học, chính trị quân sự, nông công thương, ngũ hành thuật số, vu học y học, chiêm bốc tướng pháp v.v., bất kể nói đến môn nào, triều đại nào, sư gia sư phụ đều có thể dẫn kinh điển, nói một cách trôi chảy, rõ ràng. Một số kinh điển quan trọng ba vị lão nhân còn có thể đọc ngược, khiến người ta kinh ngạc. Vương Lực Bình nghĩ, trong đầu ba vị lão nhân này lại chứa được nhiều thứ quý giá như vậy, giống như biển cả mênh mông, bầu trời sao vô tận, không đầu không cuối, không bắt đầu không kết thúc, vô cùng vô tận, không ngừng không nghỉ. Điều này thật kỳ diệu.

Vương Lực Bình tiếp tục nghe sư gia kể.

Sau khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc, đã thẩm thấu và hòa hợp với Lão Trang, Huyền học thời Ngụy Tấn, dần hình thành tám tông phái lớn: Pháp Tính Tông, Pháp Tướng Tông, Thiên Thai Tông, Hiền Thủ Tông, Tịnh Độ Tông, Mật Tông, Luật Tông, Thiền Tông.

Bất kể Phật giáo truyền đến đâu, biến đổi nhiều ít, nhưng tinh thần cơ bản vẫn được kế thừa.

Khổ, Tập, Diệt, Đạo là Tứ Đế của Phật giáo. Khổ là đánh giá tổng thể về cuộc đời, cuộc đời là đau khổ. Con người vượt trội hơn vạn vật, nhưng vị trí trong vũ trụ không cao, không thể thoát khỏi nỗi khổ luân hồi sinh tử. Phật và chúng sinh chia thành “Tứ Thánh” và “Lục Phàm”: Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn là Tứ Thánh. Trời, Người, A Tu La, Súc Sinh, Ngạ Quỷ, Địa Ngục là Lục Phàm. Trên con người còn có sự tồn tại cao hơn. Con người sinh ra trong tiếng khóc, lại từ giã cõi đời trong tiếng khóc của người khác. Khổ của sinh, khổ của già, khổ của bệnh, khổ của chết, khổ của yêu thương chia lìa, khổ của oán ghét gặp gỡ, khổ của cầu không được, khổ của ngũ ấm thịnh, có tám nỗi khổ này đi theo toàn bộ quá trình cuộc đời. Ngũ ấm là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, năm yếu tố cấu thành con người. Nhưng bản chất của con người là không, vũ trụ vạn vật đều là không, tất cả đều do nhân duyên hòa hợp mà thành. Hợp thì có, không hợp thì không, có là do Duyên. Hợp và không có tự tính, không có bản chất, cuối cùng vẫn là không. “Khổ” có nghĩa là dạy con người không nên chấp trước vào những thứ bên ngoài.

Tập. Là tìm hiểu nguồn gốc của nỗi khổ trong cuộc sống. Con người không giác ngộ, không hiểu biết, không nhận ra rằng vạn vật trong vũ trụ đều là không, mà lại tham lam không ngừng, tự tìm phiền não, sinh ra đau khổ. Không hiểu nguyên nhân của khổ đau thì không thể nào thấu hiểu được cảnh giới của không.

Diệt. Là chỉ việc diệt trừ phiền não, giải thoát khỏi đau khổ, vượt qua luân hồi để đạt đến con đường và phương pháp của không. Đi ngược lại hướng đi của cuộc đời là có thể “diệt”, thậm chí thành Phật. Điều quan trọng là ba môn học “Giới, Định, Tuệ”. Tâm và cảnh đều quên, một niệm không động, gọi là Giới. Giác tính viên mãn, trong ngoài sáng suốt, gọi là Định. Tùy duyên ứng vật, diệu dụng vô cùng, gọi là Tuệ. Ba điều này hỗ trợ lẫn nhau, là thể và dụng của nhau. Con người thông qua tu hành giữ giới, trong cái không của không, chắc chắn sẽ sinh ra trí tuệ, đạt đến bờ giác ngộ. Giác ngộ có thể là tiệm ngộ hoặc đốn ngộ. Tu hành lâu dài sẽ dần dần giác ngộ, nhưng bản chất của vũ trụ là một thể không thể tách rời, đến một thời điểm then chốt sẽ đột nhiên giác ngộ, đó là đốn ngộ.

Đạo. Là cảnh giới đạt được sau khi “diệt”. Con người từ Niết bàn siêu thoát sinh tử, loại bỏ mọi phiền não đau khổ trong luân hồi, và bước vào thế giới Cực Lạc phương Tây.

Quá trình này như Quán Thế Âm đã mô tả:

Ban đầu trong sự nghe, vào dòng quên mất chỗ;

Chỗ vào tịch tĩnh, động tĩnh hai tướng,

Rõ ràng không sinh, như thế dần tăng;

Nghe cái nghe hết, hết nghe không sinh;

Giác cái giác không, không giác tịch viên;

Không cái không diệt, sinh diệt tịch tĩnh;

Tịch diệt hiện tiền, bỗng nhiên vượt qua,

Thế gian xuất thế, mười phương viên minh.

Khi nói đến đây, Đạo nhân Vô Cực nhìn Vương Lực Bình, tiếp tục nói: “Những câu cuối cùng nói về cảnh tượng này, ngươi đã có chút trải nghiệm. Thế giới Cực Lạc mà Đức Phật nói đến, ngươi đã từng đến rồi. Con đường sáng rực rỡ mà ngươi nhìn thấy sau khi chết, chính là con đường Tây Phương này. Trong Phật môn, ngươi cũng là người giác ngộ, còn trong Đạo gia thì gọi là ‘người sống chết’. Hiện tại ngươi chỉ biết rằng trong vũ trụ có nơi này, nhưng cuối cùng để quay về nơi này, ngươi vẫn phải tiếp tục tu luyện.”

Đạo nhân Vô Cực cuối cùng lại ngâm vài câu:

Muốn biết nhân đời trước,

Đời này chịu là vậy.

Muốn biết đời sau ra sao,

Đời này làm là vậy.

Những lời Sư gia nói, Vương Lực Bình nghe rõ từng chữ, từng câu. Anh không nói một lời, không hỏi một câu. Đạo lý nhà Phật và đạo lý nhà Đạo là nhất quán, Vương Lực Bình đã có thực tiễn của mình, những đạo lý này đã được chứng minh một cách đơn giản, rõ ràng và thấu đáo. Hiện tại anh biết rằng ngoài thuyết của Đạo gia, còn có thuyết của Phật gia. Nghe hiểu rồi, ngôn ngữ trở nên thừa thãi. Điều cần học là kiên trì tu luyện tiếp.

Phật cũng vậy, Đạo cũng vậy, đều khám phá cùng một chủ đề: biến cái tạm thời của con người thành cái vĩnh hằng của vũ trụ, biến cái hữu hạn của con người thành cái vô hạn của vũ trụ. Bản chất của vũ trụ là gì? Đức Phật quy kết là “không”, Lão Tử quy kết là “đạo”. Cảnh giới lý tưởng cao nhất của con người là gì? Nhà Phật nói từ Niết bàn vào “thế giới Cực Lạc”, nhà Đạo nói từ tu luyện đạt đến “Thượng Tam Giới” và “thành tiên”. Khác nhạc nhưng cùng một điệu, kết hợp hài hòa.

Những lời của Sư gia đã mở ra trước mặt Vương Lực Bình một chân trời mới.

Ngoài trời còn có trời!

Hai năm phiêu bạt, vạn dặm sông núi, những gì đã thấy đều kỳ lạ, những gì đã nghe đều rộng lớn, đã khiến Vương Lực Bình tầm mắt được mở rộng, kiến thức cũng tiến bộ hơn.

Cuộc thảo luận về Phật pháp trên thảo nguyên Nga Mi khiến Vương Lực Bình càng cảm nhận được sự bao la của vũ trụ, trí tuệ như biển cả. Giữa trời đất này không biết còn bao nhiêu kho báu trí tuệ chờ được khám phá, bao nhiêu bí ẩn cần được giải mã.

Phần lớn bề mặt Trái đất được bao phủ bởi đại dương, liệu dưới đáy đại dương có một lục địa đã chìm từ lâu? Trên lục địa đó từng tồn tại một nền văn minh cực kỳ huy hoàng?

Kim tự tháp Ai Cập cổ đại cuối cùng ẩn chứa bí mật gì?

Tại sao các nhà thờ của Kitô giáo đều được xây dựng với mái vòm?

Tổ tiên loài người cuối cùng là từ vượn tiến hóa thành, hay từ dưới nước bò lên mặt đất? Một số tôn giáo đều nói rằng con người được Thượng đế tạo ra, đây là thần thoại hay hiện thực?

Thế giới thật kỳ diệu. Những câu hỏi bí ẩn này thu hút sâu sắc Vương Lực Bình. Anh muốn giải mã những bí ẩn của vũ trụ và cuộc đời này.

Bốn thầy trò nói chuyện nửa ngày trước một ngôi chùa, rồi đứng dậy tiếp tục leo lên núi.

Ba vị lão không đi theo con đường leo núi cũ, mà chọn một nơi đá núi dựng đứng, không có dấu chân người để leo lên.

Vương Lực Bình nghĩ, sư gia và sư phụ có chủ ý tránh khung cảnh hoang tàn của những ngôi chùa dọc đường, nơi không có người vẫn giữ được trạng thái tự nhiên, có lợi cho tinh thần. Anh có một cảm giác khác thường, dường như phía trước còn có việc quan trọng gì đó. Ba vị lão đã nhanh nhẹn leo lên, anh không kịp suy nghĩ nhiều, liền đi theo.

Bốn người đi xuyên qua rừng cây, leo vách núi, vượt khe suối, chẳng mấy chốc đã đến lưng chừng núi. Nơi đây bóng cây mát mẻ, suối chảy róc rách, hoa lạ đua nở, cỏ thơm ngào ngạt. Một đàn khỉ linh tụ tập ở đây tránh nóng và vui đùa, có con leo cây hái quả, có con đu dây, có con ngồi bắt bọ, có con đuổi nhau, đây là thế giới của chúng. Đột nhiên một cành cây rung động, một bóng đen lướt qua, đàn khỉ lập tức cảnh giác, vội vàng tập hợp lại gần con khỉ già, khỉ con chui vào lòng mẹ, yên lặng quan sát xem chuyện gì đang xảy ra.

Con khỉ đầu đàn thấy quả thật có người đến, trước tiên há to miệng, lộ ra hàm răng sắc nhọn, kêu lên một tiếng chói tai, rồi lao về phía có người. Đàn khỉ cũng lập tức ùa theo.

Đạo nhân Vô Cực thấy đàn khỉ xông tới, không nhịn được cười lớn, quay đầu lại nói: “Trên núi Nga Mi này, vui có lũ khỉ làm bạn, chỉ cần đừng chọc chúng là được.”

Ba người Thanh Tĩnh hiểu ý, liền siết chặt những vật mang theo.

Đàn khỉ thấy chỉ có bốn người, liền mạnh dạn vây quanh lại. Bốn người thấy khỉ đã đến gần, liền vận khinh công, nhảy lên một cái, không nghe thấy tiếng gió hay động tĩnh gì, đã đáp xuống một tảng đá lớn cách đó vài trượng. Đàn khỉ lúc này đứng sững, vội vàng đuổi theo, nhưng làm sao đuổi kịp?

Vương Lực Bình thấy đàn khỉ rất vui nhộn, liền lấy một ít đá vụn bên cạnh ném xuống, đá lăn ầm ầm xuống phía dưới. Đàn khỉ tưởng có người tấn công chúng, càng hoảng hốt kêu thét lên, nhảy loạn xạ về phía trước.

Bốn người thấy đàn khỉ áp sát, liền nhảy lên cây, leo qua các cành cây mà đi. Đàn khỉ cũng leo lên cây, dùng kỹ năng leo trèo nhảy nhót của chúng, nhưng làm sao là đối thủ của bốn người?

Bốn người thấy đàn khỉ ngờ nghệch như vậy, cười không ngớt. Khi thấy lũ khỉ đã mệt và chịu thua, bốn người tiếp tục leo lên.

Chẳng mấy chốc, họ đã vượt qua những đám mây trắng, đến chân một vách đá. Vách đá này cao hàng chục trượng, giữa lưng chừng mọc vài cây kỳ lạ, thưa thớt buông xuống vài dây leo. Bốn người thẳng tiến leo lên vách đá, dựa vào sức của những dây leo, bụi cây và cỏ dại để treo mình lên, nâng người lên cao. Ở những chỗ không có cây cỏ, họ đành phải dùng tay bám vào các khe đá, gờ đá, áp sát vào vách mà leo lên.

Bốn người đã leo đến giữa vách đá, bỗng nghe thấy tiếng nói từ trên cao vọng xuống: “Quý khách đến chơi, có tiếp đón không chu đáo.” Giọng nói như chuông đồng, vang bên tai.

Vương Lực Bình ngẩng đầu nhìn lên, trên đỉnh vách đá, giữa làn mây mù, một đạo nhân đứng đó đón gió, râu dài phất phới, áo đạo bay phấp phới, toát lên phong thái tiên gia. Gió núi thổi từ dưới lên cuồn cuộn, nhưng vị đạo nhân kia lại có thể đưa tiếng nói ngược gió đến, chắc chắn là người phi phàm.

Trong lúc nói chuyện, bốn người đã lên đến đỉnh núi. Vị đạo nhân dẫn bốn người vào trong động, chào hỏi lễ phép, rồi lần lượt ngồi xuống.

Hóa ra vị đạo nhân này không phải là người bình thường, mà là một đạo sĩ đã ẩn cư trên núi Nga Mi hàng trăm năm, được tôn xưng là “Vân Du Đạo Nhân”, năm nay đã 118 tuổi. Mặc dù ông lớn tuổi hơn bốn thầy trò, nhưng vì nhập đạo muộn hơn Thanh Hư và Thanh Tĩnh, nên ông yêu cầu Vương Lực Bình tôn ông làm sư thúc. Vị đạo tiên này đến nay vẫn còn sống, đã là một cụ già 139 tuổi. Cứ vài ba năm, ông Vương Lực Bình lại dành thời gian đến thăm vị sư thúc già này.

Vân Du Đạo Nhân đã không xuống núi khoảng năm sáu mươi năm rồi, lần này gặp Vương Lực Bình, ông nói với anh rằng, ngày xưa người ta lên núi bằng cách cưỡi ngựa hoặc được khiêng lên, còn bây giờ thì ngồi lên những cái chân có hình tròn mà lên. Nói xong, ông dùng tay vẽ hình tròn, Vương Lực Bình hiểu ý, nói đó là bánh xe ô tô. Vương Lực Bình mời ông xuống núi đi dạo xem, nhưng cụ già lắc đầu kiên quyết, nói: Không, núi này không thể xuống.

Vị đạo tiên này sống cách biệt với thế gian, ẩn mình trong núi sâu, bỏ mặc sự hỗn loạn của thiên hạ và sự ồn ào của trần tục, chỉ chuyên tâm làm một việc: tu đạo.

Lão Tử nói: “Vì học ngày càng nhiều, vì đạo ngày càng giảm, giảm rồi lại giảm, đến mức vô vi, vô vi mà không gì không làm.” 

Kiến thức và học vấn cần được tích lũy, ngày càng nhiều, mới có thể trở nên uyên bác. Tu đạo thì cần sự tĩnh lặng, phải giữ được sự nhất tâm, “đóng cửa miệng, khép cửa mắt”, loại bỏ tạp niệm, không lo lắng, tâm tính sáng suốt, thanh tịnh thường hằng, mới thấy được công phu lớn. Đạt đến cảnh giới này, tâm sẽ như gương sáng, như trăng rằm, đối với những lý lẽ vi diệu của trời đất vạn vật, không gì không thấu suốt, từ đó “không ra khỏi cửa, biết được thiên hạ; không nhìn qua cửa sổ, thấy được đạo trời”.

Ngoài núi còn có núi!

Thiên hạ rộng lớn, luôn có người tài giỏi.

Cái thẳng lớn nhất lại như cong, cái khéo léo lớn nhất lại như vụng về, cái biện luận lớn nhất lại như ấp úng, cái trí tuệ lớn nhất lại như ngu ngốc.

Lại có những người có mắt nhìn thấu, không ngại khó nhọc, đi vạn dặm đường, vượt ngàn đỉnh núi, tìm đến đỉnh cao nhất, hỏi đạo trong động phủ, đây cũng là vật tụ theo loài, người tụ theo nhóm.

Vân Du Đạo Nhân lần này gặp được Vương Lực Bình, một người trẻ tuổi, trong lòng rất vui mừng, bèn kể cho anh nghe một câu chuyện xưa.

Đó là chuyện cách đây mấy chục năm, khi thiên hạ hỗn loạn, không thể nhìn thấy một kết cục rõ ràng. Đây chính là thời điểm những người mới xuất hiện, có cơ hội thể hiện tài năng.

Mặc dù các thế lực trong thiên hạ nổi lên, đấu đá lẫn nhau, ngày nào cũng không yên, nhưng núi Nga Mi này xa cách hồng trần, vẫn là một vùng đất yên tĩnh. Mỗi ngày vẫn nghe tiếng mõ gỗ, tiếng chuông cổ vang vọng, vẫn thấy khói hương từ các ngôi chùa bay lên, các khách hành hương từ khắp nơi kéo đến không ngớt.

Vân Du Đạo Nhân ẩn mình trong động phủ, biết rằng những ngày thế gian không yên ổn sẽ còn kéo dài, mỗi ngày chỉ chuyên tâm tu tập, lúc rảnh rỗi thì vào sâu trong núi nơi không có người hái những loài hoa lạ, cỏ quý, cùng các loại dược liệu quý hiếm, cũng tìm một ít trái cây rừng để ăn qua ngày. Thỉnh thoảng, trong những khoảnh khắc hiếm hoi khi gió mưa bất chợt, ông chọn một nơi để ngồi yên ngắm nhìn ánh sáng Phật độc đáo của núi Nga Mi. Vân Du Đạo Nhân đi lại trên núi như một bóng ma, dấu vết không rõ ràng, rất ít người nhìn thấy ông, càng không biết rằng trên ngọn núi danh tiếng này lại ẩn cư một nhân vật tiên giới như vậy.

Một buổi sáng sớm, gió nhẹ thổi, sương mù trên núi lúc đặc lúc loãng, mặt trời lúc ló ra, lúc lại bị mây che khuất.

Vân Du Đạo Nhân trong lúc ngồi thiền vào ban đêm đã có cảm giác khác thường, biết rằng ban ngày sẽ có hai vị khách quan trọng đến thăm, đây cũng là thiên ý, không thể không gặp.

Lúc này, Vân Du Đạo Nhân đang đứng trong rừng thực hiện phép thổ nạp, bỗng từ phía dưới sườn núi đi lên một người. Lão đạo biết người đầu tiên đã đến, không ẩn mình, cũng không quan sát, chỉ nhắm mắt tập trung tinh thần.

Người đến khoảng bốn mươi tuổi, đang trong độ tuổi sung mãn, thân hình cao lớn, vẻ mặt rộng rãi, khí chất đường hoàng, mặc áo ngắn vải xám, rất giản dị, nhưng toát lên vẻ anh hùng, tinh thần sảng khoái.

Người này thấy trên đỉnh núi vắng vẻ lại có một cụ già, khuôn mặt trẻ trung, tóc bạc như hạc, đang vận khí trong rừng, biết rằng cụ già này không phải người thường, liền tiến thẳng đến, rất lễ phép nói: “Đạo trưởng an lành.”

Vân Du Đạo Nhân nhẹ nhàng mở mắt, ánh mắt lóe lên sắc thần, mỉm cười nói: “Vạn dặm đường xa, một chặng đường vất vả.”

Người đến nghe vậy, trong lòng không khỏi giật mình, nhưng không để lộ ra ngoài.

“Xin hỏi đạo trưởng có phải là Vân Du Đạo Nhân không?”

“Bần đạo chính là.”

“Dám nhờ tiên sinh nói về việc nước.”

“Hưng vong của thiên hạ, kẻ thường dân cũng có trách nhiệm. Bần đạo không tài giỏi, ẩn cư trong núi sâu, không am hiểu thế sự, làm sao dám bàn chuyện quốc gia.”

“Quốc gia lâm nguy, dân chúng đều lo lắng. Tiên sinh từng trải qua nhiều thăng trầm, thấy nhiều biết rộng, kinh thiên vĩ địa, thấu hiểu huyền cơ, danh tiếng vang xa, được thế gian trọng vọng. Mong ngài đừng từ chối, xin hãy nói đôi lời.”

“Phương Đông không sáng thì phương Tây sáng, phương Nam tối thì phương Bắc sáng. Phía Tây Bắc có thể sinh, phía Đông Bắc có thể tiến. Với tài năng và mưu lược của ngài, đại nghiệp có thể thành, không cần bần đạo phải nói chi tiết.”

Một người là đạo tiên ẩn cư trong núi sâu, một người là nhân tài xuất chúng, hai người trên đỉnh Nga Mi, trong ánh bình minh, đã thảo luận về thời vận, vạn dặm giang sơn, tiền đồ quốc gia, hưng suy của dân tộc, chỉ nói những điểm chính, rất tâm đầu ý hợp. Người đến rất vui mừng, thỉnh thoảng cất tiếng cười sảng khoái.

Người đến cuối cùng nói: “Được ngài chỉ giáo, tôi học được nhiều điều. Tiếc rằng công việc quá nhiều, chỉ có thể cáo từ.” Rồi chắp tay từ biệt. Vân Du Đạo Nhân đưa mắt tiễn đưa.

Vân Du Đạo Nhân quay sang một nơi yên tĩnh khác trong rừng để dưỡng thần. Chẳng mấy chốc, một người khác đến. Người này gần năm mươi tuổi, thân hình cao lớn, lưng thẳng, mặc quân phục, oai phong lẫm liệt, khuôn mặt nghiêm nghị, ánh mắt sắc bén. Người này sống dưới núi đã lâu, thường xuyên lên núi du ngoạn. Hôm nay cũng có ý định đến thăm vị đạo tiên, không ngờ lại gặp ở đây.

Hai người gặp nhau lễ phép. Người đến cũng xin vị đạo nhân du phương nói sơ qua về đại sự thiên hạ.

“Theo ý của ngài, làm thế nào để trị quốc?” Vân Du Đạo Nhân hỏi ngược lại người đến.

“Theo ý của tôi, cốt yếu nằm ở ‘Đại Học’. Đạo của Đại Học là làm sáng tỏ đức sáng, gần gũi với dân, và dừng lại ở chỗ tốt đẹp nhất. Vật có gốc ngọn, việc có đầu cuối. Biết được thứ tự trước sau thì gần với đạo. Đạt đến tri thức, hiểu rõ sự vật, thành ý chính tâm, tu thân tề gia rồi trị quốc bình thiên hạ. Điều quan trọng nhất là tìm hiểu lý lẽ từ nơi sự vật bắt đầu, nghiên cứu những điều nhỏ nhặt từ lúc tâm ý mới động.”

“Tốt. Vốn có những học thuyết xưa, thiên nhân hợp nhất, Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo bổ sung cho nhau, đều là gốc rễ. Học thuyết Tam Dân của Tôn Trung Sơn cũng xuất phát từ đây, lại là một làn sóng mới của thời đại. Trời hành có đạo, thuận theo thì hưng thịnh, nghịch lại thì diệt vong, đó là lẽ không thể thay đổi. Việc lớn của thiên hạ, hợp lâu ắt chia, chia lâu ắt hợp, đó là quy luật vận hành.”

“Mạnh Tử nói: Trời không có hai mặt trời, dân không có hai vua. Đó có phải là lý lẽ không?”

“Chia thì thành hai, hợp thì thành một. Biến hóa không ngừng, lưu chuyển khắp nơi. Cái mềm yếu nhất trong thiên hạ có thể chế ngự cái cứng rắn nhất. Biết cái mạnh, giữ cái yếu, làm khe suối cho thiên hạ. Biết cái vinh, giữ cái nhục, làm thung lũng cho thiên hạ.”

Người đến biết Vân Du Đạo Nhân đã nói hết những điểm yếu của mình, không kiên nhẫn nghe tiếp, liền hỏi: “Xin hãy nói về chuyện tương lai?”

“Phương Nam lửa mạnh, nước nhiều cũng sinh.”

Người đến thấy không hợp ý, liền cáo từ xuống núi.

Vân Du Đạo Nhân nhớ lại đến đây, tiếp tục nói:

“Hai người cùng một ngày lên núi thăm hỏi, chắc chắn không phải chuyện bình thường. Tôi đã nói hết thiên cơ, sau này đều ứng nghiệm. Từ đó tôi ẩn mình, không xuất hiện nữa, cũng không xuống núi, không thể nói thêm, nói nhiều ắt có sai lầm. Trận đại nạn hiện nay, đến rất dữ dội, nhưng cũng có lúc kết thúc.”

Vương Lực Bình lặng nghe vị sư thúc trăm tuổi kể lại những chuyện xưa, không khỏi kính nể.

Đạo nhân Vô Cực nói: “Hai nhân vật này mỗi người chủ trì một phương, thiên hạ tạm thời yên ổn. Trận đại loạn hiện nay, trong lịch sử Trung Hoa hiếm có. Từ khi Tần Thủy Hoàng thống nhất thiên hạ Từ khi Tần Thủy Hoàng thống nhất thiên hạ đến nay, trị và loạn xen kẽ, thay phiên nhau vận hành. Ta xem các thời đại thịnh trị, ắt phải có minh quân hiền chúa, lại phải có pháp luật nghiêm minh, quan lại tuân thủ, dân chúng nghe theo, trăm nghề đều hưng thịnh, bảo tồn hòa hợp, chính khí lớn mạnh, trị quốc có quy củ, loạn tự nhiên không nổi lên.”

Vương Lực Bình liền hỏi: “Xin được nghe tôn sư nói sơ qua về đạo trị quốc.”

Đạo nhân Vô Cực nói: “Đạo trị quốc chia thành nhân trị, pháp trị, lý trị và đạo trị. Nhân trị là khi trời đất mới khai mở, dân sinh bắt đầu, tính người rất thuần phác, dục vọng cũng cực kỳ đơn giản. Lúc này có thánh nhân làm vua, dẫn dắt dân chúng ứng phó với trời đất, thì mọi người tự nhiên yên ổn. Pháp trị là khi xã hội phát triển, trăm nghề hưng thịnh, dân chúng chia thành sĩ, nông, công, thương, tam giáo cửu lưu, sống lẫn lộn, hỗ trợ lẫn nhau, dục vọng tăng lên, tính người không còn thuần hậu, đạo trị quốc phải dựa vào pháp luật, không như vậy thì không đủ để trị. Đã dùng pháp trị, pháp luật phải hợp lý, phải có uy tín, trị quốc phải nghiêm khắc. Hơn nữa, quan và dân cùng chung một pháp, không được có hai. Lão Tử nói: ‘Cái gì yên ổn thì dễ giữ, cái gì chưa có dấu hiệu thì dễ mưu tính. Cái gì dễ vỡ thì dễ tan, cái gì nhỏ bé thì dễ phân tán. Làm việc khi chưa có gì, trị quốc khi chưa loạn.’ Xã hội đến giai đoạn này đã rất phức tạp, nếu vẫn dùng nhân trị thì khó tránh khỏi loạn lạc, nhường cho pháp trị cũng chưa chắc đạt được thành công trọn vẹn, ắt phải có lý trị xuất hiện, mới thấy được thành tựu. Lý trị là khi cả người trị và người bị trị đều hiểu rõ lý lẽ tồn tại của quốc gia, lấy lý làm pháp, không pháp cũng thành pháp, thì quốc gia dễ trị. Đạo trị thì cao hơn một tầng, tức là dùng đạo để giáo dục dân chúng, trở về thuần phác, con người hòa hợp với trời đất, pháp không còn là pháp, không trị mà vẫn trị. Lão Tử nói: ‘Thánh nhân nói: Ta vô vi mà dân tự hóa, ta thích tĩnh lặng mà dân tự chính, ta không làm gì mà dân tự giàu, ta không có dục vọng mà dân tự thuần phác.’ Vô vi mà trị, đó là đạo trị, là giai đoạn cao nhất của sự phát triển xã hội, là cảnh giới tối thượng của trị quốc.”

Vân Du Đạo Nhân vừa nghe vừa vuốt chòm râu dài, nói: “Cảnh giới đạo trị chỉ có ở tiên giới. Đạo trị trong thế gian, không biết còn phải trải qua bao nhiêu năm tháng, đất nước và dân tộc ta còn phải chịu đựng bao nhiêu tai ương.”

Vương Lực Bình nghe hai vị lão đàm luận về đạo trị quốc, nghĩ đến những trải nghiệm thực tế của mình, càng thấm thía sự thấu hiểu sâu sắc của hai vị, càng củng cố quyết tâm tu luyện của mình.

Chương 14: Vũ Trụ Chi Mộng

Bốn thầy trò lưu lại trên núi Nga Mi vài ngày, sư gia, sư phụ và sư thúc cùng nhau đàm đạo, tình nghĩa càng thêm sâu đậm. Sư thúc và Vương Lực Bình là lần đầu gặp mặt, hai người cách nhau trăm tuổi, nhưng trong Đạo gia, đều là đồng chân. Sư thúc càng thích người đệ tử trẻ tuổi này, dẫn anh đi khắp những nơi hiểm trở, kỳ vĩ và đẹp đẽ của Nga Mi, dạy anh phương pháp tu luyện. Vương Lực Bình khi ở cùng sư thúc cũng không cảm thấy có “rào cản” tuổi tác, nhân cơ hội này tha hồ học hỏi từ vị lão nhân.

Vài ngày sau, bốn thầy trò lưu luyến từ biệt vị đạo nhân du phương, theo đường xuống núi. Đi về phía đông, tất nhiên vẫn tránh những thành phố ồn ào náo nhiệt, chỉ đi qua những vùng quê nghèo, thăm thú những ngọn núi kỳ lạ và dòng nước đẹp. Vừa đi vừa tu luyện, vừa làm việc thiện, vừa tìm kiếm tiên nhân, công việc nhiều không kể xiết.

Sau chuyến du hành vạn dặm, cuối cùng họ cũng đến được nơi ba vị lão thường trú, động phủ bên biển ở núi Lao Sơn.

Bảy năm xa cách, giờ đã trở về.

Núi vẫn là ngọn núi đó; biển vẫn là biển đó. Sóng biển vỗ vào núi Chân núi, sóng biển cuồn cuộn; gió núi rít qua rừng cây, tiếng thông vi vu. Tất cả những gì trước mắt đối với ba vị lão nhân đều quá quen thuộc, quá thân thương.

Nhưng lúc này, trong lòng ba vị lão nhân không còn cảm xúc phấn khích như thường lệ, mà thay vào đó là một nỗi buồn man mác bao trùm.

Thái Thanh Cung không còn cảnh tượng hưng thịnh như xưa, các đạo sĩ đã không biết đi đâu. Chín cung tám quán, khắp nơi đều là cảnh tượng điêu tàn sau cơn bão táp. Ngay cả những hang động hiếm người lui tới cũng không tìm thấy dấu vết của đạo hữu. Có thể thấy, phạm vi và mức độ ảnh hưởng của kiếp nạn này trong thế gian thật lớn lao.

Bốn người đến trước cửa động Trường Xuân, vài dây thường xuân rủ xuống cửa hang. Bên trong động tối tăm, âm u. Bốn người bước vào, Thanh Tĩnh đạo nhân thắp lên ngọn đèn dầu, phủi bụi trên các vật dụng. Ông nói với Vương Lực Bình rằng đây là nơi Tổ Khâu tu luyện, cũng là nơi ba người họ tu luyện. Vương Lực Bình giúp sư phụ dọn dẹp mọi thứ trong động.

Sư gia bước lên, đặt lại vị trí linh vị của các vị tổ, thắp hương, bốn người cùng nhau cúng bái. Lễ xong, Vương Lực Bình mời ba vị lão nhân ngồi nghỉ ngơi.

Ba vị lão nhân nhìn quanh trong động, cảnh vật vẫn như xưa, lòng dâng trào trăm mối cảm xúc, không khỏi nhớ lại bảy năm trước từ nơi này khởi hành, vượt ngàn dặm mây trăng, tìm kiếm người kế thừa. Trong mấy năm, dạy dỗ đệ tử vất vả, thế gian biến đổi khôn lường, trải qua bao nhiêu gian nan. Dân chúng lâm vào cảnh khốn cùng, Phật Đạo gặp nạn, đất nước nguy nan, không nỡ nhìn lại. Điều duy nhất có thể an ủi linh hồn các vị tổ tiên là trong những năm tháng đen tối, trải qua bao nhiêu khó khăn, trốn tránh, che giấu, cuối cùng cũng đã nuôi dưỡng thành công người kế thừa đời thứ mười tám, trí tuệ ngàn năm của Toàn Chân Long Môn, báu vật của thế gian có thể được kế thừa, lưu truyền, phát huy và tỏa sáng. Đây là điều may mắn trong bất hạnh. Ba vị lão nhân nhìn người đệ tử trẻ tuổi trước mắt, không kìm được nước mắt.

Vương Lực Bình thấu hiểu tâm trạng của ba vị lão nhân lúc này, cúi đầu hành lễ, không khỏi đỏ mắt, bước lên đỡ sư gia dậy, mời ông ra ngoài động để thay đổi tâm trạng. Bốn người liền bước ra ngoài.

Vương Lực Bình đặt một tấm đá phẳng xuống, dùng tay áo lau sạch, rồi nói với sư gia: “Xin mời sư tôn ngồi.”

Thanh Tĩnh đạo nhân nhìn thấy Vương Lực Bình như vậy, liền nói: “Hôm nay không có khỉ, bình thường nhanh nhẹn như con lươn trơn, hôm nay lại giống như một vị đại phu từ đất nước lễ nghi, mọi người phải cảnh giác đấy.”

Vừa dứt lời, mọi người đều vui vẻ, nỗi buồn tan biến hết.

Vương Lực Bình bước đến trước Thanh Tĩnh đạo nhân, vừa dọn chỗ ngồi cho ông, vừa nói: “Sư phụ, con giờ rơi vào cảnh này cũng là bất đắc dĩ. Người xưa nói, con không dạy, lỗi tại cha.”

Thanh Tĩnh đạo nhân ngồi xuống, nói với Vô Cực đạo nhân: “Sư phụ, ngài nghe xem, đây gọi là lời gì. Chúng con đều do ngài dạy dỗ mà.”

Vô Cực đạo nhân chớp mắt, nói: “Các ngươi nói gì? Ta chỉ nghe thấy: nó nói ngươi dạy tốt, ngươi nói ta dạy tốt. Đâu có sai.”

Một câu nói của sư gia khiến Vương Lực Bình vỗ tay khen ngợi.

Bốn thầy trò tắm mình trong ánh nắng và gió biển, tiếng cười nói rộn rã, nơi đây lại trở thành thế giới của họ.

Thanh Tĩnh đạo nhân chuyển chủ đề: “Vĩnh Sinh, đã đến lúc cho con xem bảo vật truyền thừa của phái Long Môn chúng ta.” Ông chỉ tay về phía cửa động, trong chớp mắt, một con rùa trắng tinh từ trong động bò ra.

Vương Lực Bình mắt sáng lên, định chụp lấy nó, Thanh Tĩnh đạo nhân liền kéo anh lại, “Đừng động vào.”

Con rùa tuy nhỏ chỉ bằng bàn tay, nhưng bò rất nhanh, thẳng đến bên cạnh Vô Cực đạo nhân, leo lên áo ông. Vô Cực đạo nhân đưa tay ra, con rùa liền nằm gọn trong lòng bàn tay, nằm yên không động đậy, chỉ thò đầu ra, cọ cọ vào lòng bàn tay, tỏ ra rất thân thiết.

Vô Cực đạo nhân đặt con rùa xuống, nó liền bò về phía Thanh Tĩnh đạo nhân. Thanh Tĩnh đạo nhân không đợi nó bò lên người, liền đưa tay ra đón, con rùa nhanh chóng nằm gọn trong lòng bàn tay, lại một lần nữa tỏ ra thân thiết. Thanh Tĩnh đạo nhân nâng bàn tay lên, đưa đến gần mặt, con rùa liền dùng đầu cọ cọ vào mặt ông, như thể đang thì thầm bên tai. Thanh Tĩnh đạo nhân cười vui vẻ đặt con rùa xuống. Con rùa lại bò đến chỗ Thanh Hư đạo nhân, lại một lần nữa tỏ ra thân thiết. Thanh Hư đạo nhân như thể đang trò chuyện với con rùa một lúc, rồi lại đặt nó xuống đất.

Con rùa trắng ngẩng đầu lên, nhìn Vương Lực Bình một cái, rồi nhanh chóng bò về phía anh, leo lên người anh, lại cọ cọ và ngửi ngửi, như thể đang tìm kiếm thứ gì đó. Vương Lực Bình cũng đưa tay ra, con rùa liền nằm yên trong lòng bàn tay, như thể họ là bạn cũ đã quen biết từ lâu. Ba vị lão nhân thấy cảnh này đều gật đầu khen ngợi.

Vô Cực đạo nhân nói: “Thần quy có linh. Con rùa này biết rằng dù con lần đầu đến đây, nhưng là người nhà, nó cũng đối xử với con như bạn cũ.”

Sư gia bảo Vương Lực Bình đặt con rùa trắng lên tấm đá phẳng, quan sát xem nó có động tĩnh gì. Chỉ thấy con rùa nằm yên trên tấm đá, như thể đang tu luyện.

Sư gia nói: “Con xem mặt trời ở hướng nào? Đầu rùa hướng về đâu?”

Vương Lực Bình nhìn kỹ, lúc này mặt trời ở hướng đông nam, con rùa cũng hướng về đông nam.

Sư gia bảo anh xoay con rùa một hướng khác, khiến nó hướng về tây bắc, nhưng con rùa tự động từ từ quay lại, đầu vẫn hướng về đông nam. Thử vài lần như vậy, con rùa đều tự quay, đầu luôn hướng về phía mặt trời. Vương Lực Bình nghĩ thầm, con rùa này quả thật có linh.

Sư gia nói với Vương Lực Bình: “Tuổi của con rùa này còn lớn hơn tổng tuổi của bốn chúng ta, nó đã là một cụ rùa 680 tuổi rồi.”

Vương Lực Bình không khỏi “à” lên một tiếng, càng mở to mắt nhìn con rùa trắng một cách say mê.

Sư gia tiếp tục nói: “Nó là bảo vật của phái Long Môn chúng ta, được truyền lại từ đời này sang đời khác, đến ta đã là đời thứ mười hai. 680 năm, con rùa này hấp thụ tinh hoa của nhật nguyệt, được sương móc của trời đất, hòa làm một với tự nhiên, hòa hợp với vũ trụ Dòng chảy của vũ trụ, có phương pháp trường sinh, có đạo lý thông linh, cảm ứng với sự thay đổi của trời đất, nhật nguyệt, là một bảo vật thần kỳ, con người có thể ngộ ra nhiều đạo lý từ đó.”

Trong lúc nói chuyện, Vương Lực Bình thấy con rùa trắng điều chỉnh nhẹ, đầu hướng thẳng về phía mặt trời.

Vương Lực Bình nghe sư gia tiếp tục nói: “Con rùa này vận hóa 360 năm mới có thể xoay theo mặt trời, nhưng chỉ xoay được nửa vòng. Vận hóa 720 năm thì có thể xoay trọn một vòng. Các vị tổ sư tiền bối đã ghi chép chi tiết về quá trình tu luyện của con rùa linh này, sau này khi truyền lại cho con, con sẽ tiếp tục nghiên cứu. Đây là một trong những trọng trách của con.”

Vương Lực Bình gật đầu một cách trang nghiêm.

Thanh Hư sư phụ chỉ vào mai rùa, bảo Vương Lực Bình quan sát kỹ xem có gì kỳ lạ.

Vương Lực Bình nhìn kỹ, quả nhiên thấy hoa văn trên mai rùa rất kỳ lạ. Nhìn kỹ hơn, anh phát hiện ra rằng những đường vân này tạo thành hình bát quái, liền thốt lên: “Hình bát quái này là tự nhiên hay do con người tạo ra?”

Thanh Hư sư phụ nói: “Nếu là do con người tạo ra thì có gì kỳ lạ? Chính vì nó tự nhiên sinh ra, lại phù hợp với bát quái, mới thể hiện được sự kỳ diệu của nó. Từ đây, con người cần suy ngẫm sâu hơn, việc tạo ra bát quái thực chất là do cảm hứng từ tự nhiên. Nếu hỏi tiếp, hình bát quái trên mai rùa từ đâu mà có? Điều này liên quan đến sự thay đổi của không gian rộng lớn hơn, thực chất là sự phản chiếu của lực lượng không gian. Không gian có sáu hướng: trên dưới, trước sau, trái phải, mỗi hướng đều có lực tồn tại, có sự thay đổi, kết hợp, có chính có phản, có lợi có hại. Nếu đưa thêm mặt trời và mặt trăng vào như những lực ảnh hưởng đến vạn vật, tổng số là tám, ép thành một mặt phẳng, sẽ tạo thành hình chữ “米”, tức là bát quái. Vì vậy, cách hiểu về bát quái nên là ba chiều, chứ không phải hai chiều. Học Kinh Dịch, đây là con đường nhập môn.”

Thanh Hư sư phụ lại nhẹ nhàng nhấc con rùa trắng lên, để bụng nó hướng lên trên, nói với Vương Lực Bình: “Con xem, bụng nó có đúng mười hai phần, chúng lại tạo thành một nguyên. Một nguyên có thể được hiểu theo nhiều cách, số mười hai tượng trưng cho mười hai địa chi, mười hai tháng, mười hai canh giờ, mười hai kinh Lạc. Điều này cũng hàm chứa một bối cảnh vũ trụ sâu sắc. Về mặt này, chúng ta đều là học trò của sư gia, con hãy nhờ ông giải thích cho con.”

Sư gia nghe Thanh Hư đẩy trách nhiệm về mình, liền cười nói: “Chúng ta đều là học trò của con rùa trắng này, sao không hỏi nó mà lại hỏi ta? Con không nghe Hàn Dũ trong ‘Khuyến học thiên’ có nói: Người sinh trước ta, nghe đạo trước ta. Có con rùa linh này ở đây, chúng ta hãy cùng học hỏi từ nó.”

Sư gia đặt con rùa linh trên tay, quan sát kỹ một lúc, rồi nói: “Vân Du đạo nhân nói không sai, có vẻ như thiên hạ còn loạn vài năm nữa, nơi này không thể ở lâu, chúng ta hãy tiếp tục du ngoạn.”

“Vậy con rùa trắng thì sao?” Vương Lực Bình hỏi.

“Nó sẽ tự bảo vệ mình, còn an toàn hơn cả chúng ta.”

“Hay là mang nó đi, con lại có thêm một người thầy nữa.”

“Được thôi.” Sư gia nói xong, liền đưa con rùa trắng cho Vương Lực Bình. Vương Lực Bình vui mừng khôn xiết, dùng mặt cọ cọ vào mai rùa.

Từ đó, trên đường du ngoạn lại có thêm một vị lão rùa linh 680 tuổi.

Xuống núi, đi về phía bắc, trên đường có con rùa linh làm bạn, Lực Bình càng thêm vui vẻ. Con rùa trắng này đi theo bốn người, bất kể tình hình bên ngoài thế nào, nó chỉ nằm yên trong túi vải, tự tu luyện. Khi mọi người nghỉ ngơi, thả nó ra, nó cũng cùng bốn người chơi đùa một lúc. Nó không ăn không uống, cũng không bài tiết, có vẻ là một bậc trường thọ nhờ phép tịch cốc.

Chưa đầy vài tháng, bốn thầy trò đã đến được núi Đan Nhai ở phía bắc bán đảo Sơn Đông, Bồng Lai. Núi Đan Nhai đứng sát biển, tuy không cao nhưng thanh tú, mây mù bao phủ. Đối diện qua biển là đảo Trường Sơn, phía đông là biển cả mênh mông. Khi mặt trời mọc, nước biển lấp lánh, bầu trời xanh biếc, trời nước một màu, mặt trời đỏ treo lơ lửng, cảnh tượng hùng vĩ. Những ngày không có gió, sóng biển nhẹ nhàng vỗ vào đá dưới chân núi, như bàn tay mẹ vuốt ve những viên sỏi bên cạnh.

Vách đá như được gọt dũa bằng dao, mỗi khi gió bắc thổi qua, gió gặp vách đá liền bốc thẳng lên, còn người đứng trên vách đá chỉ cảm nhận được chút gió nhẹ.

Trên đỉnh vách đá có một tòa lầu, chính là Bồng Lai Các nổi tiếng, với biển và trời làm nền, tạo nên vẻ đẹp hùng vĩ. Thỉnh thoảng sương biển bay lượn, khiến nơi đây giống như một chốn tiên cảnh. Khi lên đến lầu, nhìn ra xa, gió biển nhẹ nhàng lướt qua hơi nước thấm vào lồng ngực, vuốt ve khuôn mặt, khiến lòng người khoan khoái, cảm giác như đang bay bổng, mọi vinh nhục của thế gian đều quên hết, giống như một vị tiên đã thoát tục.

Phía đông nam dưới chân vách đá có một thành nước nổi tiếng, được xây dựng bởi danh tướng nhà Minh là Kỳ Kế Quang để huấn luyện thủy quân. Dù đã trải qua hàng trăm năm, thành vẫn giữ được nguyên vẹn diện mạo ban đầu.

Bồng Lai xưa là Đăng Châu, thời nhà Đường rất phồn thịnh, thời nhà Minh là trọng trấn của thủy quân, đến thời cận đại vị thế có phần suy giảm, nhưng cảnh đẹp của Bồng Lai Các vẫn trường tồn, luôn là nơi ngưỡng mộ của du khách.

Bốn thầy trò du ngoạn đến đây, khác với những du khách thông thường, họ đến để chiêm ngưỡng một cảnh đẹp khác.

Vì “quét sạch tứ cựu”, các ngôi chùa trên núi đều bị đóng cửa, bốn thầy trò không vào chùa, không lên Bồng Lai Các, mà chọn một chỗ ngồi trên đỉnh vách đá, đối diện với bầu trời trong xanh và biển cả, bắt đầu ngắm cảnh.

Biển cả, đối với con người, luôn là một điều bí ẩn khó lường.

Bốn người trên biển cả này sẽ nhìn thấy những cảnh tượng càng thêm bí ẩn khó lường.

Bốn thầy trò ngồi xếp bằng thành một hàng, nhắm mắt tập trung vận công. Dần dần mở mắt, hai tay từ từ hướng về phía biển, từ dưới lên trên nâng nhẹ, toàn thân rung nhẹ, khiến người khác khó có thể nhận ra, trong những động tác này đã đưa một lực lượng vô cùng lớn về phía mặt nước xa xôi.

Vô Cực đạo nhân bắt đầu đọc thần chú, lại điều động một sức mạnh siêu thường.

Con rùa linh nằm yên bên cạnh Vương Lực Bình, cũng đang chờ đợi sự thay đổi trên mặt biển.

Ban đầu, mặt biển không có gì thay đổi khác thường. Sóng không nổi, hơi nước bốc lên, mây trên đá như sương mù, mênh mông xa thẳm.

Không lâu sau, sương mù trên biển bắt đầu phình to, dần dần hình thành một bức tường sương dài và rộng. Trong bức tường sương đó, dần xuất hiện những thứ chuyển động, mờ ảo như có cảnh vật hiện ra, cảnh tượng đó hiện lên lúc rõ lúc mờ, có núi non, có lầu các, có xe ngựa, có người, lơ lửng, hư hư thực thực, như mơ như ảo, biến đổi không ngừng.

Bốn người bắt đầu tập trung chú ý, quan sát kỹ lưỡng từng chi tiết của ảo ảnh này, xem sự thay đổi của nó, dùng tâm để cảm nhận, dùng thần để đọc hiểu.

Ảo ảnh ban đầu giống như một bức tranh thủy mặc tráng lệ, đột nhiên gió mây biến đổi, một ngọn núi hiểm trở sừng sững hiện ra. Chốc lát sau, ngọn núi đảo ngược, người như sóng cuộn, đè ép lẫn nhau, cũng đảo ngược, treo lơ lửng dưới xe ngựa. Ngọn núi dần biến thành mấy tòa nhà cao và mảnh, lắc lư, rồi nhanh chóng sụp đổ, tan thành mây khói. Bỗng nhiên, lại có sợi khói mây sinh ra, từ đó dần dần xuất hiện một chiếc thuyền buồm, xung quanh thuyền không phải là sóng nước mà giống như một đàn cừu, lại có người dùng roi xua đuổi. Chiếc thuyền buồm mọc ra hai cánh, một cánh rất dài, một cánh lại cực ngắn, như bị gãy, rất kỳ lạ.

Tất cả những cảnh tượng này lướt qua, rồi xuất hiện một khung cảnh Giang Nam, ruộng nước xếp tầng, nhà ngói san sát, trâu bò đi trên bờ ruộng, trẻ con chơi đùa trước làng, một khung cảnh hòa bình yên ả. Trong chớp mắt, những ngôi nhà biến thành hình dáng chiếc xe hơi, bay lên mây xa, không biết trôi về đâu.

Bốn thầy trò thu pháp, ảo ảnh trên biển biến mất không còn dấu vết. Mặt biển vẫn yên bình, bầu trời vẫn trong xanh. Ánh nắng chiếu xuống, chỉ thấy nước biển lấp lánh những gợn sóng nhỏ.

Ba vị lão nhân đều có vẻ mặt nghiêm túc, chỉ có Vương Lực Bình là chưa hiểu được ý nghĩa thực sự mà ảo ảnh truyền tải, anh nhìn ba vị lão nhân với ánh mắt thắc mắc.

Vô Cực đạo nhân đặt con rùa linh vào lòng bàn tay, lặng lẽ nhìn một lúc, rồi ngẩng đầu nhìn ra mặt biển, chìm vào suy tư, như đang hồi tưởng, tìm kiếm manh mối để hiểu.

Thanh Tĩnh sư phụ nói: “Có nên quan sát lại một lần nữa không?”

Vô Cực đạo nhân gật đầu.

Bốn người bắt đầu tái hiện pháp thuật, sương mù trên biển bốc lên, ảo ảnh lại xuất hiện. Mờ ảo, lờ mờ, lúc ẩn lúc hiện, biến đổi không ngừng. Có núi, có nước, có cây cối, có đồng ruộng, có nhà cửa, có lầu các, có người, có chim muông thú vật. Lại như có một số cảnh tượng, tình tiết đan xen trong đó. Lại xuất hiện những đám người đảo ngược, những tòa nhà nghiêng đổ, dòng nước như mây. Ba vị lão nhân vừa ngắm cảnh vừa thảo luận, ý nghĩa của ảo ảnh dần dần trở nên rõ ràng. Vương Lực Bình nghe ba vị lão nhân thảo luận, cũng dần dần hiểu được cách quan sát cảnh tượng.

Hóa ra cảnh tượng này truyền tải chính là một loại “thiên cơ”, thông tin về sự thay đổi của xã hội trong tương lai.

Những gì độc giả đang thấy là một loại câu đố khác, cũng chính là hiện tượng mà người ta thường gọi là “ảo ảnh trên biển” 

Khoa học hiểu về “ảo ảnh trên biển” theo nghĩa vật lý thuần túy, tức là chỉ dừng lại ở mức độ “hạ tam giới”. Nó phân tích điều kiện xuất hiện của “ảo ảnh trên biển” từ góc độ quang học, ví dụ như hơi nước trong không khí phải phân bố đều, hạt nước phải có hình elip, v.v. Để phản chiếu cảnh vật từ xa qua lớp sương mù này, còn cần có các điều kiện khí tượng nghiêm ngặt khác. Vì vậy, theo vật lý, “ảo ảnh trên biển” không phải là không thể xuất hiện, mà là rất khó xuất hiện; nơi đây xuất hiện “bóng”, thì nơi khác ắt phải có “thực” tương ứng, nếu không thì không thể giải thích được.

Đạo gia không “giải thích” hiện tượng “ảo ảnh trên biển” này, mà là muốn “tạo ra” nó. Điều họ muốn giải thích là ý nghĩa mà ảo ảnh này thể hiện.

Ông Vương Lực Bình kể rằng, các đạo sĩ già hầu như năm nào cũng đến bờ biển để “tạo” và quan sát cảnh tượng, muốn cảnh tượng đó tồn tại bao lâu thì nó sẽ tồn tại bấy lâu. Đây không phải là “ngàn năm có một”, mà là có thể thực hiện bất cứ lúc nào. Mọi người không tin điều này, nhưng có thể làm thí nghiệm để kiểm chứng. Ý nghĩa mà “cảnh tượng” đó thể hiện, cần có kiến thức và kinh nghiệm phong phú mới có thể giải mã được.

Khi còn ở Phủ Thuận, ba vị lão nhân đã truyền dạy cho Vương Lực Bình phương pháp tạo cảnh trên mặt nước, địa điểm là hồ chứa nước Đại Hộ Phòng ở phía đông Phủ Thuận. Vương Lực Bình thường xuyên luyện tập dưới ánh mặt trời bên bờ nước công. Nhưng mặt nước ở đây không lớn, công phu khó mà thi triển, cảnh tượng tạo ra không rõ ràng, anh có thể nhìn thấy, nhưng người khác có nhìn thấy hay không thì khó mà nói chắc.

Giờ đây đến bờ biển, nước biển mênh mông, như rồng gặp nước, có thể thi triển công phu, thể hiện thần thông. Bốn thầy trò cùng lúc thi triển pháp thuật, ảo ảnh trên biển xuất hiện, còn gì khó khăn nữa?

Đối với tất cả những hiện tượng kỳ lạ này, con người có thể mãi mãi thảo luận, nhưng nếu chỉ bó hẹp trong kiến thức, phương pháp và công cụ hiện có, thì những hiện tượng này cũng sẽ mãi mãi chỉ là một “bí ẩn”.

Ngũ uẩn giai không, không mà chẳng không. Vũ trụ là thế giới đa tầng.

Người viết cuốn sách này, trong mắt người thường, một hiện tượng thuần túy vật lý như “ảo ảnh trên biển”, tại sao lại có thể ẩn chứa và dự báo những bí ẩn về sự thay đổi của xã hội?

Ông Vương Lực Bình mỉm cười, nói:

“Đó là giấc mơ của vũ trụ.”

Đây là một câu nói đầy ý nghĩa, nó nói lên bản chất của vấn đề.

Mờ ảo, nhưng trong lòng chúng ta lại cực kỳ minh mẫn. Tất cả những gì chúng ta nhìn thấy đều thay đổi. Trời đất trên dưới, nhật nguyệt tinh thần, núi non đồng nội, sông ngòi biển cả, cây cỏ hoa lá, thú vật chim muông, gió lửa sấm chớp, tuyết mưa băng giá, xuân hạ thu đông, ngày đêm nóng lạnh, quyền quý dân thường, nam nữ già trẻ, tất cả đều đang xoay vần, hòa quyện, phân ly, biến hóa, không trên không dưới, không trước không sau, không trái không phải, không tiến không lùi, một xoáy nước khổng lồ, cuốn hút tất cả vào trong, rồi lại ném tất cả ra ngoài. Biến hóa phức tạp, khí tượng vạn thiên. Trông có vẻ hỗn loạn, nhưng lại có trật tự rõ ràng.

Vũ trụ, tự nó có tư duy, linh tính, và hàng ngàn ngôn ngữ đặc biệt.

Trái đất này cũng nhỏ như hạt cát, vũ trụ này cũng nhỏ như giọt nước. Chúng đều là những cơ thể sống, chúng có bộ não của chúng, và bộ não đó đang tạo ra những “giấc mơ” tỉnh táo.

Mọi thứ của con người đều giống với vũ trụ, con người bắt nguồn từ vũ trụ Con người có giấc mơ của con người, vũ trụ có “giấc mơ” của vũ trụ.

Người có công phu có thể nhìn thấy giấc mơ của người khác, cũng có thể nhìn thấy “giấc mơ” của vũ trụ; họ đang giải mã giấc mơ của con người, cũng đang giải mã “giấc mơ” của vũ trụ.

Kinh Dịch – Hệ Từ viết:

Trời cao đất thấp, càn khôn đã định. Thấp cao đã bày, quý tiện đã định. Động tĩnh có quy luật, cương nhu đã phân. Phương hướng theo loại mà tụ, vật theo nhóm mà chia, cát hung sinh ra. Trên trời thành tượng, dưới đất thành hình, biến hóa hiện ra.

Lại viết:

Thánh nhân đặt quẻ xem tượng, viết lời để rõ cát hung. Cương nhu đẩy nhau, sinh ra biến hóa. Cho nên cát hung là tượng của được mất. Hối lận là tượng của lo âu. Biến hóa là tượng của tiến thoái. Cương nhu là tượng của ngày đêm. Sáu hào động, là đạo của tam cực. Cho nên, quân tử ở yên mà an, là theo thứ tự của Dịch. Vui mà chơi, là lời của hào. Cho nên, quân tử ở yên thì xem tượng mà chơi lời. Động thì xem biến mà chơi chiêm. Nhờ đó mà trời giúp, cát không gì không lợi.

Kinh Dịch nói về “quan sát”, để giải mã bí mật của vũ trụ và nhân sinh, có thể nói là đạt đến đỉnh cao của sự quan sát.

Vũ trụ vốn là một khối hỗn độn vô cực, một đám hỗn mang. Sau đó, hỗn độn mới mở ra, âm dương bắt đầu phân định, thanh trọc bắt đầu phân chia, càn khôn định vị. Trên trời có nhật nguyệt tinh thần, phong vân lôi điện; dưới đất có đông tây nam bắc, sơn xuyên hồ hải: giữa trời đất có bay nhảy động thực, xã hội loài người. Từ đó vạn vật hưng thịnh, một cảnh tượng tràn đầy sức sống. Lúc này, núi là núi, nước là nước, người là người. Con người trong đó, việc vượt trước hay tụt hậu đã không còn rõ ràng. Trương Quả Lão muốn nhìn rõ những chuyện đã qua, để thấy trong năm tháng có nhiều nhân vật tài năng xuất chúng ông luôn cưỡi lừa ngược. Đây là phương pháp quan sát của người trí tuệ. Nhiều nhà khoa học cũng sử dụng phương pháp này, từ đó tìm hiểu xem những sự việc ngày nay bắt nguồn từ đâu.

Đạo gia sử dụng phương pháp quan sát này, một là để thấy rằng các sự vật hiện tại vốn dĩ đều xuất phát từ một nguồn gốc, giống như cây đại thụ với cành lá sum suê, “vốn cùng một gốc mà sinh ra”. Hai là để thấy rằng những sự vật hiện tại không phải là đối lập và cô lập tuyệt đối, mà là trong bạn có tôi, trong tôi có bạn, liên kết với nhau, trời người tương ứng, trời người hợp nhất. Có thể từ núi mà quan sát nước, từ nước mà tìm núi, từ núi nước mà quan sát nhân gian.

Có một bài thơ miêu tả tình yêu, đại ý là:

Nặn một cái em,
Nặn một cái anh,
Đập vỡ cả hai,
Nhào thành một cục.
Lại nặn một em,
Lại nặn một anh.
Trong anh có em,
Trong em có anh.

Bài thơ tình này thoạt nhìn có vẻ giản dị, nhưng bên trong lại chứa đựng triết lý lớn, không chỉ khiến người yêu thích, mà còn khiến những người yêu thiên nhiên say mê.

Đạo gia từ đây lại đào sâu thêm, phát triển thêm, họ muốn từ những điều bình thường nhìn ra sự kỳ lạ, từ hơi nước biển nhìn ra sự biến đổi của xã hội.

Bạn nói điều này không có lý?

Nếu bạn hiểu được lý thuyết thiên nhân hợp nhất, thiên nhân tương ứng, bạn sẽ ngộ ra đạo lý trong đó.

Chương 15: Đạo Pháp Tự Nhiên

Sau khi bốn thầy trò ngắm cảnh ở Bồng Lai, họ đã đi thuyền theo đường biển đến Lữ Thuận, rồi tiếp tục du ngoạn dọc theo phía đông bán đảo Liêu Đông hướng về phía đông bắc.

Khi những cơn gió lạnh cuối thu thổi qua ngày càng mạnh, lá cây từ xanh chuyển sang vàng và rơi rụng khắp núi đồi, bốn người đã tiến vào vùng núi Trường Bạch mênh mông.

Hôm đó, bốn người bước đi trên lớp lá khô dày đặc, đi qua một khu rừng bạch dương cao lớn và rậm rạp, bỗng nghe thấy một tiếng kêu nhẹ bay theo gió. Đi theo tiếng kêu, họ đi khoảng nửa dặm, đến một sườn đồi đá lởm chởm, phía sau một tảng đá lớn có một cây bạch dương khổng lồ, gốc cây già nứt nẻ, bên dưới có một cái hang sâu, tiếng kêu phát ra từ đây.

Thanh Hư sư phụ nói: “Đây là hang sói, bên trong có sói con đang chờ được mớm mồi.”

Vương Lực Bình cảm thấy điều này thật thú vị, cúi người nghiêng tai nghe động tĩnh trong hang. Sói con bản tính cảnh giác, lúc này không phát ra một tiếng động nào.

Vương Lực Bình không nghe thấy gì, đang định nhặt một cành cây để thăm dò tình hình bên trong, thì Thanh Hư sư phụ sư phụ vội vàng ngăn anh lại, bước lên áp sát vào miệng hang, ra hiệu cho những người khác lánh đi. Chỉ nghe ông phát ra hai tiếng kêu ngắn, giống như tiếng gọi của sói mẹ, bên trong hang lập tức có động tĩnh. Chẳng mấy chốc, một chú sói con màu xám lông lá chui ra. Sói con nhìn ngó xung quanh; thấy không có sói mẹ, vội vàng quay đầu, kêu lên những tiếng ai oán và bò trở lại. Vương Lực Bình nhanh tay nhanh mắt, túm lấy sói con, vui mừng ôm vào lòng, không nỡ buông ra.

Vô Cực đạo nhân nhìn Thanh Tĩnh và Thanh Hư, cười nói: “Lại đến lượt các ngươi làm gì đó cho Vĩnh Sinh rồi.”

Hai vị sư phụ đúng là có ý đó, liền gọi Vương Lực Bình mang theo sói con, nhanh chóng rời khỏi hang sói. Bốn người thi triển khinh công, trong chớp mắt đã vượt qua rừng bạch dương và đi xa.

Bốn người vượt qua hai ngọn núi, lội qua một con suối lạnh giá, đến một vùng đất bằng phẳng rộng lớn. Trên đường có một chiếc xe tải chở đầy gỗ đang lao tới, bốn người thần không biết quỷ không hay đã lên xe, để chiếc xe chở họ đến bất cứ nơi nào.

Bốn người ở trên xe cả buổi chiều, chiếc xe có lẽ đã đi xa hàng trăm dặm. Vô Cực đạo nhân ra hiệu, bốn người rời khỏi xe, nhẹ nhàng đáp xuống đất, rẽ vào những ngọn núi cao chót vót.

Bốn người đến một nơi tương đối bằng phẳng trên sườn núi, nơi đây những cây vân sam cao lớn và những cây thông cổ thụ đan xen vào nhau, cùng với những bụi cây rậm rạp. Đúng lúc hoàng hôn, bốn người ngồi nghỉ dưới một cây thông lớn cành lá sum suê, lấy ra một ít lương khô để ăn.

Sói con đói đến mức kêu lên, Vương Lực Bình nhai nhỏ lương khô, rồi từng chút một đút cho nó.

Đúng lúc này, một tiếng hú xé lòng vang lên. Bốn người cảnh giác, chỉ thấy một con sói xám to lớn từ trong bụi cây nhảy vọt ra. Nó nhìn thấy đám người, liền lao đến cách họ vài trượng rồi dừng lại, hai mắt đăm đăm nhìn vào chú sói con trong tay Vương Lực Bình, miệng lộ ra những chiếc răng nanh sắc nhọn, thở hổn hển, bầu vú dưới bụng lắc lư, đang chờ cơ hội lao tới.

Vương Lực Bình âm thầm vận khí, chuẩn bị đối đầu với sói mẹ. Sư gia ra lệnh cho Vương Lực Bình không làm hại sói mẹ, nhanh chóng thả sói con về. Vương Lực Bình vâng lệnh, nhẹ nhàng đặt sói con xuống đất.

Sói con nhanh chóng lăn bò về phía sói mẹ. Sói mẹ không đợi sói con bò đến gần, liền nhảy tới, ngậm lấy sói con, quay đầu biến mất trong rừng rậm.

Vương Lực Bình vừa cảm thấy nhẹ nhõm, không ngờ con sói xám lớn lại quay trở lại trước mặt, vẻ mặt còn hung dữ hơn lúc trước. Nó áp miệng xuống đất phát ra một tiếng gầm dài, sau đó từ xa vang lên liên tiếp những tiếng hú rõ ràng. Bốn thầy trò liếc nhìn xung quanh, phát hiện ra rằng đã có vài con sói xám đang di chuyển xung quanh, đang tìm cơ hội lao tới.

Vô Cực đạo nhân nói một tiếng “lên cây”, bốn người “vút” một cái rời khỏi mặt đất, con sói xám lớn lao tới, suýt nữa đã tóm được Vương Lực Bình. Bốn người ngồi trên cây, đàn sói dưới gốc cây chạy qua chạy lại, há miệng đỏ lòm gầm gừ lên trên. Vương Lực Bình thấy đàn sói như vậy, không khỏi hít một hơi lạnh. Anh hỏi sư gia và sư phụ: “Làm thế nào bây giờ?”

Sư gia và sư phụ đều cười. Vương Lực Bình bị cười mà không hiểu vì sao.

Vô Cực đạo nhân nói: “Chính con đã dụ đàn sói đến, con hãy nghĩ cách dẫn chúng đi, sao lại quay lại hỏi chúng ta? Lão phu mệt rồi, nhân lúc này ngủ một giấc đã.” Nói xong, ông dựa vào cành cây, nhắm mắt lại, thực sự như đang ngủ.

Hai vị sư phụ nhìn đàn sói hung dữ, cũng không nói gì.

Vương Lực Bình không còn cách nào, nghĩ thầm, “Lần này lại bị ba vị lão nhân ‘tính toán’ rồi. Thôi được, để xem công phu của ta, ta sẽ khiến các ngươi có đến mà không có về.” Liền vận khí ngũ nội hỗn nguyên, giơ nắm tay phải lên.

“Không được sát sinh!” Chỉ nghe sư gia quát.

Thanh Tĩnh sư phụ vội nói: “Chỉ dùng ba phần lực, để chúng sống.”

Vương Lực Bình vâng lệnh, đột nhiên vung một chưởng, một luồng ánh sáng trắng lóe lên, con sói xám lớn và hai con sói khác lặng lẽ ngã xuống, không động đậy nữa. Vương Lực Bình trong lòng hơi giật mình, không ngờ dùng lực không lớn mà lại giết chết ba con sói, giờ đã phạm vào giới sát sinh, tội lỗi thật nặng nề.

Vương Lực Bình lúc này đã sử dụng chiêu thức nổi tiếng “Ngũ Lôi Chưởng”. Chiêu thức này xuất kích nhanh như chớp, lực đạo ngàn cân, nhưng điểm tuyệt diệu của nó là vật bị đánh bên ngoài vẫn nguyên vẹn, nhưng bên trong cơ thể lại có một lực nổ vô cùng lớn, có thể làm nứt nội tạng. Chiêu thức này trong Đạo gia từ xưa đến nay chỉ dùng để phòng thân, tuyệt đối không dùng để tấn công sát thương.

Thanh Tĩnh đạo nhân tu luyện chiêu thức này nhiều năm, kỹ thuật điêu luyện, truyền hết cho Vương Lực Bình. Hai thầy trò cùng nhau nghiên cứu, công phu đều đạt đến cảnh giới thần hóa. Bình thường thì kết hợp với “Vũ Bộ”, trong lúc di chuyển đột nhiên xuất chiêu, uy lực càng thêm vô cùng.

Nhưng sư gia có lệnh, không được dùng công phu này để sát sinh. Sư phụ luôn tuân theo mệnh lệnh. Lần trước trong lúc luyện tập, vô tình làm Vương Lực Bình bị thương, Thanh Tĩnh sư phụ đau lòng như lửa đốt. Lần này Vương Lực Bình thử nghiệm chiêu thức này lần đầu, Thanh Tĩnh sư phụ liền ra lệnh anh chỉ được dùng một chút lực, để tránh gây tổn thương tính mạng.

Ba con sói ngã xuống, không những không làm đàn sói sợ hãi mà những con còn lại càng trở nên hung dữ hơn, mắt lóe lên ánh xanh, nhảy lên cao, gào thét dữ dội. Vương Lực Bình không dám dùng chưởng nữa, bẻ một cành cây ném xuống, mấy con sói lao tới, xé nát cành cây. Đàn sói cũng không biết làm sao, lại có mấy con áp miệng xuống đất, phát ra những tiếng hú ai oán, trong thung lũng lập tức vang lên tiếng vọng, lại có mấy con sói hoang chạy tới, đàn sói càng thêm đông đúc.

Thanh Tĩnh đạo nhân thấy Vương Lực Bình không còn cách nào, liền nói với anh: “Bình tĩnh, chúng ta có cách để lui binh. Sói vốn hung dữ, sống theo bầy đàn, một con gặp nguy hiểm, cả đàn sẽ kéo đến, nếu dùng cách này, chúng sẽ càng ngày càng đông, đánh không xuể. Tuy nhiên, sói có thiên địch, sợ nhất là hổ, chỉ cần một con hổ xuất hiện, đàn sói sẽ tự tan rã.”

Nói xong, Thanh Tĩnh ra hiệu cho Thanh Hư, hai người đặt tay lên miệng, vận đủ khí lực, đột nhiên phát ra một tiếng gầm vang trời dậy đất, như thể đàn hổ từ trên trời giáng xuống. Đàn sói nghe tiếng, lập tức sững sờ: không kịp nhìn quanh, vội vàng cụp đuôi chạy tán loạn.

Tiếng gầm này do có nội lực cực lớn, như sấm rền, vẫn còn vang xa Vương Lực Bình cảm thấy nội tạng của mình cũng bị rung chuyển, thật là một tiếng “hổ gầm” kinh khủng! Đây là công lực còn uy mãnh hơn cả “Ngũ Lôi Chưởng”.

Vô Cực đạo nhân nhẹ nhàng đứng dậy, bước tới dùng tay sờ vào bụng ba con sói, liên tục nói “Tạo hóa, tạo hóa! May mà không làm tổn thương nội tạng, chỉ bị chấn động ngất đi.” Liền vận công đánh thức ba con sói. Vương Lực Bình đã chạy đi tìm, dưới một tảng đá lửa tìm thấy sói con. Sói con cũng bị tiếng “hổ gầm” vừa rồi dọa đến mức nửa tỉnh nửa mê. Vương Lực Bình ôm sói con về, đặt vào lòng sói mẹ. Nhìn bốn sinh linh từ từ tỉnh lại, Vương Lực Bình mới thở phào nhẹ nhõm.

Ba vị lão nhân thấy cảnh này, không khỏi nhìn nhau cười.

Trời đã tối, bốn người rời khỏi nơi này, đi tìm một chỗ nghỉ ngơi.

Ngày hôm sau, Vương Lực Bình vẫn nghĩ về chuyện hôm qua, xin sư phụ dạy anh phương pháp “hổ gầm”. Hai vị sư phụ liền truyền cho anh “phương pháp phun thổi”, còn gọi là “pháp chú âm”.

Sư phụ giảng giải, khi loài người mới bắt đầu sống trên đất liền, môi trường sống vô cùng khắc nghiệt, thường xuyên bị các loài thú dữ tấn công. Mọi người sống tập trung thành bộ lạc, khi gặp nguy hiểm liền phát ra một loại âm thanh để gọi đồng loại, “phun thổi” là một khả năng vốn có của con người. Ngay cả bây giờ, khi gặp nguy hiểm, người ta cũng kêu “mẹ ơi”, hoặc kêu “trời ơi”, hy vọng nhận được sức mạnh giúp họ thoát khỏi nguy hiểm.

Qua quá trình quan sát lâu dài, người ta phát hiện ra rằng âm thanh cũng là một loại lực lượng rất phức tạp. Ở mức độ thấp nhất, mọi vật đều có thể phát ra âm thanh một cách thụ động hoặc chủ động, mỗi loại âm thanh đều đại diện cho nội dung vốn có của nó, có ý nghĩa bên trong. Đối với động vật, tiếng kêu và tiếng kêu có mối quan hệ tương sinh, tương hòa, tương khắc, tương chế. Ví dụ, một con chim hót cao sẽ thu hút hàng trăm con chim khác hót theo. Còn tiếng kêu của mèo sẽ khiến chuột chui vào hang trốn tránh. Đây là nguồn gốc của “pháp chú âm” được hiểu ở mức độ thấp nhất. Nếu nhìn “pháp chú âm” ở mức độ cao hơn, thì nó sẽ phức tạp và thần bí hơn, một loại âm thanh đặc biệt chứa đựng sức mạnh mà con người không nhìn thấy được. Điều này đối với người thường khó mà hiểu được, nhưng nó thực sự tồn tại, thực sự hữu dụng.

Đây là một loại công phu cao cấp.

“Pháp chú âm” được đề cập ở đây khác xa với “khẩu kỹ” mà người thường nói. Khẩu kỹ chỉ là sự bắt chước đơn giản một loại âm thanh nào đó, nó không chứa đựng “nội công lực”. Còn “chú âm” là thông qua hình dạng miệng để truyền âm, phát ra một loại nội công lực. Do vận dụng những nội hàm khác nhau, nghe có vẻ giống nhau hoặc tương tự, nhưng “nội lực” của nó rất khác biệt, công dụng cũng không giống nhau. Đến giai đoạn cao hơn, việc phát ra âm thanh đã trở thành thứ yếu, đôi khi có thể không cần phát ra âm thanh, mà chỉ dựa vào sự rung động nội tạng để phun ra dòng “bơm”, bên trong nó chứa đựng năng lượng khổng lồ, lan truyền đến những nơi xa xôi. Dòng “bơm” này có thể làm rung chuyển nội tạng tương ứng của con người cũng như những thứ khác. Sử dụng công phu này có thể chữa bệnh cho người, cũng có thể khống chế người, v.v. Đây thuộc về công phu sơ cấp của “niệm chú”.

“Niệm chú” cần nội công tu luyện đến một mức độ nhất định mới phát huy hiệu quả, vì vậy đây là thuật nội công cao cấp. Đây chính là vấn đề “linh hay không linh” mà người thường nói. Cùng là những chữ này, những âm này, nếu bạn không có nền tảng nội công, bạn niệm, nó cũng không có “lực”, cũng không “linh”. Còn người có nền tảng nội công niệm, thì có “lực”, sẽ “linh”. Điều này giống như nguyên lý của việc vẽ “bùa”.

Tại sao Đạo gia nhấn mạnh việc tu “tính”, nhấn mạnh tu luyện nội công? Lý do nằm ở đây. Tu “tính” là đặt nền móng đúng đắn, mọi công phu đều bắt nguồn từ đại đạo, phục vụ cho đại đạo. Người tâm không chính, tính không thuần sẽ không thể bước vào cửa này. Yêu cầu tối thiểu là không được sát sinh, không sử dụng công phu để mưu cầu lợi ích cá nhân, làm việc xấu. Còn việc tu luyện nội công có thể dẫn đến hàng ngàn loại công phu, những công phu này đều là những bậc thang, từ đó leo lên đến cảnh giới cuối cùng. Dừng lại ở một loại công phu cũng là một sự chấp trước, đó là không ngộ được đại đạo.

“Pháp chú âm” có thể là một phương pháp để con người ảnh hưởng lẫn nhau, truyền đạt thông tin giữa con người với động vật, con người với các lực lượng khác. Ở mức độ thấp nhất, có thể gọi người đến, cũng có thể đuổi người đi; có thể thu hút một loài động vật, cũng có thể làm một loài động vật sợ hãi bỏ chạy. Khoa học hiện nay đã chú ý đến những hiện tượng này, bắt đầu nghiên cứu về động vật “Ngôn ngữ”. Mặc dù có nhiều kiến thức trong lĩnh vực này, nhưng trong mắt Đạo gia, đây vẫn là ở mức độ rất thấp.

Đạo gia không bỏ qua việc nghiên cứu ở mức độ này, nhưng họ vượt qua nghiên cứu ở mức độ này. Họ muốn truyền tải nhiều thứ hơn thông qua “âm thanh” này, khiến nó làm được nhiều việc quan trọng hơn. Họ còn muốn phát ra “âm thanh” không lời, truyền tải những sức mạnh thần bí hơn, làm những việc không ngờ tới.

Con người đã trải qua hàng triệu năm lịch sử, nhưng vẫn chưa có kết luận chắc chắn. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn là trong quá trình phát triển của con người, có cả sự tiến hóa và thoái hóa.

Con người có thể tồn tại trong điều kiện nguyên thủy khắc nghiệt, sinh sôi đến ngày nay, chắc chắn đã có khả năng thích nghi sinh tồn khác thường so với người hiện đại.

Ngũ quan, mắt tai mũi lưỡi thân, chức năng chính của chúng là để cảm nhận thế giới vật chất hoặc hiện tượng. Ngoài ra, cơ thể con người có tồn tại các giác quan khác không? Và thế giới hiện tượng không phải là sự tồn tại đơn lẻ, mà là một tổ hợp đa yếu tố, chỉ dùng một giác quan để cảm nhận một mặt hoặc một yếu tố, thì không thể nắm bắt được thế giới này. Và giác quan có thể cảm nhận, nếu không có “tâm” và “não”, thì cuối cùng cũng không thể hình thành “phán đoán”, cảm mà không cảm. Chưa kể đến sự tồn tại của hiện tượng siêu giác quan, cần phải có phương tiện và khả năng siêu giác quan.

Con người có phương tiện và khả năng siêu giác quan, điều này không còn nghi ngờ gì nữa: chỉ là những phương tiện và khả năng này ở một số người đang ở trạng thái “hiển”, còn ở những người khác thì ở trạng thái “ẩn” hoặc “tiềm ẩn”.

Đạo gia chú trọng tu luyện nội công, chính là để chuyển đổi những phương tiện và khả năng này từ “ẩn” sang “hiển”, đây không phải là thần thoại mà là hiện thực. Đạo gia dựa vào những phương tiện và khả năng này, khám phá một thế giới rộng lớn hơn, phong phú hơn, kỳ diệu hơn, họ đang thực hiện một sự nghiệp vĩ đại, sự nghiệp này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với hiện tại và tương lai của nhân loại.

Vương Lực Bình trong quá trình tu luyện “pháp chú âm”, thuật triệu hồi bách thú, anh cảm nhận sâu sắc rằng giữa con người và động vật, thậm chí mọi sinh mệnh, vốn dĩ có sự thân thiết và thông suốt, giữa con người và tự nhiên không có rào cản, cũng không tồn tại hố sâu ngăn cách, con người và tự nhiên cùng chung sống, con người có thể đi sâu vào mọi lĩnh vực của tự nhiên, hòa làm một với tự nhiên.

Tự nhiên là mẹ của nhân loại, nhân loại là đứa trẻ của tự nhiên. Con người là linh hồn của vạn vật, vạn vật lại là thầy của con người.

Ông Vương Lực Bình nói với người viết cuốn sách này: “Mặc dù tôi có sư gia và sư phụ chính thống, nhưng thực tế tôi còn có nhiều người thầy khác, cả những người nổi tiếng và không nổi tiếng. Trong số những người thầy này, có người sống, cũng có người đã khuất; có động vật, cũng có thực vật; có những sinh vật sống, cũng có những thứ không có ‘sự sống’, thậm chí cả mặt trời, mặt trăng, và các vì sao. Những gì họ và chúng dạy tôi không thể kể hết. Họ dạy tôi khi tôi tỉnh táo, và dạy tôi nhiều hơn trong giấc mơ. Tôi được dạy dỗ bởi cả vũ trụ.”

Nói đến đây, ông Vương Lực Bình nhìn ra ngoài cửa sổ một cây liễu, cảm thán: “Cây cối này cũng giống như con người, cũng có tình cảm!” Thần thái khi ông nói, giống như đang đối mặt với một người bạn cũ quen biết từ lâu, lại giống như nhìn thấy một bậc trưởng bối, một người thầy, hoặc một người đáng kính.

Mùa thu ở Trường Bạch Sơn trôi qua rất nhanh, mùa đông đến một cách vội vã. Trong chớp mắt, gió lạnh đã gào thét, tuyết phủ trắng xóa, rừng núi đột nhiên trở nên tĩnh lặng.

Bốn thầy trò đêm đó ngồi thiền qua đêm trong một hang động, sớm cảm nhận được mây đen kéo đến, lặng lẽ rơi những bông tuyết lớn. Sáng hôm sau, Vương Lực Bình bước ra ngoài nhìn, ha! Thật là một thế giới bạc phủ trắng xóa. Tuyết đè lên cây tùng, những ngọn núi ngọc sừng sững, thật là đẹp mắt.

Vương Lực Bình bước đi trên tuyết trắng, tâm trạng lại trở về thời thơ ấu khi cùng bạn bè chơi đánh trận tuyết, nặn người tuyết, không khỏi nắm lấy những nắm tuyết, ném về phía xa.

Chơi một lúc, Vương Lực Bình nghĩ ba vị lão nhân tuổi đã cao, trong thời tiết này trời lạnh giá như vậy, quần áo mỏng manh, chắc chắn khó mà chịu đựng được, chi bằng nhặt một ít củi khô, mang về sưởi ấm.

Thanh Hư sư phụ thấy Vương Lực Bình ôm một ít cành khô và củi khô vào hang, liền hỏi: “Ôm những thứ này làm gì vậy?”

“Để nhóm lửa sưởi ấm. Sư phụ không lạnh sao?”

Sư phụ cười: “Thời tiết ấm áp như vậy, còn cần nhóm lửa sao? Con không sợ chúng ta bị nóng chảy à?”

Vương Lực Bình không trả lời, trong lòng nghĩ, sư phụ lại đùa rồi. Anh bước lại sờ tay sư phụ, lạnh buốt. Rồi lại sờ tay sư gia, cũng lạnh cóng. Anh kêu lên: “Sắp đóng băng thành que kem rồi, còn nói là ấm áp!”

Thanh Tĩnh sư phụ cười nói: “Đã thành que kem, thì chẳng phải càng cảm thấy nóng hơn sao?”

Vương Lực Bình chợt ngộ ra.

Thanh Hư đạo nhân nói: “Đi theo ta.” Dẫn Vương Lực Bình ra khỏi cửa hang, bước vào biển tuyết mênh mông.

Thanh Hư sư phụ đi đến một chỗ bằng phẳng, dạy Vương Lực Bình phương pháp luyện tuyết.

Tuyết dày khoảng nửa thước, mềm mại như đường, rất thích hợp để làm đệm ngồi luyện công. Thanh Hư sư phụ dạy Vương Lực Bình trước tiên ngồi xếp bằng theo một tư thế đặc biệt, đồng thời đóng kín một số kinh mạch, điều chỉnh hơi thở và ý niệm, khiến nhiệt độ cơ thể giảm mạnh, đạt đến mức tương đương với nhiệt độ bên ngoài, nhưng ngọn lửa chân khí bên trong tuyệt đối không được tắt.

Vương Lực Bình đã tu luyện đến mức này, có thể tùy ý đóng mở bất kỳ kinh mạch và huyệt đạo nào trên cơ thể. Giờ đây, chỉ cần được sư phụ chỉ dẫn, anh nhanh chóng hiểu ra. Làm theo lời sư phụ, quả nhiên nhiệt độ cơ thể giảm xuống, dần dần không còn cảm thấy lạnh giá của băng tuyết nữa.

Điều kỳ lạ nhất là, khi anh làm như vậy, dường như có một khí bao bọc bên ngoài cơ thể, tuyết không rơi xuống người, mà trượt sang một bên cách xa khoảng một thước. Mặc dù tuyết rơi dày đặc, nhưng trên người lại không có một bông tuyết nào.

Luyện công trong băng tuyết, điều này khó mà tin được, nhưng trong tự nhiên không thiếu những ví dụ như vậy. Thực vật thì không cần bàn, trong động vật cũng thường thấy. Chúng đều điều chỉnh thân nhiệt để thích nghi với sự thay đổi nhiệt độ và bảo tồn sự sống.

Nhớ có một tài liệu nói rằng, ở một hòn đảo phía bắc nước Anh có một loài rắn. Loài rắn này đến mùa đông sẽ trở thành một khối lạnh cứng, hoặc một dải dài cứng đờ, giống như bị đóng băng đến chết. Người dân địa phương thường lấy những con rắn này về làm đệm ngồi, hoặc nhặt một con rắn làm gậy chống. Nhưng đến mùa xuân năm sau, khi nhiệt độ tăng lên, băng tuyết tan chảy, những “khối” hay “dải” cứng đờ này lại trở nên mềm mại như tơ, tỉnh giấc từ trạng thái ngủ đông, khôi phục hình dáng ban đầu, bò ra khỏi nhà dân và trở về với tự nhiên để tiếp tục cuộc sống.

Thông thường, rắn đến mùa đông sẽ ngủ đông dưới lòng đất, nhưng loài rắn ở Anh này lại để mình bị đóng băng. Tại sao cơ thể chúng bị đóng băng mà không hư hại, không chết, và làm thế nào chúng có thể tỉnh lại? Nguyên lý đằng sau hiện tượng này vẫn chưa được làm rõ. Nhưng hiện tượng này ít nhất cho thấy rằng trong sinh vật tồn tại một loại sinh mệnh có khả năng điều chỉnh thân nhiệt và thích nghi mạnh mẽ với sự thay đổi của môi trường bên ngoài. Liệu cơ thể con người có thể được đông lạnh lâu dài, chết rồi sống lại? Điều này không phải là không thể, khoa học đang khám phá các điều kiện và kỹ thuật để đạt được điều này, một số quốc gia đã đi trước trong lĩnh vực này.

Đạo gia đi theo một con đường khác. Họ ngồi thiền trong băng tuyết một ngày, hai ngày, hoặc thậm chí lâu hơn. Khi ngồi thiền, họ luôn ở trạng thái tỉnh táo. Họ phải liên tục kiểm soát và điều chỉnh bản thân, luôn cảm nhận những thay đổi vi tế bên ngoài và bên trong cơ thể, để hai bên thích nghi với nhau. Khi tu luyện đến một mức độ nhất định, họ còn có thể khiến thân nhiệt tăng trở lại, đạt đến trạng thái bình thường, “chênh lệch” giữa thân nhiệt và nhiệt độ môi trường sẽ được bù đắp bằng một loại năng lượng khác. Đây là một cảnh giới khác của công phu.

Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên!

Sư phụ yêu cầu Vương Lực Bình ngồi thiền trên tuyết trong bốn canh giờ, sau đó thu công, mở lại các kinh mạch và huyệt đạo đã đóng, mở từng cái một theo một trình tự nhất định, dùng một chút chân hỏa để sưởi ấm toàn thân. Dần dần, Vương Lực Bình cảm thấy giác quan trên da hồi phục, thân nhiệt tăng lên, mới cảm nhận được hơi lạnh bao quanh, như đang ở trong một hầm băng.

Vương Lực Bình mở mắt nhìn, tuyết đã phủ dày hơn một thước, xung quanh anh đã đóng thành một vòng tròn cao ngang vai, chỉ để lộ một cái đầu nhô lên khỏi mặt tuyết.

Sư phụ gọi sư gia và Thanh Tĩnh sư phụ đến cùng chiêm ngưỡng. Thanh Tĩnh sư phụ lại nổi hứng, ném tuyết vào người Vương Lực Bình, hai thầy trò vui đùa trong biển tuyết, tiếng cười vang vọng trong không gian yên tĩnh của núi rừng.

Bốn thầy trò tiếp tục đi về phía bắc. Du ngoạn trên núi tuyết, tự nhiên thêm vô số niềm vui, nhưng cũng gặp không ít nguy hiểm. Dưới chân, thực hư khó phân biệt, khiến mọi người phải đặc biệt cảnh giác. Mặc dù Vương Lực Bình sinh ra và lớn lên ở vùng đông bắc, nhưng đây là lần đầu tiên anh đến sâu trong núi Trường Bạch, việc dẫn đường phía trước đương nhiên lại là nhiệm vụ của Thanh Tĩnh sư phụ.

Sư gia nói với Vương Lực Bình: “Vĩnh Sinh, nếu con rơi vào hố tuyết, thì cứ yên tĩnh ngồi tu luyện trong đó, đợi chúng ta du ngoạn xong quay lại, rồi mang con đi, chẳng phải tốt hơn sao?”

Vương Lực Bình nghiêm túc trả lời: “Tốt thì tốt, nhưng tuyết phủ kín núi, chim chóc cũng không thấy, sư tôn tìm đệ tử ở đâu? Chi bằng ba vị lão nhân về nhà nghỉ ngơi, đợi khi thời tiết ấm lên, băng tuyết tan thành nước, lũ núi dâng cao, ba vị chèo thuyền đợi ở hạ lưu, thấy con cá nào to nhất thì vớt lên, đệ tử đang ngồi thiền trong bụng nó đấy!”

“Tốt lắm, tốt lắm!” Ba vị lão nhân đều không nhịn được cười.

Hôm đó, bốn người vừa leo lên một đỉnh núi, bỗng thấy trên mặt tuyết in hai hàng dấu chân to lớn. Vương Lực Bình cúi xuống xem kỹ, lại giật mình, những dấu chân này lại là dấu chân trần, không biết ai đã đi lại trong vùng núi sâu này.

Sư gia đã chú ý đến những dấu chân này từ lâu, nói: “Xem ra càng sống càng có tinh thần.” Vương Lực Bình không hiểu ý, đi theo sư gia lần theo dấu chân đuổi theo.

Bốn người lần theo dấu vết, vượt qua một ngọn núi, bước trên lớp tuyết dày, rồi đi xuyên qua một khu rừng, thấy ở lưng chừng núi có một cây tùng cổ ngàn năm, tuyết đè lên cành tùng, như ô như lọng. Dưới gốc tùng có một căn nhà gỗ nhỏ, đơn sơ nhưng tinh tế, nổi bật giữa tuyết trắng. Trước nhà có một ông lão, thân hình cao lớn, mặc quần áo đơn giản và mỏng manh, đang thu nhặt tuyết trước nhà.

Vô Cực đạo nhân không khỏi ngâm:

Lão tùng hợp tiểu ốc,
Thâm sơn ẩn chân nhân.

Ông lão trước nhà cũng đọc lại một câu thơ trong trẻo:

Nộ hống thiên sơn chấn,
Nhất minh bách thú kinh.

Vương Lực Bình cảm thấy rất ngạc nhiên, anh biết rằng câu thơ mà ông lão ngâm chắc chắn ám chỉ sự việc bốn người gặp đàn sói vài ngày trước. Sự việc đã qua mấy ngày, lại cách xa hàng trăm dặm, ông lão này cũng nghe thấy tiếng gầm, biết được chuyện, chắc chắn là một cao nhân.

Ông lão trước nhà đã đón họ xuống núi, thi lễ nói: “Tiên đạo từ xa đến, bần đạo đang định lấy chút nước tuyết để đón tiếp các vị.” Bốn người đều đáp lễ, theo ông lão chân trần vào nhà.

Hóa ra ông lão chân trần này cũng không phải người thường, mà là hậu duệ của “Trường Bạch đại tiên” nổi tiếng, tự xưng là “Xích Cước đạo nhân”. “Xích Cước đạo nhân” nhiều năm ẩn cư trong núi sâu Trường Bạch, công phu phi phàm. Năm năm người gặp nhau, “Xích Cước đạo nhân” đã 77 tuổi, đến nay đã là 97 tuổi cao niên. Theo quy tắc của Đạo gia, Vương Lực Bình cũng tôn ông làm sư thúc.

Căn nhà gỗ của “Xích Cước đạo nhân” vô cùng đơn sơ, nhà được làm bằng gỗ nguyên khối, bên trong hầu như không có đồ đạc gì, chỉ có một “trường án” dùng để đặt đồ, cũng được làm bằng gỗ nguyên khối chống đỡ, không cần phải bào nhẵn hay đẽo gọt, thậm chí không đáp ứng yêu cầu tối thiểu là cưa cho bằng phẳng, tất cả đều thuận theo tự nhiên. Không có giường, chỉ có một đống cỏ khô, “Xích Cước đạo nhân” chia thành mấy phần, mời bốn vị “tiên khách” ngồi xuống đất. Từ trên trường án, ông lấy trái cây khô mời bốn người thưởng thức. Vương Lực Bình ăn trái cây rừng, liên tục khen “ngon quá”.

Xích Cước đạo nhân hỏi Vô Cực đạo nhân: “Sư tôn vì sao không ngại ngàn dặm, lội tuyết đến đây?”

Vô Cực đạo nhân đáp: “Chúng tôi đã đến đuôi núi Trường Bạch từ vài năm trước, vì muốn bồi dưỡng người kế thừa nên đã lưu lại đó một thời gian, nhưng vì thiên hạ đại loạn, đành phải dẫn đệ tử du ngoạn, trong ba năm đã đi khắp nửa Trung Hoa, giờ lại quay về. Vì nhớ tình nghĩa ngày xưa, nên lội tuyết đến thăm.”

“Cảm ơn sư tôn đã dành tình cảm sâu sắc, đệ tử thực không dám nhận, và mong được sư tôn cùng hai sư huynh chỉ giáo.”

Vô Cực đạo nhân liền giới thiệu người kế thừa Vương Lực Bình với Xích Cước đạo nhân, Xích Cước đạo nhân nhìn kỹ một lúc, rất vui mừng.

Vương Lực Bình lúc này mới hiểu, sư gia và sư phụ của anh tuy cách xa Xích Cước đạo nhân hàng ngàn dặm, nhưng lại là những đạo hữu từ lâu. Anh mới hiểu ý nghĩa câu nói của sư gia khi nhìn thấy dấu chân trên tuyết.

Đạo hữu gặp nhau, tất nhiên không thể thiếu chuyện luận đạo, bốn vị lão nhân thoải mái không bị gò bó, trò chuyện suốt đêm, Vương Lực Bình ngồi bên lắng nghe, lại học được nhiều điều.

Ngày hôm sau, tuyết ngừng rơi, trời quang đãng, mặt trời chiếu xuống cánh đồng tuyết lấp lánh ánh bạc, trời đất trong sạch không một hạt bụi.

Thanh Tĩnh sư phụ và Xích Cước đạo nhân trao đổi đạo nghệ, hai người chọn một chỗ bên ngoài, ngồi xếp bằng trên tuyết. Hai người vận công, chẳng mấy chốc tuyết xung quanh họ vài thước đã tan hết, lộ ra lớp đá xanh bên dưới, lớp đá đó lại dần dần khô đi.

Vô Cực sư gia và Thanh Hư sư phụ đều ngồi yên quan sát, Vương Lực Bình cũng ngồi bên cạnh lặng lẽ thầm khen ngợi sự kỳ lạ.

Trong chớp mắt, chỉ thấy Thanh Tĩnh sư phụ và Xích Cước đạo nhân đều rời khỏi mặt đất, thân thể lơ lửng trên không trung. Hai người lơ lửng trong không khí khoảng nửa canh giờ.

Vương Lực Bình không khỏi khen ngợi, nhìn sư phụ nhắm mắt vận công, trong lòng lại nảy ra một kế. Anh nghĩ, mình cũng thử nghiệm công phu của mình, lén lấy khí dưới chỗ ngồi của Thanh Tĩnh sư phụ, Thanh Tĩnh sư phụ không ngờ đệ tử lại ra chiêu này, đột nhiên khí dưới chỗ ngồi yếu đi, ngã phịch xuống từ trên không trung. Ông lập tức hiểu ra chuyện gì đã xảy ra.

Vương Lực Bình rất nhanh trí, sợ sư phụ phản kích mình, liền nhanh chóng xin sư phụ tha thứ. Xích Cước đạo nhân đã hiểu nguyên do, liền nói: “Sư huynh thân thủ phi phàm, đệ tử trẻ tuổi này cũng xứng danh cao đồ của danh môn, bần đạo hôm nay đã được chỉ giáo.” Lời nói khiến mọi người cười vang, Thanh Tĩnh sư phụ cũng tha cho Vương Lực Bình. Vương Lực Bình nhân cơ hội này xin sư phụ và sư thúc chỉ dạy công phu ngồi xếp bằng bay lên không trung. Sư thúc càng thêm yêu quý đệ tử trẻ tuổi này.

Chương 16: Phi Thăng Tam Giới

Đầu năm 1970, khi hàng ngàn gia đình đang cố gắng tìm niềm vui trong cảnh nghèo khó và hỗn loạn, bận rộn chuẩn bị đón Tết Nguyên Đán, bốn thầy trò lặng lẽ trở về quê hương Phủ Thuận của Vương Lực Bình, bước trên lớp tuyết dày.

Thời gian trôi qua, năm tháng như nước chảy, một chuyến du ngoạn, không ngờ đã qua ba xuân bốn thu. Vô Cực đạo nhân đã 89 tuổi, Thanh Tĩnh đạo nhân và Thanh Hư đạo nhân cũng sắp trở thành những ông lão tám mươi. Người đệ tử mà họ dày công bồi dưỡng, Vương Lực Bình, đã trở thành một thanh niên tuấn tú, phóng khoáng.

Để lưu truyền đại đạo cho hậu thế, ba vị lão nhân tuổi cao đã rời xa hồng trần, vượt núi băng sông, dẫn đệ tử du ngoạn hơn ba năm. Họ đã dùng tinh thần Đạo gia để hóa giải bao nhiêu gian nan khổ ải, thưởng ngoạn mười phương sơn thủy, vạn loại phong tình, chứng ngộ nhiều đạo lý. Vương Lực Bình đã thu vào tầm mắt vạn vật trời đất, khắc ghi trong lòng những biến hóa của vũ trụ.

Ba xuân thu lạnh lẽo và gian khổ, tám ngàn dặm đường mây và trăng. Trên đường du ngoạn không phải lúc nào cũng là cầu nhỏ nước chảy, thơ tình họa ý, mà phần nhiều là đường xưa gió tây, hoa vàng nhuốm máu lệ. Đôi khi liên tiếp nhiều ngày không thấy khói bếp, đành phải tìm hang mà ở, nhét bụng bằng trái cây và rau dại. Đôi khi một trận mưa lớn ập đến, cả người ướt sũng, đường lầy lội khó mà đứng vững, nhưng vẫn không ngăn được bước tiến. Đôi khi nắng gắt trên đầu, đất khô cằn ngàn dặm, không tìm được một giọt nước uống, nhưng vẫn phải gắng sức chạy tiếp.

Đây là bốn người có công phu cao cường, những khổ nạn trần thế này đối với họ không phải là điều gì quá to tát. Nhưng họ rốt cuộc vẫn là con người, vẫn có thân thể máu thịt, những đau khổ và thử thách này đối với họ cũng là cảm nhận thực sự. Hơn nữa, ba vị lão nhân lại ở tuổi cao như vậy, vì truyền công dạy nghiệp mà cùng đệ tử chịu khổ, thực sự là một việc không dễ dàng.

Tuy nhiên, họ là những người coi nhẹ sinh tử, điều họ quan tâm là trong khoảng thời gian hữu hạn của cuộc đời, không lãng phí thời gian quý báu, phải tiếp tục sự nghiệp lớn lao khám phá vũ trụ và bí ẩn nhân sinh mà tổ sư đã bắt đầu, từ đời này sang đời khác, truyền lại trí tuệ mà cổ nhân để lại cho họ, qua tay họ càng thêm phát huy rạng rỡ, đẩy sóng tiến lên.

Họ không chấp trước vào sự khó dễ, đắng ngọt của vật chất, mà chấp trước vào sự khám phá và theo đuổi, phong phú và thăng hoa của tinh thần.

Vương Lực Bình nhận được sự giáo dục từ ba vị lão nhân, hành động quan trọng hơn lời nói, sự cảm hóa tinh thần quan trọng hơn việc luyện tập công phu. Ba năm tháng, vạn dặm đường, đã trở thành tài sản tinh thần to lớn được khắc sâu trong lòng Vương Lực Bình, nó ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đời vươn lên của anh.

Trong chuyến vân du này, họ còn có một thu hoạch trọng đại. Đó là đi tìm một bộ bảo thư trong dãy núi sâu trên đường vân du. Bộ sách này do Thuần Dương Chân Nhân Lữ Động Tân đời Đường trực tiếp biên soạn. Ba vị lão nhân đã biết trước rằng, trước khi hóa tiên, Lữ Tổ có vài bộ trước tác không truyền lại cho hậu nhân, mà phân ra cất giấu tại vài đại danh sơn động phủ, nhưng chưa từng được ai tìm thấy. Lần này họ lại tìm thấy một trong số đó, ba vị lão mừng như bắt được vàng, xúc động đến râu run rẩy, nước mắt nóng hổi lăn dài. Niềm say mê hân hoan ấy, khó lòng diễn tả thành lời. Bộ sách vì niên đại đã lâu, trang giấy đã mủn nát, phải dùng thẻ tre hết sức cẩn thận nâng lên mà xem. Đến nay bốn người vẫn đang sắp xếp, nghiên cứu.

Ngày bốn người trở về, mẹ của Vương Lực Bình cảm thấy bồn chồn bất an, trong lòng nghĩ rằng đứa con trai thứ hai sắp về nhà, từ sáng sớm đã ra ngoài đầu làng ngóng trông. Cuối cùng, bốn người cũng trở về, phong trần mệt mỏi. Mẹ Vương thấy ba vị “lương y” già thân thể vẫn chắc khỏe như xưa, trên mặt ánh lên sắc hồng hào, con trai bà cũng cao lớn hơn, càng tuấn tú đáng yêu, trong lòng vô cùng mừng rỡ, một tay dắt Vương Lực Bình, tay kia luôn miệng lau khóe mắt.

Vừa đi, mẹ Vương vừa không ngớt lẩm bẩm, nói rằng cả nhà mấy ngày liền đều mơ thấy bốn người họ đang trên đường trở về, sắp trở lại nhà. Thật lạ lùng, mỗi người đều có chung một giấc mơ, mọi người đều nhắc đến Lực Bình sắp về, hôm nay quả thực đã trở về, bạn nói xem trên đời lại có chuyện kỳ lạ như vậy?

Bốn người nghe mẹ Vương kể chuyện, miệng chỉ ậm ừ cho qua, nhưng trong lòng thì thầm mỉm cười, điều này chỉ có họ mới hiểu. Mẹ Vương làm sao biết được con trai bà giờ đây cũng giống như các vị “lương y” già kia, có khả năng sai khiến thần linh, giao tiếp qua giấc mơ?

Nghe nói vào những năm 1970, trong xã hội, đấu tranh giai cấp vẫn còn dữ dội như lửa, tuy “Đại hội đại biểu” đã được tổ chức, nhưng cuộc đấu tranh quyền lực lại tiến thêm một bước. Dân chúng vì những cuộc đấu tranh không ngừng ấy mà mệt mỏi, dù là bè phái này hay phe kia cũng đều bị ảnh hưởng sâu sắc, phần lớn mọi người đã không còn coi trọng nữa. Thầy trò bốn người lúc đó sống trong hoàn cảnh so với thời kỳ đầu của “Cách mạng Văn hóa” thì đã khá hơn một chút.

Ba năm trôi qua,  ba vị lão nhân không còn giống như thời kỳ đầu của “Cách mạng Văn hóa” bị coi là mục tiêu chính của chiến dịch “quét sạch” nữa, mọi người đều đã để họ sang một bên. Hơn nữa,  ba vị lão nhân đã nhiều năm không sống ở đây, rất nhiều người đã quên mất họ. Lần này ba vị lão nhân trở về, càng ẩn dật hơn trước, phần lớn thời gian ban ngày đều sống trong núi, chỉ đến tối mới cõng củi hoặc mang rau dại về lò rèn cũ ở đầu thôn, nhiều người còn không biết rằng họ đã trở về sinh sống.

Ba vị lão nhân muốn trong góc yên tĩnh giữa cảnh hỗn loạn này, hoàn thành công phu cuối cùng của việc truyền đệ tử dạy nghiệp, đẩy Vương Lực Bình thêm một bước trên con đường thăng hoa của cuộc đời.

Đây là giai đoạn thứ chín, cũng là giai đoạn cuối cùng của quá trình đắc đạo của Vương Lực Bình: Mộc Dục (Tắm Gội)

Vương Lực Bình phải trải qua ba lần sinh mới đạt được “Vĩnh Sinh”.

Ba lần sinh này là: Lần thứ nhất Vương Lực Bình được cha mẹ sinh ra thuộc “Hạ tam giới”. Lần thứ hai Sau khi chết đi, trải qua quá trình Tịch Cốc Ngọa Cố, được Sư gia và Sư phụ “Tái Sinh” là Vương Lực Bình thuộc “Trung Tam Giới”. Lần thứ ba, sau khi trải qua quá trình mang thai và vận hóa của trời đất vũ trụ, gọi là “Đại Thai Mẫu”, vài năm sau mới hoàn thành thai kỳ, được “Đại Mẫu Thân” tái sinh, bay lên vũ trụ rộng lớn vô biên. Lúc đó, Vương Lực Bình sẽ là Vương Lực Bình thuộc “Thượng Tam Giới”, anh đã đạt được “Vĩnh sinh”.

Mộc Dục Thiên Địa, đây là công phu cuối cùng của Trung Tam Giới. Quá trình tắm gội này lại được chia thành bốn loại: Tắm gội bằng thuốc, Tắm gội bằng địa chất, Tắm gội bằng thiên chất, và Tắm gội vô hình vô chất.

Đêm đó, ba vị lão nhân đã chuẩn bị xong mọi thứ, Vô Cực đạo nhân lấy ra một viên đan tiên, trao cho Vương Lực Bình, bảo anh uống.

Đây là lần thứ ba Vương Lực Bình uống đan dược. Ba lần uống đan, đan dược khác nhau, đạt được mục đích cũng khác nhau. Đan của Đạo gia chia làm năm loại: kim, thủy, mộc, hỏa, thổ, mỗi loại có sự phối hợp dược liệu khác nhau, cần luyện qua các hỏa hầu khác nhau, thành dược có màu sắc khác nhau, mang công dụng khác nhau.

Vương Lực Bình từ tay sư gia cung kính nhận viên đan, uống theo đúng phương pháp, rồi nhảy vào chiếc chum lớn đã chuẩn bị sẵn, ngồi xếp bằng. Trong chum chứa đầy nước nóng, nhiệt độ nước cần được duy trì ở mức nhất định. Vương Lực Bình phải vận nội công, trước tiên hòa tan viên đan, dùng khí huyết đưa đến mọi bộ phận trong cơ thể, sau đó dùng công lực đẩy ra ngoài. Khi thuốc đến lớp biểu bì, gặp nước nóng, sẽ nổi lên mặt nước, tạo thành những hạt sáng lấp lánh, những tạp chất trong cơ thể sẽ theo thuốc bài tiết ra ngoài.

Vương Lực Bình ngồi yên trong chum suốt hai ngày hai đêm, thuốc trong cơ thể hấp thụ và bài tiết đều là quá trình cực kỳ đau đớn. Những cảm giác vui sướng vô hạn khi con người uống đan tiên được miêu tả trong các tác phẩm văn học, Vương Lực Bình chưa từng trải qua lần nào.

Trong thời gian này, ba vị lão nhân vẫn cẩn thận quan sát, bận rộn không ngừng. Nước trong chum cần duy trì nhiệt độ tương đối, không được quá lạnh, cũng không được quá nóng. Nước lạnh khiến lỗ chân lông co lại, thuốc không thể bài tiết thuận lợi; nước nóng sẽ làm bỏng da, gây tổn thương toàn thân, hủy hoại công phu. Hai vị sư phụ thay nhau thêm lửa, giảm lửa xung quanh chum, hết lòng bảo vệ bên cạnh. Sư gia cũng thỉnh thoảng bước lại, xắn tay áo, thò tay vào nước để thử nhiệt độ, quan sát xem bao nhiêu thuốc nổi lên mặt nước.

Một đệ tử đã khiến ba vị lão nhân lo lắng.

Quá trình tắm gội bằng thuốc diễn ra rất tốt, giờ đây Vương Lực Bình lại có những cảm nhận kỳ diệu hơn.

Một ngày, Vương Lực Bình đang ngồi xếp bằng, bỗng cảm thấy trong bụng dưới có một vật tròn trĩnh nhẹ nhàng co giãn, chuyển động đều đặn và nhịp nhàng. Cảm giác đó giống như làn gió xuân ấm áp, lại như một đám mây trắng trong đêm trăng thanh gió mát, như dừng như động, như mở như khép. Dần dần, điểm tròn này như gợn sóng trong nước biếc lan tỏa khắp cơ thể, tám vạn bốn ngàn lỗ chân lông trên người cũng theo đó co giãn một cách tự nhiên, những lỗ chân lông như những ống dẫn khí, khí lưu thông thuận lợi bên trong.

Vương Lực Bình đắm chìm trong cảm giác thoải mái này. Anh không cần dùng miệng và mũi để thở, chỉ cảm thấy cơ thể trở thành một khối hỗn độn tròn trịa, khối hỗn độn này trong vũ trụ tròn trịa nhẹ nhàng co giãn. Bản thân – vũ trụ, hòa làm một, nhẹ nhàng dao động theo nhịp điệu, trong sạch, mát mẻ, thấu suốt. Toàn thân được bao phủ bởi một quầng sáng ngũ sắc, con người trong đó nhẹ nhàng như bay.

Vương Lực Bình có ý thức đóng kín tất cả lỗ chân lông, rốn thì “ực” một cái mở ra, nơi đó trở thành đường dẫn khí vào ra, nội tạng cũng theo đó co giãn. Nếu đóng rốn lại, lỗ chân lông lại tự động mở ra, tự động hít thở. Hai bên phối hợp nhịp nhàng, kỳ diệu không thể tả. Cảm giác thoải mái này xa vời so với việc thở bằng miệng và mũi.

Sư gia biết anh đã tu luyện đến cảnh giới chân tức thật sự, rất vui mừng.

Lão Tử nói: “Quy về trạng thái trẻ thơ.” Có lẽ chính là nói đến cảnh giới này.

Lữ Tổ cũng từng nói: “Hít khí không trường sinh, trường sinh cần phục khí, thai kết từ phục khí, khí tự có tức trong thai. Khí vào thân gọi là sống, thần rời xa hình gọi là chết. Biết thần khí có thể trường sinh, kiên trì giữ hư vô để dưỡng thần khí. Thần đi thì khí đi, thần đến thì khí đến. Nếu muốn trường sinh, thần khí phải tương trợ, tâm không động niệm, không pháp không đến, không ra không vào, tự nhiên thường trụ, siêng năng tu hành, đó mới là con đường chân chính.”

Sư gia nói với Vương Lực Bình: “Rốn” có vị trí cực kỳ quan trọng trong cơ thể con người. Người xưa nói: “Người có rốn, như trời có Bắc Thần”, nên gọi là “Thiên Khu”, còn gọi là “Thần Quyết”, là huyệt của thần khí, là gốc của sự sống, là bảo vật hư ngoại hoàn dương. Rốn thông với ngũ tạng, rốn mở thì ngũ tạng có thể trao đổi trực tiếp với thai mẫu của trời đất, là khởi đầu của việc con người trở về trạng thái tiên thiên, từ đó siêng năng tu hành, không được lơ là.

Vương Lực Bình theo phương pháp sư gia dạy, tu luyện cẩn thận, chuyên tâm dưỡng khí, mềm mại như có như không, như tồn tại như không tồn tại, luyện lâu thành quen, chân tức vĩnh viễn tồn tại.

Lúc này, đất trời đã vào xuân, vạn vật hồi sinh, cây cối đâm chồi nảy lộc, đồng ruộng phủ một màu xanh, một khung cảnh tràn đầy sức sống.

Ánh nắng ấm áp, gió xuân nhẹ nhàng. Vương Lực Bình ngồi xếp bằng bên bờ sông nhỏ, cạnh núi xanh, như cỏ non vừa nhú khỏi mặt đất, như chồi non vừa hé nở trên cành, thỏa thích tắm gội trong ánh sáng, làn gió, hương thơm của đất và cỏ cây tỏa ra từ mùa xuân.

Mây mờ nhẹ, mưa lất phất, lặng lẽ đến, bước chân nhẹ nhàng, phải chăng sợ đánh thức giấc mơ tắm gội của Vương Lực Bình?

Mưa mỏng manh như mái tóc thiếu nữ, nhẹ nhàng rơi xuống. Cánh đồng được làm ẩm, tỏa ra hương thơm của đất. Vương Lực Bình dường như cảm nhận được niềm vui của cỏ non trong mưa, dường như nghe thấy tiếng chồi non đang lớn lên.

Đêm thanh tĩnh, không gió, chỉ có chút lạnh đầu xuân. Trăng non treo trên trời, sao dày đặc và lấp lánh. Núi xa nằm yên dưới bầu trời đêm, cùng Vương Lực Bình tắm gội trong màn đêm huyền bí này.

Sương mù buổi sáng dày đặc. Sương che phủ mọi thứ trên mặt đất, không nhìn thấy núi xa, nhà cửa. Vương Lực Bình bị bao phủ bởi sương mù, tắm gội trong làn sương.

Vương Lực Bình ngày qua ngày tu luyện, tâm không vướng bận, chân khí tràn đầy, da thịt mịn màng như ngọc, xương cốt như hư không, đỉnh đầu có quầng sáng treo, đôi mắt sáng ngời, nhìn vào bên trong cơ thể, sáng rõ như soi, nhìn vật trong đêm, rõ ràng như ban ngày.

Sư gia và sư phụ dạy Vương Lực Bình rằng, mọi điều kỳ lạ đều không nên cố ý tìm kiếm, mà nên thuận theo tự nhiên, để nó tự sinh tự diệt, tự đến tự đi, tự huyễn tự hóa. Tâm ta luôn lấy thanh tĩnh làm gốc, bình thản, nhẹ nhàng, lấy thần hợp đạo, quay về với tự nhiên. Lúc này, nhìn xa vật, vật không còn là vật, nhìn ngoài hình, hình không còn là hình, nhìn trong tâm, tâm không còn là tâm. Không biết mình có thân, dần dần bước vào đạo vô vi, tiến vào cõi hy di. Nếu đắm chìm trong cảnh tượng kỳ lạ, tâm lộ ra tình lưu luyến, tức là đã vào cảnh ma, công phu dừng lại ở tiểu thuật bàng môn, công sức trước đó đổ sông đổ bể, mà xa rời đại đạo.

Đến đây, sư gia và sư phụ mới hướng dẫn Vương Lực Bình tu luyện công phu cao nhất của “Linh Bảo Tất Pháp”, tức là “Đại Thừa Siêu Phàm Nhập Thánh Pháp Tam Môn”, còn gọi là “Thiên Tiên Công” trong “Tam Tiên Công”.

Như đã nói trước đây, “Tam Tiên Công” chia làm ba tầng: Nhân tiên, Địa tiên, Thiên tiên.

“Nhân Tiên Công” lấy thân làm lò, lấy khí làm thuốc, lấy tâm làm lửa, lấy thận làm nước, giao hòa khảm ly, cửu hoàn thất phản, kim dịch hoàn đan.

Lấy thân làm lò, chia cơ thể thành hai phần trên dưới từ đường không độ.

Lấy khí làm thuốc, luyện khí đan điền, khí và nước giao hòa, hóa thành kim đan.

Lấy tâm làm lửa, lấy thận làm nước, một trời một đất, giao cảm mà thành.

“Địa Tiên Công” lấy thần làm lò, lấy khí làm thuốc, lấy mặt trời làm lửa, lấy mặt trăng làm nước, thám bảo dưới biển sâu, ngắm trăng trên không trung, thần khí giao hòa, tam điền tương tế. Nhật nguyệt, lấy thân nội nhật nguyệt, ứng với nhật nguyệt của trời đất.

“Thiên Tiên Công” lấy thần làm lò, lấy tính làm thuốc, lấy định làm nước, lấy tuệ làm lửa, cửu cung bất diệt, càn khôn thường chuyển, thiên nhân đồng hóa.

Sự rèn luyện trí tuệ lâu đời, sự vận hành không ngừng của thiên thời địa vận, sự tắm gội của ánh sáng mặt trời và mặt trăng, sự nuôi dưỡng và rửa sạch của sương ngọt và suối trong, sự đổ mồ hôi và công sức của hai thế hệ ba vị thầy, sự rèn luyện và đúc kết qua ngàn khổ vạn nạn, bảy năm xuân thu, sống chết qua lại, Vương Lực Bình đã đạt đến cảnh giới thượng thừa “siêu thoát phân hình”.

Vương Lực Bình thực sự đã thoát xác đổi cốt. Anh trở nên mặt hoa da phấn, da thịt mịn màng như ngọc, mày từ mắt thiện, toát ra hương thơm, hình dáng giống như con gái, nhưng bên trong lại ẩn chứa kim cương bất hoại. Khi tĩnh lặng, anh như một hồ nước trong, không gợn sóng; khi động, anh có thể làm rung chuyển trời đất, khí thế ngút trời.

Ba vị lão nhân thấy Vương Lực Bình đã tu luyện đến mức này, đều vui mừng khôn xiết.

Vô Cực đạo nhân lại ngâm bài “沁园春 Thấm Viên Xuân” của Lữ Tổ.

七返还丹,在我先须,炼已待时。正一阳初动,
中宵漏永,温温铅鼎,光透帘帏。造化争驰,虎龙交媾,
进火功夫牛斗危。曲江上,看月华莹净,有个乌飞
当时,自饮刀圭,又谁信无中就养儿。辨水源清浊,
木金间隔。不因师指,此事难知。道要玄微,天机深远,
下手忙修犹太迟。蓬莱路,待三千行满,独步云归

Dịch thơ:

Bảy phen hoàn đan luyện chí,
Trước tiên soi lại chính mình tu thân.
Đợi khi dương khí khởi dần,
Nửa đêm canh vắng lò ngân ấm lòa.

Chì nung lấp lánh chan hòa,
Ánh trong rèm mỏng, hóa ra diệu huyền.
Tạo hóa cùng đua phép tiên,
Rồng hùm giao cấu, lửa liền đỉnh soi.

Tu công đến chỗ nguy ngoài,
Ngưu đấu sao rạng, chớ sai hỏa hành.
Khúc Giang nguyệt sáng long lanh,
Mây trôi, có cánh quạ vành vút bay.

Khi xưa tự uống dao quai,
Ai tin trong rỗng dưỡng thai thành người?
Phân dòng nước đục nước trong,
Giữa kim cùng mộc ngăn dòng cách xa.

Nếu không thầy chỉ đường ra,
Mịt mờ khó biết thật tà nơi đâu.
Đạo sâu vi diệu nhiệm mầu,
Trời trao cơ mật thẳm sâu chẳng tường.

Chậm chân luyện, đã muộn đường,
Ba nghìn hạnh đủ, mây vương một mình.
Cõi Bồng Lai, lối vô hình,
Bước đơn độc bóng quy linh giữa trời.

Hôm đó, trời trong xanh, khí tươi mát, núi sông rõ ràng, là một ngày cực kỳ đẹp trời.

Vô Cực đạo nhân, truyền nhân đời thứ 16 của phái Toàn Chân Long Môn, Thanh Tĩnh đạo nhân và Thanh Hư đạo nhân, truyền nhân đời thứ 17, cùng Linh Linh Tử Vương Vĩnh Sinh, truyền nhân đời thứ 18, bốn người đều tắm gội sạch sẽ, đốt hương quỳ lạy, một lạy trời, hai lạy đất, ba lạy tổ sư.

Lễ xong, Vô Cực đạo nhân nói:

“Vĩnh Sinh đồ nhi, đạo vốn là không, dùng lời để nói thì không phải là đạo. Đạo vốn là hư, dùng thực để nói thì không phải là đạo. Đã là vô thể, thì hỏi đáp đều không thể. Đã là vô tượng, thì nhìn nghe đều không thể. Lấy huyền vi làm đạo, huyền vi cũng không thoát khỏi sự vướng bận của hỏi đáp. Lấy hy di làm đạo, hy di cũng không tránh khỏi sự ràng buộc của nhìn nghe. Huyền vi hy di vẫn chưa phải là đạo, thì đạo không biết đạo không biết nguyên nhân của nó. Gọi nó là đạo, chỉ là miễn cưỡng đặt tên, chỉ có thể thần giao mà hiểu. Ngươi nay đi đây, có thể nghe tiếng thấy cảnh, nghe tiếng đừng nghe, thấy cảnh đừng nhìn, tiếng đó tự tiêu, cảnh đó tự diệt, trải qua điều này, toàn chân mới hiện. Hãy nhớ kỹ, nhớ kỹ.”

Vương Lực Bình theo lời dặn của sư gia, nhắm mắt ngồi xếp bằng. Không lâu sau, sư gia và sư phụ dần dần biến mất, núi sông cây cối cũng dần dần ẩn đi, chỉ cảm thấy mình bay xa, cảm giác về không gian và thời gian hoàn toàn biến mất. Lúc nào, nơi đâu, từ đâu đến, đi về đâu, những duyên nghiệp trước khi sinh, những việc sau khi sinh, đều mờ mịt không biết. Tựa như một hạt bụi nhỏ bé lơ lửng trong vũ trụ mênh mông, rồi ngay cả hạt bụi nhỏ đó cũng biến mất, xung quanh chỉ còn một khoảng trống rỗng, sạch sẽ.

Bỗng nhiên, chỉ cảm thấy gió lạnh lẽo, hơi lạnh tràn về. Trời đất tối sầm, mây đen cuồn cuộn, gió lớn nổi lên, cát bay đá chạy, quỷ khóc sói tru. Vương Lực Bình không chút sợ hãi, chỉ tiến lên, như đi vào cảnh giới không có gì.

Lại nghe thấy tiếng cười đùa của một người phụ nữ: “Đạo trưởng đi chậm thôi, tiện thiếp ở đây có lễ.” Vương Lực Bình không nhìn không nghe, tiếng đó dần dần tan biến.

Phía trước lại xuất hiện một gã đàn ông hung dữ, cầm bình rượu loạng choạng mời Vương Lực Bình cùng uống, mặt đất bừa bộn, mùi hôi thối bốc lên. Vương Lực Bình nhắm mắt, thân hình bay qua.

Chốc lát sau lại có một cây cổ thụ chắn ngang đường, cây đó biến thành một con trăn khổng lồ, da lốm đốm, ánh sáng lạnh lẽo, khiến người ta rùng mình. Con trăn há miệng to, lao về phía Vương Lực Bình. Vương Lực Bình không chút sợ hãi, tiến về phía con trăn, bỗng thấy lửa cháy rừng rực, nhanh chóng hóa thành một vùng sáng.

Vương Lực Bình chỉ cảm thấy thân mình đang bay lên, rồi đến một nơi, không biết là chỗ nào. Chỉ thấy nhà cửa san sát, cây tre che khuất, người vui ngựa hí, trống nhạc rộn ràng, như chốn đào nguyên, nơi phú quý êm đềm. Đã có vài người tiến lên, nói đây là nơi chân nhân ở, mời Vương Lực Bình lên đàm đạo. Vương Lực Bình không phân biệt được thật giả, chỉ cảm thấy trong lòng hơi động, như có tiếng của sư gia và sư phụ vang lên.

“Nhìn trong tâm, tâm không còn là tâm. Nhìn ngoài hình, hình không còn là hình. Nhìn xa vật, Vật không có vật. Ba điều đều ngộ, chỉ có một cái không.” Đó là giọng nói của sư phụ Thanh Hư.

“Quan không cũng không, không không có gì. Cái không tức là không, không không cũng không. Không không tức là không, trong suốt thường tịch lặng. Tịch lặng không có gì tịch lặng, ham muốn làm sao có thể sinh ra? Ham muốn đã không sinh, tức là chân tĩnh. Chân thường ứng với vật, chân thường đạt được tính. Thường ứng thường tĩnh, thường thanh tịnh vậy.” Đó là giọng nói của sư phụ Thanh Tịnh.

“Như vậy thanh tịnh, dần dần bước vào chân đạo. Đã vào chân đạo, gọi là đắc đạo. Tuy gọi là đắc đạo, thực ra không có gì đắc được. Vì hóa chúng sinh, gọi là đắc đạo. Người nào có thể ngộ được, có thể truyền thánh đạo.” Đó là giọng nói của sư gia Vô Cực.

Vương Lực Bình thu chữ “Tĩnh” vào trong tâm, tất cả đều không.

Mở mắt ra, giống như một giấc mơ. Nhìn mọi thứ trước mắt, lại đều chân thật rõ ràng. “Ngàn sông có nước ngàn sông trăng,

 Vạn dặm không mây vạn dặm trời.”

Vương Lực Bình trải qua cảnh này, cảm thấy Thiên Môn động, một luồng ánh sáng vàng bay ra, lại một Vương Lực Bình xuất hiện. Bỗng nghe thấy một giọng nói từ trên không vang lên: “Chân nhân xin theo chúng tôi.”

Vương Lực Bình ngẩng đầu nhìn, thấy ba đạo nhân đội mũ cao, mặc áo đạo bào, thần thái phong lưu, bay lơ lửng trên không, lại nghe hát rằng:

Vô tâm vô vật cũng vô thân,
Được gặp chủ nhân cũ trước sinh.
Chỉ cần trong này giữ một vật,
Linh đài tụ lại hồng sa trần.

Vương Lực Bình bay theo, hướng về vũ trụ mênh mông. Xuyên qua một vùng tối đen như mực “khoảng không”, trước mắt hiện ra một con đường sáng rực rỡ.

Quyển Hạ: Tham Tán Hóa Dục

Chương 17: Sư Đồ Biệt Ly

Năm 1976, đối với người Trung Quốc mà nói, là một năm khó quên vô cùng.

Trong năm này, liên tiếp xảy ra nhiều sự kiện trọng đại. Vài vị lãnh đạo quốc gia lần lượt qua đời; khu vực Đường Sơn xảy ra trận động đất dữ dội, hàng trăm nghìn người chết và bị thương, xã hội cũng chấn động. Tháng Tư, tại quảng trường Thiên An Môn tụ tập hàng trăm nghìn người, rồi lập tức bị đàn áp. Đến tháng Mười, từ thượng tầng lại dấy lên làn sóng lớn, “Tứ nhân bang” kết thúc con đường chính trị của họ, “Cách mạng Văn hóa” đến đây cũng kết thúc.

Trải qua mười năm tai họa, lại trong vòng một năm này liên tiếp chịu đựng bao biến cố lớn như thế, thật không hiểu người dân Trung Quốc lúc ấy đã sống qua được bằng cách nào. Tai nạn của Trung Quốc thật quá sâu nặng. Làm một người Trung Quốc, sống quả là không dễ. Cuộc đấu tranh chính trị không chỉ giới hạn ở tầng lớp thượng lưu, mà còn lan tới từng gia đình bình thường, lay động đến tâm hồn của mỗi con người. Các nguyên thủ quốc gia lần lượt qua đời, lại có biết bao người dân bình thường chịu cảnh lưu lạc, chết chóc thảm thương! Cả một đất nước bị cuốn vào đấu tranh chồng chéo, rối ren đến mức không ra hình dạng, hàng trăm triệu người rơi vào cảnh khổ cực, không sao nói hết.

Nhưng tất cả cuối cùng cũng đã kết thúc.

Và trong năm cuối cùng này, năm 1976, cách kết thúc thật bi tráng, kinh thiên động địa, chấn động lòng người, khiến người ta rơi lệ.

Vào cuối thu năm đó. Trên đỉnh Tây Sơn, Phủ Thuận. Đêm tối mênh mông.

Trong căn nhà rèn cũ kỹ, ngọn đèn dầu tỏa ánh sáng vàng vọt.

Ba vị lão nhân ngồi xếp bằng trên chiếc giường đất, bàn luận về chuyện xưa và nay, than thở về những khó khăn của nhân sinh,chỉ điểm về sự thay đổi của thế sự. Ngọn lửa đèn dầu nhấp nháy, bóng người trên tường cũng khi to khi nhỏ, đung đưa qua lại.
Đêm đã khuya, nhưng ba vị lão nhân vẫn say sưa trò chuyện.

Ba vị lão nhân nói về Vân Du Đạo Nhân, nhớ lại những luận bàn của họ về thiên hạ đại sự. Hai vĩ nhân ảnh hưởng đến sự phát triển của lịch sử hiện đại Trung Quốc đã lần lượt qua đời trong vòng hai năm, nhưng ảnh hưởng của họ vẫn sẽ tiếp tục kéo dài trong một thời gian nữa.
Sự thống nhất đất nước, sự hưng thịnh của dân tộc vẫn còn phải đi một chặng đường dài. Thiên hạ hỗn loạn, thế sự thay đổi, từ cuối thời nhà Thanh, ba vị lão nhân đã chứng kiến nhiều, nhưng đợt sóng hiện tại dù đã kéo dài mười năm, cũng sắp đi đến hồi kết.

Ba vị lão nhân cảm thấy an ủi khi trong lúc đất nước chịu nhiều đau khổ, Phật giáo và Đạo giáo cùng chịu đại nạn, họ lại may mắn tránh được tai ương này, hoàn thành sứ mệnh truyền thụ công phu cho đệ tử, bí mật của Long Môn đã không bị gián đoạn qua ngàn năm vẫn được tiếp tục lưu truyền. Những đệ tử trẻ mà họ dày công bồi dưỡng đã học được toàn bộ công pháp, mười bốn năm tu luyện đã kết thành quả ngọt rực rỡ, đại đạo sẽ được thực hiện khắp thiên hạ, chỉ chờ điều kiện tương lai thay đổi.

Về những việc tương lai, ba vị lão nhân đang chuẩn bị sắp xếp.

Vương Lực Bình trong lịch sử phái Long Môn sẽ là một truyền nhân then chốt và đặc biệt.

Có nhiều việc đang chờ anh ta thực hiện.

Vương Lực Bình học đạo không phải trên núi mà dưới chân núi, vừa ở trong núi lại vừa ở ngoài núi, vừa không rời xa sư phụ, vừa không rời xa gia đình. Anh ta vừa là đạo nhân, vừa là người thường, bên trong là đạo, bên ngoài là tục.

Sau khi du ngoạn trở về, Vương Lực Bình trở lại gia đình, lại xuất hiện với diện mạo của một người bình thường. Thu nhập từ lương của cha mẹ rất ít, cuộc sống của cả gia đình rất khó khăn. Không lâu sau, Vương Lực Bình đi làm việc, trở thành một công nhân học việc bình thường, tự nuôi sống bản thân và giảm bớt gánh nặng cho cha mẹ.

Vương Lực Bình có hai người cha mẹ: cha mẹ sinh thành và cha mẹ “Tái sinh” là sư phụ và sư gia. Ơn nuôi dưỡng của cả hai đều rất lớn. Nếu xét về tuổi tác, thì cha mẹ “Tái sinh” đều là những người già tám mươi tám tuổi, càng cần được ưu tiên chăm sóc.

Lương hàng tháng mà Vương Lực Bình nhận được rất ít, anh sống rất tiết kiệm, điều này đã trở thành thói quen. Khi nhận lương, anh luôn nghĩ đến sư phụ và sư gia trước, mua những vật dụng sinh hoạt cơ bản nhất và mang đến căn nhà rèn cũ trên núi Tây. Cha mẹ anh ủng hộ và khuyến khích anh làm điều đó. Những nhu yếu phẩm thời đó, từ lương thực chính đến thực phẩm phụ, thậm chí là diêm và xà phòng, đều được phân phối theo định lượng, cha mẹ anh luôn dành dụm một ít để Vương Lực Bình mang lên núi. Cha mẹ anh hiểu rõ sức mình có hạn, khó lòng đền đáp được ân tình to lớn của ba vị lão nhân. Tấm lòng của họ đã đến nơi rồi. Mọi người đều cùng nhau chịu đựng gian khổ.

Ba vị lão nhân sống lâu trong “động phủ”, đã quen với cuộc sống thanh đạm. Khi du ngoạn khắp nơi, họ cũng không tùy tiện nhận tiền bạc hay thức ăn của người khác. Khi chữa bệnh hay giải trừ tai họa, họ cũng không đòi hỏi đền đáp. Hiện tại, sống trên núi Tây, họ tự trồng lương thực, rau củ, tự nhặt củi, tự nuôi sống bản thân. Mỗi lần Vương Lực Bình mang thức ăn và vật dụng lên, ba vị lão nhân đều nói những lời cảm ơn nhưng cũng trách móc, sợ rằng gia đình Vương sẽ bị vất vả. Mỗi lần nghe những lời này, Vương Lực Bình đều cười và nói: “Nhà có đủ, nhà có đủ. Sư phụ và sư gia cũng hưởng một chút ‘khói lửa’ trần gian, đó cũng là một niềm vui trong đời.”

Dù là mùa hè hay mùa đông, Vương Lực Bình luôn mặc một bộ đồ công nhân, nhưng không giống những công nhân khác thường bị dính đầy sơn dầu, mà luôn sạch sẽ, gọn gàng. Bữa ăn của anh thường chỉ có dưa muối, rau xanh, rất đơn giản. Anh sống rất hòa nhã và dễ gần, ít nói, giống như một cô gái nhút nhát. Trong lòng không vướng bụi trần, không ham muốn vật chất, hòa mình vào tự nhiên, trở về với sự thanh tịnh.

Tĩnh lặng, nhưng da mặt hồng hào, rạng rỡ.

Chớp mắt mà mùa đông lạnh giá đã qua, đất trời chuyển sang xuân.

Những người đã trải qua nhiều lo âu, mở mắt ra lại thấy bầu trời xanh, mặt đất xanh, ánh sáng của hy vọng.

Gió xuân đánh thức vạn vật, cũng mang đến cho con người ánh sáng và hy vọng.

Sự vận chuyển của khí trời đất luôn tuân theo quy luật, những điều chân thiện mỹ trong nhân gian cũng không bao giờ bị hủy diệt.

Căn nhà rèn cũ trên núi Tây lại trở về với cảnh tượng ngày xưa. Ba vị lão nhân không cần phải trốn tránh, mỗi ngày đều có người đến mời “lão lang trung” chữa bệnh, họ cũng cầm cuốc trồng hoa, trồng rau trước sau nhà, cảnh tượng đầy chất thôn quê.

Vương Lực Bình ban ngày đi làm, tối đến lại đến chỗ ba vị lão nhân, tiếp tục tu luyện không ngừng.

Mưa xuân rả rích suốt đêm, ngày hôm sau gió thổi mây tan, thời tiết trở nên trong lành và ấm áp.

Vương Lực Bình vui vẻ đến nhà máy làm việc. Tinh thần của các đồng nghiệp thoải mái hơn trước, nói chuyện cũng tự do hơn. Vương Lực Bình nghe thấy một số đồng nghiệp bàn luận về chuyện Phật giáo và Đạo giáo, nói rằng các nhà sư trong chùa đã được mời trở lại, chính phủ còn kêu gọi mọi người đi làm “nhà sư”, loại “nhà sư” này được nhận lương, ban ngày đi làm, tối về nhà, thật giả lẫn lộn, vừa giả vừa thật.

Vương Lực Bình nghe những lời bàn tán này, bề ngoài bình tĩnh nhưng trong lòng lại vô cùng xúc động. Sau giờ làm, anh liền đi thẳng lên núi Tây. Anh muốn nhanh chóng báo tin này cho sư phụ và sư gia, để ba vị lão nhân cũng được chia sẻ niềm vui.

Anh bước nhanh về phía núi Tây. Dãy núi xa mờ nhạt ở phía chân trời, ánh hoàng hôn màu cam chiếu xuống mặt đất mờ ảo hơi nước. Một con bò vàng đứng bên bờ sông, nhìn dòng nước trong vắt đắm chìm. Một đàn chim nhạn bay từ phương Nam về phương Bắc, dần dần biến mất.

Vương Lực Bình không để ý ngắm cảnh xuân như tranh vẽ, trong lòng lại mơ hồ nảy sinh Hai câu thơ cổ chợt hiện lên:

“Đi đi ngàn dặm mặt trời,
Mênh mông một góc trời xa.”

Anh không nhớ đây là thơ của ai, kỳ lạ là tại sao lúc này lại có hai câu thơ này xuất hiện. Có gì đó không ổn.

Sư gia thuộc rất nhiều thơ cổ, cũng dạy Vương Lực Bình thuộc không ít, lẽ ra lúc này nên nhớ đến những bài thơ ca ngợi mùa xuân vui tươi hơn mới phải.

“Tháng tư nhân gian hoa tàn rụng,
Chùa núi đào hoa mới nở đầy.
Hận dài xuân về không tìm thấy,
Chẳng biết xuân đã đến nơi này.”

Xuân đến chùa núi, đúng rồi, mùa xuân của Phật giáo và Đạo giáo đã đến.

“Xưa đi tuyết như hoa,
Nay về hoa tựa tuyết.”

Hay quá. Xuân chính là hoa, hoa chính là xuân, trăm hoa đua nở, trời đất đều là xuân. Đây lại là thơ của ai? Đối ngẫu thật chỉnh chu? À nhớ rồi, là thơ của Phạm Vân, một nhà thơ thời Nam Triều, bài thơ có tựa đề “Biệt thơ”. Tại sao những câu thơ đẹp như vậy lại có một tựa đề như thế?

Vương Lực Bình không nghĩ thêm về sự kỳ lạ của những câu thơ xuất hiện. Anh chỉ nghĩ, sư phụ và sư gia lại đón Họ đã đón nhận mùa xuân của sự nghiệp mình, điều này thật sự đáng phấn khích.

Sư phụ và sư gia cả đời chỉ làm một việc này, khổ tu khổ luyện, mong rằng đại đạo sẽ có người kế thừa, lan tỏa khắp thiên hạ. Họ chỉ có một khát vọng, đó là giúp nhân loại hiểu được đạo lý vận hành không ngừng của vũ trụ, nhận ra vị trí và giá trị của mình trong vũ trụ, và biết rằng có một con đường sáng dẫn đến nơi an nghỉ cuối cùng. Nhưng trong biển người mênh mông, có mấy ai thấu hiểu được đạo lý này và thực hành nó? Huống chi, nhân loại vẫn không ngừng gây chiến, khiến sinh linh lầm than, lại còn tàn phá môi trường tự nhiên, khiến khoa học và trí tuệ trong một ý nghĩa nào đó đã trở thành công cụ tự hủy diệt của chính mình. Còn ai quan tâm đến trí tuệ vĩ đại mà Phật giáo và Đạo giáo tuyên truyền nữa?

Mùa xuân, sự chuyển biến, điều này lại mang đến cho con người hy vọng mới.

Vương Lực Bình vừa nghĩ vừa đi, không ngờ đã đến gần cửa nhà rèn cũ. Anh điều chỉnh lại thần sắc, cười tươi bước tới.

Thanh Tịnh sư phụ đang sửa sang cây cối trước cửa, thấy Vương Lực Bình đến, liền quay vào trong nhà gọi: “Vĩnh Sinh đến rồi!”

Lời vừa dứt, sư gia đã từ trong nhà bước ra, một tay cầm bộ quần áo đang khâu vá, tay kia ôm lấy Lực Bình, một già một trẻ, thật thân thiết. Thanh Hư sư phụ cũng từ vườn rau phía sau đi tới, tay còn dính đầy đất, vừa đi vừa nói: “Vừa nãy sư gia còn nhắc đến cậu, bảo tôi nhổ ít rau chuẩn bị, thế mà cậu đã đến rồi.”

Vương Lực Bình lắc lắc hộp cơm trong tay, “Hôm nay con mang đến cho ba vị một chút đồ ăn ngon, lạc luộc tẩm gia vị, cải thiện bữa ăn một chút.”

Sư gia nắm tay Lực Bình dẫn vào nhà, Thanh Hư sư phụ đi ra sau nhà lấy rau, hai vị sư phụ bận rộn nấu nướng. Vương Lực Bình xin lại bộ quần áo từ tay sư gia, nói: “Để con vá.”

Thanh Tịnh sư phụ nói: “Sư phụ dạy cậu kỹ năng này từ bao giờ vậy?”

“Đây gọi là ‘cha nào con nấy’.” Thanh Hư sư phụ đáp.

“Đây gọi là ‘không thầy vẫn giỏi’.” Vương Lực Bình vừa nói vừa nhìn đường kim mũi chỉ, thật sự khâu vá rất khéo léo.

Sư gia nhìn kỹ người đệ tử thông minh, lanh lợi trước mặt, một lúc sau mới hỏi: “Đệ tử, hôm qua sao không đến?”

Vương Lực Bình bật cười, cúi người xuống.

“Sư gia, người già rồi, bắt đầu lẩm cẩm rồi đấy. Tối qua con cùng sư gia đi dạo trên núi, về nhà lại cùng ngồi thiền, nghe tiếng mưa xuân rơi rả rích, sao mới mấy tiếng đồng hồ mà sư gia đã quên rồi?”

Hai vị sư phụ quay lại nhìn sư gia, đều không nói gì.

“Ta nghĩ là có chuyện đó, lại như không có chuyện đó, hôm qua và hôm nay cứ lẫn lộn, thật là già rồi lẩm cẩm.” Sư gia nói, nhưng mắt vẫn không rời Vương Lực Bình.

“Thôi được,” Vương Lực Bình có vẻ nghiêm túc nói, “Ngày mai con mua một cuốn sổ về, có việc gì sư gia ghi lại, thế là rõ ràng ngay.”

“Không cần. Không cần. Mua sổ lại tốn tiền, con để dành tiền đó, còn có việc khác cần dùng.” Sư gia có chút buồn bã.

Vương Lực Bình không để ý đến thần sắc của sư gia, vừa khâu vừa nói: “Tiền bạc là thứ ngoài thân, giữ lại làm gì?”

Thanh Tịnh sư phụ vội đến đánh lạc hướng câu chuyện: “Ý sư gia là nói, con còn phải lo cho gia đình, ví dụ như sau này lấy vợ, không có tiền thì làm sao được?”

Vương Lực Bình dừng kim chỉ, ngẩng đầu lên, mặt đã đỏ bừng, nói: “Sư phụ lại trêu con rồi.”

Cả bốn thầy trò đều cười vui vẻ. Thanh Hư sư phụ quay người lại, lén lau khóe mắt.

“Ăn cơm thôi!” Thanh Tịnh sư phụ lớn tiếng nói, trên bàn đã bày sẵn bát đũa, lương khô, một bát rau xanh, một đĩa lạc luộc. Bốn người ngồi quây quần, ăn rất ngon miệng.

Sư gia vừa ăn vừa nói: “Rau trong vườn đang lên xanh tốt, sau này không cần mua rau mang đến nữa.”

“Mỗi ngày chỉ cần đến ăn cơm là được.”

Hai vị sư phụ cũng nói: “Chúng tôi sẽ đợi con cùng ăn tối, về nói với cha mẹ, để họ không phải đợi con.”

Vương Lực Bình đồng ý, đợi ba vị lão nhân ăn xong, liền dọn dẹp rửa bát. Sau đó, anh mới nghiêm túc nói với ba vị: “Con có tin tốt muốn báo.”

Sư gia vội ngăn lại: “Không cần nói, chúng ta đều biết rồi. Thiên hạ đại sự, mười năm bên đông, mười năm bên tây, âm giáng dương thăng, hết khổ đến vui, đều là chuyện trong lẽ thường. Chúng ta đều là người ngoài cuộc, chỉ cần nghiêm túc tuân theo đại đạo là được. Hôm nay không còn sớm, con về nhà báo một tiếng, kẻo cha mẹ lo lắng.”

Vương Lực Bình không hiểu đầu đuôi, từ biệt ba vị lão nhân, ba vị lại tiễn anh ra ngoài cửa, sư gia lại dặn dò thêm: “Mỗi ngày đều đến, đi sớm về sớm.”

Liên tiếp mấy ngày, Vương Lực Bình vừa tan làm là vội vã trở về chỗ ở của ba vị lão nhân. Ba vị luôn dọn dẹp mọi thứ gọn gàng, đợi anh trở về. Vương Lực Bình vừa đến, ba vị lại trở nên hoạt bát, như có việc gì đó cần làm, lại như không có gì để làm; có nhiều điều muốn nói, lại không nói được gì.

Vương Lực Bình cảm thấy có chuyện gì đó sắp xảy ra, nhưng lại không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Kể từ khi sư gia “lẩm cẩm”, trong lòng anh đã có cảm giác khó tả này. Mấy bài thơ bỗng nhiên xuất hiện trong lòng hôm đó cũng là dấu hiệu của cảm giác này.

Rốt cuộc chuyện gì sẽ xảy ra?

Chẳng lẽ ba vị lão nhân biết thời cuộc thay đổi, lâu ngày xa cách động phủ, giờ đây nóng lòng muốn trở về núi, định đi sao?

Tại sao Thanh Tịnh sư phụ lại đùa như vậy, nói gì đến chuyện lấy vợ? Chẳng lẽ định bỏ mình một mình ở đây, thầy trò chia lìa?

Vương Lực Bình trong lòng hiểu rõ, khi đạt đến cảnh giới của mình, cảm giác là cực kỳ chính xác, anh có chuyện gì cũng không giấu được sư phụ và sư gia, sư phụ và sư gia có chuyện gì cũng không giấu được anh.

Bản thân. Nhưng cả bốn người đều vẫn có thân xác bằng xương bằng thịt, có tình cảm con người, và tình cảm này rất chân thật, rất sâu lắng, rất sâu sắc. Sư đồ chia tay? Vương Lực Bình không tin, không hy vọng, không muốn điều này thực sự xảy ra. Như vậy quá đau đớn để chịu đựng. Nỗi đau về tình cảm, về tâm hồn này còn lớn hơn nhiều, khó chịu đựng hơn nhiều so với nỗi đau trong quá trình tu luyện. Vương Lực Bình đang trải qua một thử thách khác trong cuộc đời.

Thực ra, ba vị sư phụ cũng không khác gì. Họ đã bước vào tuổi xế chiều, không có người thân, không có con cái, nhưng tình cảm của họ đối với nhân loại rất sâu đậm, rất chân thành. Đặc biệt là người học trò mà họ đã dành hơn mười năm tâm huyết, từ khi còn là một đứa trẻ, nhìn cậu lớn lên, từng bước dẫn dắt cậu đi qua, đệ tử Vương Lực Bình, càng có một tình cảm khó diễn tả thành lời. Bây giờ phải chia tay, làm sao có thể nói đây không phải là một nỗi đau lớn?

Nhưng, sự việc đã được quyết định như vậy, được sắp xếp một cách lặng lẽ.

Không một ai nói ra điều này trước mặt đối phương, mọi người đều nghiêm ngặt giữ gìn con đê tình cảm này.

Hôm đó, Vương Lực Bình sớm hoàn thành công việc, từ nhà máy đi ra, đến cửa hàng mua hai đôi giày vải, giày rất chắc chắn, là để chuẩn bị cho hai vị sư phụ. Sau đó, cậu đến tiệm may lấy về một bộ quần áo kiểu cũ, áo cổ đứng, quần rộng thùng thình, là để chuẩn bị cho sư tổ. Cậu gói quần áo và giày dép lại, rồi đi về phía ngọn núi phía tây.

Hoàng hôn nhuộm đỏ bầu trời phía tây, không khí trên núi đặc biệt trong lành.

Ba vị sư phụ đứng ngoài trời chờ Vương Lực Bình đi làm về.

Vương Lực Bình đến gần. Cậu nhìn thấy bóng dáng của ba vị sư phụ. Cậu cũng nhìn thấy xung quanh mấy cây liễu đã cùng cậu lớn lên, cao lên, đã được đắp một vòng đất mới, giữa đất đã được tưới nước.

Cả bốn người đều nhìn những cây này một cách say sưa, không một lời nào. Dường như mọi người đều đang nhớ lại cảnh tượng khi trồng những cây này hơn mười năm trước.

Thời gian trôi qua thật nhanh! Cây đã lớn cao, sum suê, Vương Lực Bình đã từ một đứa trẻ lớn lên Vương Lực Bình đã trở thành người lớn, sư tổ và sư phụ đều đã trở thành những tiên ông.

Vương Lực Bình cầm gói đồ trên tay, đi đến trước mặt ba vị sư phụ, không gọi “sư tổ, sư phụ”, chân quỳ xuống.

Sư phụ Thanh Tịnh vội vàng bước tới đỡ cậu dậy, nói: “Lại làm gì thế này? Sao không nghe lời sư phụ, lại tiêu pha như vậy?”

“Đệ tử chỉ có chút lòng thành, mong ba vị sư tôn vui lòng nhận lấy.” Vương Lực Bình nói, giọng hơi nghẹn ngào.

“Vào nhà nói chuyện đi.” Sư phụ Thanh Tịnh kéo Vương Lực Bình một cái, bốn người liền đi vào trong nhà.

Bốn người ngồi trên giường, vẫn nhìn nhau không nói, trong lòng ai nấy đều hiểu rõ, chuyện cần xảy ra sắp xảy ra rồi.

Sư tổ một tay nắm chặt tay Vương Lực Bình, tay kia run run vuốt nhẹ mái tóc cậu, nói chậm rãi:

“Đệ tử, làm việc vất vả cả ngày, về nhà nghỉ ngơi sớm đi.”

Ba vị sư phụ đều đứng dậy. Vương Lực Bình cũng đứng dậy, hai tay chắp lại, nhìn sư tổ và sư phụ, giọng nói rất trầm: “Sư tôn bảo trọng, đệ tử xin cáo từ.”

Vương Lực Bình mơ hồ bước ra khỏi nhà, đi được vài bước, thấy ba vị sư phụ vẫn đứng yên không nhúc nhích, mới quay người bước đi xuống núi, bước nặng bước nhẹ.

Trời tối đen, Vương Lực Bình không biết mình đang đi đâu. Đột nhiên, bên tai cậu vang lên tiếng sáo liễu du dương, uyển chuyển, đầy lưu luyến, một khúc nhạc ba lần thở than.

Bên ngoài trường đình,
Con đường cổ,
Cỏ thơm xanh ngút trời.

Gió chiều thổi nhẹ qua cành liễu, tiếng sáo dần tắt,

Hoàng hôn nhuộm đỏ những ngọn núi xa xôi.

Nơi chân trời,

Nơi góc biển,

Bạn bè đã phân tán nửa chừng;

Một chén rượu đục cạn đi niềm vui còn lại,

Đêm nay giấc mộng chia ly lạnh lẽo.

Vương Lực Bình vẫn hiểu rõ trong lòng, bài từ khúc này đều do Lý Thúc Đồng (sau này là Hòa thượng Hoằng Nhất) sáng tác, chỉ có sư phụ Thanh Tịnh biết hát, người đời đã lâu không còn truyền tụng. Lúc này hát bài “Tống Biệt”, thực sự khiến người ta quá đau lòng!

Vương Lực Bình nghẹn ngào nước mắt, đôi chân đã không nghe lời, mặc cho nó dẫn đến “chân trời, góc biển”. Đôi chân quá nặng nề, nơi đây chính là “chân trời”, nơi đây chính là “góc biển”, phía trước chỉ còn là một màn đêm tối mịt mùng.

Vương Lực Bình đã ngã quỵ xuống đất, ngủ thiếp đi.

Không biết đã qua bao lâu, cũng không biết đã đến nơi nào, Vương Lực Bình chỉ cảm thấy trên người, trong không khí vô cùng trong lành.

Trước mặt là một ngọn núi xanh thẫm, Vương Lực Bình đi theo con đường cổ lên núi, hoàn toàn không cảm thấy mệt mỏi. Phía trước không xa có một cây tùng xanh biếc, dưới gốc cây có ba người ngồi đối diện nhau, rất phong lưu tiêu sái. Vương Lực Bình nghĩ thầm, nơi đây lại có những vị tiên khách như vậy, không ngại đến thăm hỏi.

Vương Lực Bình bước tới thi lễ: “Chân nhân ở trên, kẻ hậu bối xin được quấy rầy.”

Ba người không đáp lại, như thể không có ai đến. Vương Lực Bình nhìn kỹ lại, mới nhận ra ba người này không ai khác chính là sư tổ và hai vị sư phụ, không khỏi vui mừng khôn xiết, vội hỏi: “Sư tổ, sư phụ sao lại ngồi đây thư thả?”

Sư tổ bảo cậu ngồi xuống, từ từ nói:

“Linh Linh Tử, chúng ta nhận lệnh xuống núi, truyền thụ cho ngươi làm đệ tử đời thứ mười tám của phái Toàn Chân Long Môn, đến nay đã được mười lăm năm. Theo quy tắc truyền thừa của tổ tiên, các giới luật, công lý, công pháp và bí thuật của Long Môn đã được truyền thụ đầy đủ cho ngươi. Ngươi đã học đạo thành tài, nhiệm vụ của chúng ta đã hoàn thành. Nhân lúc thiên hạ vừa định, chúng ta sẽ trở về động phủ, ngươi hãy tạm thời ở lại nhà, đợi khi công đức viên mãn, sẽ lên núi tụ họp. Đây là mệnh lệnh của sư phụ, không được trái lệnh, dù chúng ta có vạn nỗi tình cảm, cũng chỉ có thể tạm thời chịu đựng sự chia ly.”

Một lời nói chạm vào nỗi đau của Vương Lực Bình, khiến nước mắt lăn dài, tiếng khóc nghẹn ngào.

“Sư phụ đối với đệ tử ân tình nặng tựa núi, làm sao nỡ chia ly! Hơn nữa, ba vị sư phụ đã già yếu, đệ tử cần phải phụng dưỡng. Ơn nuôi dưỡng của ba vị sư phụ, đệ tử dù cả đời cũng không thể báo đáp được một phần. Nay phải chia ly, đệ tử trong lòng khó lòng chịu đựng, nguyện đi theo sư phụ, không rời xa.”

Lời nói khiến ba vị sư phụ cũng rơi lệ.

Thanh Tịnh sư phụ lấy tay lau nước mắt, gượng cười nói: “Chúng ta đã trải qua bao gian khổ, lại cũng có tình cảm như thế này! Đệ tử, ngươi khác với chúng ta, trên có cha mẹ, dưới có anh chị em, ngươi dù đã dấn thân vào đạo, nhưng đạo làm người cũng không thể bỏ, trách nhiệm trên vai ngươi nặng hơn chúng ta, nếu cứ buồn bã như thế, làm sao gánh vác được trọng trách? Những việc thường ngày của chúng ta, đệ tử không cần phải bận tâm, chỉ cần trong lúc chia ly này, hãy tỏ ra là một người anh hùng.”

Bốn người ngừng khóc. Thanh Hư sư phụ nói: “Đệ tử, để ngươi một mình ở bên ngoài, chúng ta thực sự không nỡ. Nhưng việc này quan trọng, chúng ta không thể thay thế, tất cả đều dựa vào ngươi một mình đối phó. Trong đạo và ngoài đời, xuất thế và nhập thế, trăm ngàn thử thách, một mình đảm đương, trọng trách lớn lao như vậy, đều đang chờ ngươi hoàn thành. Ngươi cần phải có tinh thần và ý chí kiên cường.”

Sư gia đứng dậy, nắm tay Lực Bình, bốn người đi dạo trên núi. Bỗng từ trên cây cổ thụ bay ra một con hạc trắng đỉnh đỏ, kêu lên một tiếng, bay vút lên trời. Lại thấy ánh sáng lấp lánh, tai nghe tiếng nhạc tiên, tâm cảnh của bốn người đã hoàn toàn thay đổi. Vô Cực đạo nhân ngâm lên một bài thơ của Khâu Tổ.

Thấm Viên Xuân

Đại trí nhàn nhã
Phóng túng không ràng buộc
Mặc cho tự nhiên
Gửi lòng nhã hứng
Giữa thông đá
Ca cao say đắm
Dưới trăng trước gió
Ngọc nữ thổi sáo
Kim đồng múa tay áo
Đưa ta say sưa vào cõi thái huyền
Lý lẽ huyền diệu
Chìm nổi mênh mông
Đến từ miên man

Kỳ diệu thay cảnh đẹp khó tả
Tính ra là một động tiên giữa nhân gian
Ngạo nghễ đứng vững thân dày dạn
Núi mài năm tháng
Mặc kẻ khinh bạc
Biển hóa thành nương dâu
Thần khí hòa hợp
Âm dương thăng giáng
Đã chiếm được tiên nhân đất tự tại

Không phiền não

Thả lòng phóng bút
Cuồng viết thiên thơ

Một dải mây lành bay đến, đón ba vị sư phụ ra đi. Vương Lực Bình chắp tay tiễn biệt.

Vương Lực Bình tỉnh dậy, vẫn ở trong nhà, những chuyện trong mơ nhớ rõ từng chi tiết. Anh hiểu rằng mọi thứ đã được sắp đặt như vậy, thuận theo tự nhiên là tốt nhất, tâm trạng đã tốt hơn nhiều. Nhưng vẫn lo lắng cho ba vị sư phụ tuổi đã cao, đường về xa xôi, để tránh khổ cực trên đường, anh liền đi thẳng đến nhà ga mua vé tàu, lại mua thêm một ít trái cây, rồi vội vã hướng về phía Tây Sơn.

Ba vị sư phụ đã thu dọn xong xuôi, trong nhà ngoài sân đều được quét dọn sạch sẽ. Thật là đến cũng không, đi cũng không.

Vương Lực Bình thấy sư gia mặc áo mới, hai vị sư phụ đi giày mới, tinh thần phấn chấn, rất là phong độ, trông như trẻ lại nhiều tuổi. Ba vị sư phụ thấy anh mang đến nhiều trái cây, cũng không nói nhiều, liền bỏ vào hành lý.

Vương Lực Bình nói: “Sư gia, sư phụ lần này trở về, cũng đã trải nghiệm thêm một tầng thế tục, xin hãy đi tàu hỏa mà về.” Anh lấy vé tàu đưa cho Thanh Tịnh sư phụ.

Ba vị sư phụ đều cười. Sư gia nói: “Được thôi, cứ theo sắp xếp của đệ tử. Ba lão già núi rừng chúng ta cũng thử cảm nhận cái vị của cái chân sắt tròn tròn mà đạo nhân du phương nói đến.”

Vương Lực Bình biết thời gian tàu chạy còn sớm, liền về nhà, nhờ mẹ làm một ít bánh nướng. Mẹ của Vương Lực Bình nghe tin ba vị sư phụ sắp về, cũng không kìm được nước mắt nóng hổi.

Vương Lực Bình trở lại núi, ba vị sư phụ đã đứng đợi trước cửa, hành lý đã đeo trên vai. Sư gia bế linh quy ra, dặn dò Vương Lực Bình hãy chăm sóc cẩn thận, Vương Lực Bình nhìn thấy linh quy im lặng không động đậy, đón lấy hôn lên mặt, rồi đặt lại trong lòng bàn tay, để nó chào tạm biệt ba vị sư phụ.

Bốn người lại nhìn một lần nữa ngôi nhà cũ của người thợ rèn, những cây cỏ hoa lá trước nhà, không gian yên tĩnh này.

Hai ngọn núi nhỏ chắp tay, từ biệt đầy tình cảm, rồi từ từ đi xuống núi.

Bốn người đến sân ga, gia đình họ Vương đã đợi sẵn ở đó. Ba vị sư phụ theo Vương Lực Bình lên tàu và ngồi xuống, Vương Lực Bình thì thầm với Thanh Tịnh sư phụ về việc đi tàu và chuyển tàu, rồi xuống tàu đứng chờ. Mẹ của Vương Lực Bình đưa bánh nướng qua cửa sổ một cách kính cẩn, không kìm được nước mắt.

Tàu từ từ chuyển bánh, ba vị sư phụ mắt ngấn lệ, vẫy tay từ biệt. Mẹ của Vương Lực Bình được con gái đỡ, vẫn khóc nức nở, con gái cũng rơi lệ. Tàu dần xa khuất. Vương Lực Bình vẫn đứng im như tượng gỗ, không nói, không khóc, đầu óc trống rỗng:

Mười mấy năm qua, thầy trò bốn người cùng chung chí hướng, cùng nhau chia sẻ ngọt bùi, tình cảm sâu nặng như biển, ngày ngày gặp mặt, đó chính là thế giới của họ. Giờ đây ba vị sư phụ rời đi bằng tàu hỏa, tiếng ồn ào của tàu càng làm tăng thêm cảm giác nặng nề. Ba vị sư phụ trên đường đi không có tâm trí ngắm cảnh, nhìn nhau mà không nói gì, ngồi im lặng, để mặc cho tàu lao về phía trước.

Suốt chặng đường đi, mọi thứ đều bình yên, đôi khi gặp khó khăn thì có người đến giúp đỡ. Ba vị sư phụ cũng không để ý ai giúp, chỉ chăm chú đi tiếp.

Chẳng mấy chốc đã đến Thanh Đảo, chọn đường đi về phía đông, ngọn núi Lao Sơn đã hiện ra trước mắt.

Từ ngày rời quê hương, đã mười lăm năm trôi qua, những chuyến du phương vội vã cũng đã là chuyện bảy năm trước. Hôm nay trở lại nơi xưa, trong lòng ba vị sư phụ cũng dậy sóng như những con sóng biển bên cạnh. Chỉ là bên cạnh thiếu vắng đệ tử, dù ba người cùng đi, cũng thấy cô đơn.

Ba vị sư phụ không có hứng thú ngắm cảnh dọc đường, đi thẳng đến Trường Xuân Động, dù con đường này đã quen thuộc, nhưng bước chân vẫn cảm thấy nặng nề. Khi gần đến cửa động, bỗng nghe Vô Cực đạo nhân kêu lên: “Trong động có người.”

Vừa dứt lời, từ trong động bước ra một người, ba vị sư phụ định thần nhìn kỹ, không khỏi ngạc nhiên và vui mừng, người đó chính là đệ tử Vĩnh Sinh. Ba vị sư phụ tưởng là dương thần của Vương Lực Bình xuất hiện, đến khi Vương Lực Bình bước lên đón lấy hành lý, mới tin rằng đó chính là người thật. Ba vị sư phụ, người thì nắm tay Vương Lực Bình, người thì xoa đầu anh, hôn đi hôn lại, thật là một ngày không gặp, cảm giác như ba năm.

Vô Cực đạo nhân hỏi: “Đệ tử, chúng ta đi tàu hỏa đến đây, sao ngươi lại có thể đến trước?”

Vương Lực Bình vừa dẫn ba vị sư phụ vào động, vừa nói: “Con đã đi theo hộ tống sư gia và sư phụ suốt chặng đường, các vị không nhìn thấy sao?”

Ba người như tỉnh giấc mơ, mới biết rằng trên đường đi quả thật có người ân cần chăm sóc, nhưng vì tâm trí bận rộn, nên đã để anh lẫn vào mà không nhận ra. Ba vị sư phụ nhìn nhau, không khỏi bật cười. Nhìn lại trong động, mọi thứ đã được dọn dẹp sạch sẽ, các vật dụng được sắp xếp ngăn nắp, ngay cả bốn cái đệm ngồi cũng được đặt ngay ngắn, như thể Vĩnh Sinh đã ở đây từ lâu.

Sư gia đùa vui: “Đệ tử, vụ án này chúng ta đã giải quyết xong với ngươi rồi, sao lại đến đây làm phiền lão phu?”

Vương Lực Bình nói: “Sư gia và sư phụ đã vất vả trên đường, xin hãy ngồi xuống nghỉ ngơi. Về vụ án, đệ tử tự nhiên sẽ nghe theo sắp xếp, chỉ là có một việc đệ tử vẫn chưa thực sự hiểu rõ, nên đã theo ra đây, xin sư phụ chỉ giáo.”

Bốn người ngồi xếp bằng trên đệm, sư gia vẫn hỏi: “Có việc gì không hiểu?”

Vương Lực Bình nói: “Từ khi đệ tử học đạo, sư gia và sư phụ luôn dùng đại đạo để khai sáng, dạy con thanh tịnh giữ hư, chặt đứt dục vọng vật chất, cắt đứt tà niệm, dứt bỏ chuyện trần tục, không mang gì đến, không mang gì đi. Đệ tử trải qua bao khó khăn, học đạo nhiều năm, mới ngộ ra đạo lý, mới có được ngày hôm nay. Tại sao sư phụ lại bảo đệ tử ở lại nhà thế tục, vừa giữ đại đạo, vừa làm tròn đạo làm người? Điều này đệ tử suy nghĩ mãi mà không hiểu.”

Ba vị sư phụ nhìn nhau, mỉm cười gật đầu.

Vô Cực đạo nhân từ từ nói: “Quả là một đệ tử không hề mê muội. Ngươi hãy suy nghĩ kỹ, không nói đến phái Long Môn của chúng ta. Trên đời này có chuyện hai đời sư phụ đều đã ngoài sáu mươi tuổi mà dạy một đệ tử không? Hơn nữa, thiên hạ đại loạn mười năm, người người sống trong cảnh không biết ngày mai, biết bao người muốn vào cửa đạo mà không có đường đi. Ngươi học đạo nhiều năm, nhân cơ hội này dẫn ngươi lên núi, đoạn tuyệt duyên trần, chẳng phải cũng là chuyện rất tự nhiên sao? Tại sao chúng ta lại dẫn ngươi du phương nhiều năm rồi lại trở về?”

Về lại quê hương, để rồi lại để bạn chịu đựng những khổ đau của thế gian? Xét về tình nghĩa giữa bốn chúng ta, dù là quan hệ thầy trò cũng không thể so sánh được với tình cha con. Chúng ta đã là những người già tám, chín mươi tuổi, vẫn không thể chịu đựng được nỗi đau của sự chia ly này, mấy mươi năm qua chưa từng có lúc nào buồn bã, đau khổ đến mức nước mắt rơi như vậy; lại còn phải để bạn một mình ở lại thế gian, tiếp tục thực hiện đạo làm người, thực sự không phải là sự sắp đặt của chúng ta, nhưng sự tình buộc phải như vậy.”

Vô Cực đạo nhân nói ra những lời có tình có lý, mọi người đều lặng lẽ lắng nghe. Vô Cực đạo nhân tiếp tục nói:

“Vận hóa của trời đất có lý có số, cơ trời vi diệu, không thể nói rõ. Từ khi Tổ sư Khai Sơn đến nay đã hơn tám trăm năm, trong đó có lúc thịnh lúc suy, nhưng vẫn tiếp tục không dứt. Đạo hành thiên địa, chu lưu lục hư, rộng lớn sâu sắc, vi diệu huyền thông. Chúng ta vì nhiều nhân duyên khác nhau, xa lánh thế gian, ẩn cư nơi rừng núi, tu trì tham ngộ, cả đời chỉ làm một việc. Nhưng đối với việc hoằng dương đại đạo, chúng ta đều ít có đóng góp. Đây không phải là chúng ta không làm, mà là thời cơ chưa đến. Chúng ta tu hành mấy mươi năm, cả đời chỉ làm một việc, đó là dành mười lăm năm truyền đạo cho bạn, còn bạn thì gặp đúng thời cơ, gánh vác trọng trách hoằng dương đại đạo.”

Vô Cực đạo nhân nhìn Vương Lực Bình bằng ánh mắt sâu thẳm của bậc trưởng bối, tiếp tục nói với giọng đầy kỳ vọng:

“Mấy năm nữa, ý thức tôn giáo của nhân loại sẽ một lần nữa thức tỉnh, mối quan hệ giữa trời và người sẽ trở thành trung tâm nghiên cứu của thế gian. Văn minh Trung Hoa ẩn chứa trí tuệ sâu sắc, văn hóa Đạo gia chứa đựng nhiều cơ duyên, đến lúc đó sẽ lại được thế gian khám phá, tỏa sáng rực rỡ. Người hoằng dương văn hóa Đạo gia, một là phải được truyền thụ chân truyền của văn hóa Đạo gia, hai là phải có trải nghiệm thực tế về thế sự, không có hai điều kiện này thì không thể đảm đương được. Linh Linh Tử, con đã hiểu rõ chưa?”

Vương Lực Bình nghe sư gia phân tích rõ ràng, như tỉnh giấc mộng lớn, chắp tay nói: “Sư tôn nói như gió quét mây tàn, đệ tử đã hiểu rồi.”

Vô Cực đạo nhân lại ân cần nói: “Lần này con về, nhất định phải ẩn mình chờ thời, hòa mình vào đời thường, làm một người bình thường, hiếu thảo với cha mẹ, yêu thương anh chị em, hòa thuận với mọi người hòa thuận với láng giềng, nhu hòa khiêm nhường, không tranh giành với đời, siêng năng tề gia, đối xử nhân hậu, tích đức âm thầm.

Khi giao tiếp với người, hãy xuất phát từ chân thành; khi tiếp xúc với vật, hãy lấy trung hậu làm gốc. Rộng rãi phóng khoáng, nuôi dưỡng chí hướng bằng sự giản dị, trở về với thuần phác nguyên sơ, tận hưởng niềm vui tự nhiên. Nói ngắn gọn: hãy làm việc tốt, sống tốt, sau khi lập gia đình thì sống trọn vẹn, cứu người giúp đời, thay trời hành đạo. Nhớ chúng ta thì lên núi thăm nhé. Nơi này cũng là nhà của con.”

Vương Lực Bình gật đầu liên tục: “Đệ tử đã ghi nhớ.”

Sư phụ Thanh Hư tiếp lời: “Đồ nhi Vĩnh Sinh, lúc trước sư gia dạy ta và sư phụ Thanh Tĩnh thường nói: Thông minh khó, hồ đồ khó, từ thông minh đến hồ đồ lại càng khó; buông bỏ một chút, tiến một bước, lùi một bước, mới được tâm an. Giờ con biết quá nhiều thứ, nhiều điều người thường không thể chấp nhận hay thấu hiểu. Con còn trẻ khí thế, tuyệt đối không tranh giành với người đời. Đây là quá trình mài giũa tâm tính, phải học cách hòa hợp tự nhiên với bậc thượng sĩ, trung sĩ, hạ sĩ như lời Lão Tử ‘minh đạo nhược muội’ (đạo sáng tựa như mờ ảo). Để con ở lại hành đạo nơi nhân gian cũng là thuận theo lẽ tự nhiên. Không nói rõ trọng trách này, chỉ để con từ từ thể ngộ trong cuộc sống, cũng là giữ nguyên bản sắc tự nhiên. Vốn định khéo léo lướt qua, không nói thẳng, ai ngờ con chẳng hề mê muội. Không mê muội thì làm sao lên cảnh giới cao hơn?”

Vương Lực Bình cười: “Nhờ sư gia và sư phụ khai ngộ, đồ nhi càng thêm tỏ tường.” Ba vị lão nhân đều bật cười.

Sư phụ Thanh Tĩnh nói: “Con một mình ở lại dưới núi, ắt cô độc, vậy gọi là ‘Cô Độc Cư Sĩ’ đi.”

Ba người vỗ tay tán thưởng: “Hay lắm!”

Vô Cực đạo nhân nắm tay Vương Lực Bình, bốn người cùng ra khỏi động. Chỉ thấy non cao chót vót, tùng bách xanh ngắt, mây trôi bạt ngàn. Lại nghe sóng vỗ bờ, gió núi vi vu, chim hót líu lo. Vô Cực đạo nhân chợt nhớ đến bài từ Vô Tục Niệm của Khâu Tổ, liền ngâm tiễn Vương Lực Bình:

Nếu luận về buổi đầu chuyển hóa,
Gió trí tuệ sinh khởi,
Chợt thấy thanh lương vô tận.
Mắt sáng thấu suốt hư không,
Khí lành hội tụ,
Xua tan phiền não trần ai.

Năm giặc[^1] trốn chạy,
Ba xác[^2] ẩn dật,
Trong lòng chẳng lưu dấu vết.
Thần tư an định,
Lặng yên chẳng động binh đao.

Bước tự tin giữa cõi hồng trần,
Đói ăn khát uống,
Sống ngày tùy duyên tìm đạo.
Ngoài vật chất, giữa nhàn hạ,
Báu trời đất,
Thỉnh thoảng gõ nhịp nhắc nhở.

Hẹn sau gặp sư tổ,
Đường trước lối về,
Tự có thông điệp chân thực.
Thư hạc triệu mời,
Ngồi lên mây trời du ngoạn.

Thầy trò bốn người trở về động lễ bái tổ sư,
Vương Lực Bình lại quỳ lạy ba vị sư tôn,
Rồi xuống núi ra đi.

Giải thích:
[^1] “Năm giặc”: Chỉ năm thứ phiền não (tham, sân, si, mạn, nghi) trong Phật giáo.
[^2] “Ba xác”: Theo Đạo giáo, “tam thi” (三尸) là ba con sâu tồn tại trong cơ thể, tượng trưng cho dục vọng.

Chương 18: Siêu Thánh Nhập Phàm

Trong những cuộc trò chuyện dài giữa người chấp bút cuốn sách này và ông Vương Lực Bình, ông không hề nhắc đến chuyện chia ly với sư gia và sư phụ. Mãi đến cuối cùng, sau nhiều lần bị chúng tôi “vặn hỏi”, ông mới dùng giọng chậm rãi, trầm ấm kể lại sự thật: Lúc ấy, ông như rơi vào “điểm thấp nhất của cuộc đời”, giống như lần chết đi sống lại khi tu luyện “Nê Cố”. Ông tiễn sư gia và sư phụ về núi, trên xe bốn người nhìn nhau mà không thốt nên lời, cũng chẳng rơi lệ. Mãi đến khi từ núi Lão Sơn trở về, hồi tưởng lại, nỗi buồn mới càng lúc càng dâng trào. Hóa ra lúc đau lòng nhất, con người ta không biết khóc, mà nước mắt chỉ rơi sau đó. Khi trở về nhà từ Lão Sơn, ông đã lâm bệnh nặng, hơn hai mươi ngày chưa hồi phục. Trong khoảng thời gian ấy, các vị sư gia và sư phụ trên núi Lão Sơn cũng đều ngã bệnh.

Kể đến đây, mắt ông Vương Lực Bình lại đỏ hoe.

Điều này có lẽ khác xa với hình ảnh một đạo sĩ già từng thoát tục, phóng khoáng mà độc giả thường hình dung? Những học viên cũ từng tham gia lớp tu luyện do ông Vương Lực Bình tổ chức hẳn không quên: Sau khi thầy trò cùng ăn, cùng ở và tu luyện một thời gian, sẽ Một hiện tượng cảm xúc thú vị xuất hiện: dù là người già tuổi xế chiều, trung niên mang bệnh tật lâu năm, hay thanh niên u sầu, tất cả đều như có làn gió xuân ấm áp thổi qua tâm hồn, thổi bay mọi đau khổ, buồn phiền, băn khoăn, thất vọng… Mọi người vô cớ trở nên vui vẻ, rạng rỡ, như lũ trẻ con hồn nhiên hóa thành con người mới. Thú vị hơn, giữa thầy và trò dường như có sự “đồng bộ hóa nhịp sinh học”: đêm đến, nếu Vương Lực Bình không ngủ, học viên cũng chẳng yên giấc; ngược lại, học viên thức thì thầy cũng trằn trọc. Hai bên bèn “đấu trí” cho đến khi ông Vương ra tay “dẹp loạn”, học viên mới chịu ngủ say.

Ông Vương Lực Bình chia sẻ: Đạo gia nói về sự hòa hợp giữa tiểu vũ trụ và đại vũ trụ. Với nhân loại, đó là sự hòa nhập giữa con người và vũ trụ. Với mỗi cá nhân, không chỉ giao hòa với thiên nhiên mà còn phải kết nối với đồng loại. Tu luyện chung chính là giao tiếp không lời, là cộng hưởng tư duy, hòa hợp tâm linh, giao thoa cảm xúc. Đây cũng là cách điều hòa mối quan hệ giữa người với người, giúp họ thân thiết, hữu nghị và nương tựa lẫn nhau.

Suốt hơn mười năm tu luyện cùng sư gia và sư phụ, mối liên kết giữa họ không dừng ở tình cảm hay tư tưởng, mà là sự hòa quyện của cả sinh mệnh! Ông Vương thường nói, tính cách ông là tổng hòa sáu con người: cha, mẹ, sư gia, hai vị sư phụ và bản tính nguyên thủy của chính ông. Vì thế, khi thầy trò chia ly, cả hai phía đều trải qua quá trình tái cấu trúc sinh mệnh – một cơn “trở dạ” đau đớn, điều này hoàn toàn có thể thấu hiểu.

Chẳng phải đây chính là triết lý sâu sắc về con người sao?

Trong hệ thống giáo dục nhà trường, đặc biệt ở cấp tiểu học và trung học, dù thầy trò gần gũi ngày đêm, hiệu quả đạt được khó lòng sánh bằng lớp tu luyện 20 ngày của ông Vương. Tại sao? Bởi ngoài ngôn ngữ và văn tự, ông còn Ngoài việc giao tiếp với học viên bằng ngôn từ, ông còn tìm kiếm sự hòa hợp giữa tâm hồn và sinh mệnh. Nếu nền giáo dục nhà trường của chúng ta có thể tiếp thu cảm hứng từ điều này, biết đâu sẽ khai phá được một con đường “vô hình vô chất” trong phương pháp giảng dạy. Cách làm này sẽ cực kỳ hữu ích trong việc bồi dưỡng tấm lòng nhân ái cho trẻ nhỏ.

Tu luyện nội công đặc biệt coi trọng việc nuôi dưỡng đức hạnh. Về mối quan hệ giữa công phu và đức, một số người tu giải thích rằng: Làm nhiều việc thiện, tích nhiều đức, sẽ có thêm người âm thầm biết ơn và chúc phúc cho mình. Trong trường ý niệm vô hình được tạo bởi đám đông ấy, công phu của người tu sẽ tăng tiến nhanh chóng. Kỳ thực, điều này chỉ nói lên phần nhỏ của vấn đề. Bản thân việc tu luyện nội công chính là quá trình mài giũa tâm tính, dưỡng tính tình, thanh lọc tâm hồn. Mỗi ngày ngồi thiền, toàn bộ thân tâm dần chìm vào cảnh giới tĩnh lặng, hài hòa, cân bằng, trong suốt, quên mình mà hòa làm một với vạn vật. Mọi xáo động, xung đột, phá hoại, ô trọc, tư dục đều bị quét sạch, tan biến như khói. Thân tâm thường xuyên đắm chìm trong cảnh giới ấy, những điều lương thiện, tốt đẹp, thuần khiết sẽ tự nhiên hiển lộ, không nhiễm chút bụi trần. Tựa như đôi mắt chẳng thể chứa nổi một hạt cát.

Khi trò chuyện với người chấp bút cuốn sách về cảm nhận sau nhiều năm tu hành, ông Vương Lực Bình chia sẻ: Ấn tượng sâu sắc nhất là trái tim ông dần trở nên dịu dàng, không nỡ chứng kiến tội ác và bất hạnh tồn tại.

Đạo Đức Kinh của Lão Tử gồm năm nghìn chữ, một lần nói “Đạo”, hai lần nói “Đức”. “Đạo” là gốc rễ tiên thiên, là nguồn cội của vũ trụ. Từ “Đạo” sinh ra vạn vật hữu hình hữu chất, có sinh có diệt. Về bản tính của “Đạo”, hậu thế Đạo gia tổng kết thành mười đặc tính: “Hư vô”, “Thuần túy”, “Tự nhiên”, “Chất phác”, “Giản đơn”, “Bình dị”, “Thanh tĩnh”, “Vô vi”, “Nhu nhược”, “Bất tranh”.

Những đặc tính này khi thể hiện nơi con người chính là “Thượng Đức”. “Thượng Đức” là sự nhân cách hóa, đạo đức hóa của “Đạo”. “Đạo” biểu hiện nơi người gọi là “Đức”.

Lão Tử viết: “Thượng đức bất đức, thị dĩ hữu đức” (Đức cao không khoe đức, nên mới thực có đức), lại viết: “Khổng đức chi dung, duy đạo thị tòng” (Dung mạo của đức lớn, chỉ thuận theo Đạo).

Nghĩa là: “Thượng đức” cao nhất tự nhiên, vô hình, không dấu vết, không manh mối, là thứ nội tại, hàm súc, không phô trương, vô ý, tự nhiên mà hiển lộ.

Nếu là thứ nhân tạo, cố ý, phô phang, hình thức, đó chính là “hạ đức”. “Hạ đức bất thất đức, thị dĩ vô đức” (Hạ đức giữ lấy hình tướng đức, nên thực chất không có đức) – khắp nơi tỏ ra rất “có đức”, kỳ thực chưa đáng gọi là đức.

“Thượng đức vô vi, nhi vô bất vi” (Thượng đức không làm mà không gì không làm xong).

Sư gia thường dạy Vương Lực Bình: Làm việc tốt mà mong báo đáp, không gọi là có đức. Làm việc tốt dù không mong đền đáp, nhưng tự mình ghi nhớ, đó gọi là “dương đức”. Làm việc tốt mà bản thân hoàn toàn không biết, không nhớ, đó gọi là “âm đức”.

Chúng tôi luôn muốn khai thác từ chín năm sống đời thường của ông Vương Lực Bình những câu chuyện cảm động về việc “thay trời hành đạo”, cứu người giúp đời. Nhưng khi đặt câu hỏi này, ông Vương lại ngơ ngác, khó xử nhìn chúng tôi. Ánh mắt như muốn nói: “Những chuyện ấy có đáng nhắc làm chi? Tất cả đều là lẽ đương nhiên thôi.”

Về sau, chúng tôi mới hiểu ra: Lòng nhân từ, trắc ẩn, yêu thương, tương trợ – những điều tốt đẹp ấy nơi người có “thượng đức” hoàn toàn là vô thức, thậm chí có thể gọi là bản năng.

Lão Tử viết:

“Đạo sinh chi,
Đức súc chi,
Vật hình chi,
Thế thành chi.
Thị dĩ vạn vật mạc bất tôn Đạo nhi quý Đức.
Đạo chi tôn, Đức chi quý,
Phù mạc chi mệnh nhi thường tự nhiên.
Cố Đạo sinh chi, Đức súc chi,
Trưởng chi dục chi,
Đình chi độc chi,
Dưỡng chi phúc chi.
Sinh nhi bất hữu,
Vi nhi bất thị,
Trưởng nhi bất tể,
Thị vị huyền đức.”

(Tạm dịch:
Đạo sinh ra vạn vật,
Đức nuôi dưỡng chúng,
Vật chất tạo hình tướng,
Thế cuộc hoàn thiện.
Vì thế vạn vật không gì không tôn Đạo quý Đức.
Sự tôn quý của Đạo và Đức,
Không ai ban mệnh mà vốn tự nhiên.
Nên Đạo sinh ra, Đức nuôi dưỡng,
Lớn lên, trưởng thành,
Đơm hoa, kết trái,
Bồi bổ, che chở.
Sinh mà không chiếm hữu,
Làm mà không cậy công,
Dẫn dắt mà không thống trị,
Ấy gọi là đức sâu xa.)

Lão Tử lại viết:
“Thánh nhân vô thường tâm, dĩ bách tính tâm vi tâm” (Bậc thánh không có lòng riêng, lấy lòng dân làm lòng mình).

Người có “thượng đức” là bậc thánh. Sống đời thường với đức hạnh của thánh nhân, hòa mình vào trần thế – đây là cảnh giới cao hơn của nhân sinh, gọi là “siêu thánh nhập phàm”.

Như lời thiền gia từng nói:
“Thẳng hướng bên kia ngộ đạo,
Lại về bên này hành trì.”

Với tình yêu dành cho nhân gian và mọi sinh linh, với niềm say mê thiên nhiên, với khát vọng khám phá bí ẩn của vũ trụ, xã hội và kiếp người – ông Vương Lực Bình bắt đầu mỗi ngày sống đời thường trong sự thuần khiết, chất phác.

Trong gia đình, ông hết lòng hiếu thảo với cha mẹ, tình cảm ấy vô cùng sâu nặng và chân thành. Khi tĩnh tọa tu luyện, tâm trí ông thường ngược dòng thời gian trở về quá khứ: Hình ảnh mẹ hiền ôm ấp cho bú, vá áo nấu cơm, tần tảo nuôi nấng sáu anh chị em ông khôn lớn từng ngày – từng khung cảnh hiện lên sống động trước mắt. Những hình ảnh ấy rõ ràng, chân thực đến mức khiến ông không khỏi xúc động. Khi còn thơ ấu, con người đắm mình trong tình thương cha mẹ như tắm trong ánh nắng, cảm thấy mọi thứ bình lặng, tự nhiên, chẳng có gì đáng lưu luyến. Nhưng khi trưởng thành, ngoảnh lại nhìn tấm lòng yêu thương của cha mẹ thuở ấy, ai mà không thổn thức trước ân tình sâu nặng? “Thùy ngôn thốn thảo tâm / Báo đắc tam xuân huy” (Ai bảo lòng cỏ non / Đền đáp nổi ánh xuân – thơ Mạnh Giao). Nhờ khả năng “hồi anh ức vọng” (nhớ lại cảnh thuở ấu thơ), tình yêu cha mẹ trong ông sâu đậm hơn người thường.

Sư gia và sư phụ đã dốc hết tâm huyết cho ông, ngoài việc không phụ lòng thầy tổ, ông còn khát khao được đền đáp chữ hiếu! Thế nhưng, sau khi truyền thụ đạo nghiệp xong, các vị lại rời xa ông.

Sư gia thường dạy: “Con hiếu thảo với cha mẹ, chính là hiếu kính sư tôn.” Vì thế, tình yêu ông dành cho ba vị lão nhân được thể hiện qua tấm lòng đối với song thân và bậc cao niên trong thiên hạ. Ông xem sinh mệnh của cha mẹ như một phần sinh mệnh chính mình. Sinh mệnh hiện tại chỉ là “hậu thiên sinh mệnh”, còn “tiên thiên chi mệnh” của con người ở giai đoạn gần nhất được cha mẹ trực tiếp hun đúc. Dù khi sinh ra đã tách khỏi thân thể cha mẹ, nhưng cội rễ vẫn nằm ở đó, mối liên hệ vẫn tồn tại. Bởi vậy, hiếu thảo với cha mẹ thực chất là củng cố nền tảng sinh mệnh của chính mình. Đạo gia nói về hiếu kính người già không chỉ mang ý nghĩa nhân đạo, luân lý, mà còn ẩn chứa tầng ý nghĩa sâu xa về sinh mệnh. Trong quan niệm Đạo gia, sinh mệnh một người là kết tinh từ thiên nhiên, tổ tiên, và vô số yếu tố không-thời gian – nó không đơn độc, mà là một đoạn trong chuỗi nhân quả dài, một điểm trên mạng lưới hoặc quả cầu liên kết đa chiều.

Vương Lực Bình luôn sống cùng cha mẹ và bố mẹ vợ. Ông thường kể chuyện vui cho các cụ nghe, có lúc mệt quá, ông lại như thuở bé, gối đầu lên đùi mẹ mà ngủ thiếp đi.

Năm 29 tuổi, ông kết hôn với Cẩm Mẫn – một nữ công nhân trẻ cùng nhà máy. Mối nhân duyên này mang đậm nét cổ phong.

Mẹ ông Vương và mẹ Cẩm Mẫn từ nhỏ đã sống cùng nhau thân thiết như chị em ruột, hai người âm thầm ước hẹn: “Sau này nếu không làm chị em, thì sẽ thành thông gia.” Trời chiều lòng người, mười năm sau, nhà họ Vương sinh con trai, nhà họ Cẩm sinh con gái. Hai trẻ lớn lên bên nhau, thanh mai trúc mã, tâm đầu ý hợp. Sau này Vương Lực Bình bái sư học đạo, cô gái họ Cẩm chỉ tưởng chàng theo ba lão “lang trung” học nghề, nào ngờ cậu bé thuở nào cùng trốn tìm đã bước vào cửa đạo. Nàng vẫn xem chàng như người thường Vẫn yêu chàng tha thiết. Vương Lực Bình vâng lệnh sư phụ hoàn tục, phải kết hôn như người thường, biết rõ tâm ý của nàng, muốn giãi bày nhưng khó mở lời, trong lòng sốt ruột. May nhờ “thiên ý” se duyên, đôi tình nhân cuối cùng cũng nên vợ nên chồng. Ngày cưới, sư gia và sư phụ đương nhiên đến sớm chúc mừng đệ tử, chỉ sợ kinh động mọi người nên không hiện hình, duy Vương Lực Bình thấy rõ mồn một. Lễ xong, các vị cáo từ về núi, trước khi đi, sư gia thì thầm bên tai ông: “Năm sau sinh quý tử nhé.”

Tháng trăng mật, Vương Lực Bình cũng ân cần dịu dàng, là người chồng tốt. Nhưng thói quen hình thành suốt mười mấy năm khó đổi. Đêm nào nửa khuya, ông cũng lặng lẽ trở dậy, quay mặt vào tường ngồi thiền đến sáng.

Về sau, việc này bị vợ phát hiện. Ban đầu, nàng không để ý. Ngày dài tháng rộng, đêm nào cũng vậy, nàng buồn lắm. Đành phải giữ ông nằm yên trên gối mỗi tối. Vương Lực Bình không cãi, vui vẻ nghe theo. Vợ vui lòng, ngủ ngon lành.

Đêm ấy, hai người êm đềm chìm vào giấc. Khuya khoắt, nàng ngủ say. Vương Lực Bình lại lén dậy tọa thiền. Chẳng biết lúc nào nàng tỉnh giấc, thấy chồng không bên cạnh, bật đèn lên – chàng vẫn ngồi bất động. Nàng nhìn chồng mắt nhắm miệng khép, thần thái an nhiên. Đưa tay thử hơi thở – chẳng có chút sinh khí nào. Nàng hoảng hốt khóc òa.

Vương Lực Bình mở mắt, cười như không: “Khóc gì? Chẳng phải anh vẫn bình thường sao?”

Lúc này, ông thật khó nói thành lời. Giải thích sao đây? Đâu phải chuyện một hai câu là xong! Ai cũng biết ông từng sống cùng ba lão “lang trung” chạy nạn từ Quan Nội, lúc ấy ông chỉ là đứa trẻ mười mấy tuổi hiền lành, chăm sóc các cụ qua ngày. Nhưng bí mật trời giấu trong đó, ngay cả cha mẹ ông cũng không rõ, người ngoài càng mù tịt. Lúc chia tay, sư gia đã dặn đi dặn lại: “Thời cơ chưa đến, không được lộ tẩy.” Vợ hỏi những câu liên quan đến việc tu đạo, ông đành ấp úng lảng tránh, nghĩ rằng khi nàng quen rồi sẽ thôi.

Nhưng lòng nghi ngờ của vợ ngày một dày thêm. Chồng không nói rõ, nàng bèn đa nghi hơn. Ban ngày ở cơ quan cố nghỉ ngơi, đêm đến tắt đèn liền mở to mắt dõi theo chồng, xem lần này anh ta làm trò gì.

Lần này, Vương Lực Bình nằm im phăng phắc, ngủ yên đến tận rạng sáng. Vợ mừng thầm trong lòng, lại tự trách mình trước kia ngủ quá say để chồng lợi dụng “kẽ hở”. Đang lúc vui mừng, cửa phòng bật mở, Vương Lực Bình bước vào. Nàng vội ngoái nhìn giường – trống trơn. Quay lại nhìn chồng trước mặt: giày đầy bùn đất, quần áo ướt sũng sương đêm.

Thấy vợ mặt mày ngơ ngác, Vương Lực Bình lại bật cười, vừa cởi giày vừa nói: “Vừa ra ngoài giải quyết chút việc, sương nhiều quá.” Vợ chẳng biết đâu là thật giả, hư thực, đầu óc quay cuồng, lúc nghi ngờ chồng, lúc lại hoài nghi chính mình.

“Người này thật kỳ lạ,” vợ thường thầm nghĩ. Anh ta ít đọc sách báo, nhưng hay ghi chép vào sổ tay. Lẽ ra chồng không nên giấu vợ điều gì, xem anh viết gì cũng là chuyện thường tình. Nhưng anh chẳng hề giấu giếm, cuốn sổ để ngay ngắn trong ngăn kéo đầu giường. Thế mà nàng, kể cả người nhà, chưa từng nghĩ đến việc mở ra xem. Hết một cuốn, anh lại thay cuốn mới. Trong mắt nàng, chồng là người ham học hỏi. Anh chẳng bao giờ hỏi han tin tức bên ngoài, nhưng dường như không gì qua mặt được anh. Chuyện nhà máy, gia đình, bạn bè, thậm chí vài lời bàn luận quốc sự – tất cả đều đúng đắn, hợp lý. Đặc biệt, những việc tương lai anh dự đoán đều trúng phóc. Nhà có khách đến, anh luôn biết trước, dặn Một buổi chiều, hai vợ chồng đang chuẩn bị ra phố mua đồ, Vương Lực Bình bỗng dừng chân, giục vợ về nhà ngay vì mẹ cô đang ốm nặng, sắp phải đưa đi viện. Nghe xong, Cẩm Mẫn khó chịu vô cùng. Bữa trưa nàng vừa gặp mẹ, cụ vẫn khỏe mạnh, sao giờ đột nhiên nguy kịch? Nhưng thấy chồng nghiêm nghị, vội vã quay về, nàng đành nửa tin nửa ngờ theo sau. Vừa đến cổng, đã nghe trong nhà xôn xao, cả nhà đang khiêng mẹ đi cấp cứu. Chứng kiến cảnh ấy, nàng hoảng hốt khóc nức nở. Vương Lực Bình lại bình tĩnh khác thường. Anh nắm tay mẹ vợ, gọi “Mẹ ơi”, đôi mắt cụ từ từ mở ra, hơi thở đều dần. Ông nhẹ nhàng nói: “Mẹ thấy ổn rồi chứ? Ngồi dậy thử xem.”

Quả nhiên, cụ ngồi thẳng, vịn tay chàng đứng lên, bước vài bước vững vàng. Sắc mặt hồng hào, mắt sáng long lanh, như khỏe hơn cả lúc chưa ốm. Mọi người từ kinh ngạc chuyển sang vui mừng, đều bảo cụ phúc lớn nên chẳng bệnh nặng. Duy Cẩm Mẫn đứng im ngẩn ngơ. Vương Lực Bình cười với vợ: “Sao cứ đờ ra thế? Chưa hiểu à? Mẹ nhớ con quá thành bệnh, con về là khỏi ngay thôi!” Nàng chẳng biết nên khóc hay cười.

Năm thứ hai sau hôn lễ, hai vợ chồng đón quý tử đầu lòng. Từ khi có con, chuyện lạ càng dồn dập. Bé gửi ở nhà trẻ, mỗi lần con khóc ngặt nghẽo, Vương Lực Bình đều lập tức biết được, vội bảo vợ – đang làm việc cùng dãy phòng – chạy sang dỗ dành. Ban đầu, Cẩm Mẫn tưởng cô bảo mẫu báo tin. Hỏi ra mới hay chẳng ai nhắn gì, thế mà chồng vẫn lần nào cũng chính xác.

Cẩm Mẫn quyết làm rõ ngọn ngành. Lần này, Vương Lực Bình nghiêm túc giải thích: “Thực lòng anh cũng không biết vì sao mình biết được. Giống như hồi nhỏ hồi nhỏ chơi trốn tìm, mù mờ thế nào lại gặp. Người lớn rồi, đương nhiên khôn hơn thuở bé, huống chi cha con máu mủ thông liền.”

Cẩm Mẫn ngẫm lại: Đúng thế! Thuở nhỏ, dù bạn bè giấu kỹ đến đâu, Vương Lực Bình vẫn như có thần mách bảo, tìm ra hết. Anh ta vốn lanh lợi từ bé. Nghĩ vậy, nàng lại thấy mọi chuyện đương nhiên. Nhưng trong đó vẫn ánh lên vẻ huyền bí khó lý giải, mơ hồ giữa có và không. Dù sao, chồng nàng vẫn là người lương thiện, chính trực, trọng nghĩa khí, sẵn lòng giúp đời – đàn ông quân tử hiếm có khó tìm!

Tình ái nhân gian, phong tục trần thế, dù hòa vào vẫn siêu nhiên thoát tục, không vướng bụi, không đọng lại, trong vắt như nước, pháp luân thường chuyển. Thế nhưng chẳng phô vẻ dị thường, chẳng lộ hào quang, không kiêu ngạo, như băng gặp nắng, tan chảy không để lại dấu vết. Cõi trần hỗn độn và đại đạo hư không hòa làm một, như cá gặp nước, nước có cá, tự nhiên hài hòa, tương sinh thành thực.

Tu đạo tại gia khác xa tu trên núi. Trên núi, ngày đêm làm bạn với trời đất; nơi trần thế, hòa cùng chúng sinh. Đạo gia có cách xử thế riêng, được trình bày trong Phòng Trung Thuật.

Phòng Trung Thuật là học thuyết nhân sinh của Đạo gia Trung Hoa, nghiên cứu đời người, điều hòa mối quan hệ giữa người với người qua hệ thống lý luận và phương pháp tu luyện hoàn chỉnh.

Phòng Trung Thuật gồm mười hai thiên: Đạo Đức, Thái Hư, Thái Cực, Tam Tài, Nhân Sinh, Phụ Mẫu, Phu Thê, Huynh Đệ, Tỷ Muội… Trọng tâm là tu luyện hệ thống vũ trụ trong thân người, quy luật hóa biến đổi nhân sinh, dưỡng sinh, kết hợp các mối quan hệ. Năm nội dung này xuyên suốt, tạo thành hệ thống triết lý nhân sinh Đạo gia – phần quan trọng của văn hóa Đạo giáo.

Phòng Trung Thuật được nhắc đến ở đây không phải khái niệm hẹp “phòng sự” thông tục ngày nay “Phòng Trung Thuật” được nhắc đến ở đây không phải là khái niệm hẹp về “phòng sự” thông thường. Khái niệm hẹp này chỉ đề cập đến sinh hoạt tình dục giữa nam và nữ, vốn chỉ là một phần nhỏ trong thiên Phu Thê của Phòng Trung Thuật mà chúng ta đang bàn.

Luận về hệ thống nhân sinh nghiên cứu toàn bộ quá trình sinh trưởng của con người từ lúc sinh ra đến khi chết. Nó được chia thành ba phần: Thiên Thai Dưỡng (Thai nghén), Thiên Trưởng Thành (Trưởng thành), và Thiên Suy Lão (Lão hóa).

  • Thiên Thai Dưỡng bàn về giai đoạn tiên thiên của cha mẹ, cách thụ thai và dưỡng thai cho đến khi đủ 9 tháng 10 ngày. Trong quá trình này, cả nam và nữ đều cần tu luyện theo phương pháp riêng mỗi tháng. Những khái niệm hiện đại như “ưu sinh ưu dục” (sinh con ưu việt) hay “thai giáo” (giáo dục từ trong bụng mẹ) tuy gần gũi nhưng không thể sánh bằng tính hệ thống và chiều sâu của Thiên Thai Dưỡng.
  • Thiên Trưởng Thành phân chia cơ thể con người thành nhiều giai đoạn dựa trên tiêu chuẩn “tinh huyết” (tinh khí và máu huyết), bao gồm: Đồng thể (thể trạng trẻ thơ), Lậu thể (thể trạng hao tổn), Phá thể (thể trạng suy yếu), và Suy thể (thể trạng lão hóa). Mỗi giai đoạn đều có phương pháp tu luyện khác nhau.
  • Thiên Suy Lão phân tích nguyên nhân lão hóa và cách thức kéo dài tuổi thọ.

Luận về quy luật nhân sinh nghiên cứu quy luật biến đổi tự nhiên của cơ thể và sự điều chỉnh “hỏa hầu” (thời điểm, mức độ) trong quá trình tu luyện nội công. Đạo gia tổng kết năm quy luật dao động chu kỳ của con người. Trong phần này, chúng tôi xin đề cập ba quy luật chính: Sinh mệnh tuyến (đường đời), Tình cảm tuyến (đường cảm xúc), và Tính tuyến (đường bản năng). Hình minh họa như sau:

Hình 7: Biểu đồ dao động chu kỳ “ba đường” trong cơ thể người

Đại đạo vô biên, đường đời (sinh mệnh tuyến) không có điểm khởi đầu, không có điểm kết thúc. Nhưng với một con người cụ thể, sinh tử hữu hạn nên đường đời có điểm bắt đầu và kết thúc – đó chính là một đời người. Khi con người chưa chết, đường đời không ngừng vận hành; đường tính dục (tính tuyến) và đường cảm xúc (tình tuyến) Các đường này vận động theo đường sinh mệnh. Khi đường sinh mệnh ngừng lại, đường tính dục và đường cảm xúc cũng dừng theo. Bên ngoài ba đường này, còn có hai đường khác: khi con người sống, chúng vận hành; khi chết, chúng vẫn tiếp tục – đây là lý thuyết của Đạo gia.

Theo Đạo gia, điểm khởi đầu của đường sinh mệnh là khoảnh khắc cắt dây rốn. Thời điểm này đánh dấu sự chuyển từ trạng thái tiên thiên (trước khi sinh) sang hậu thiên (sau khi sinh). Khi dây rốn chưa cắt, con người tồn tại ở trạng thái nửa tiên thiên và nửa hậu thiên.

Hai đường bên ngoài đường sinh mệnh, đường tính dục và đường cảm xúc vẫn vận động sau khi con người chết, liên quan đến nhận thức về hình thái tồn tại và vận hành của sinh mệnh trong vũ trụ, cũng như bản chất của sự sống.

Giải thích chi tiết các đường:

  1. Đường tính dục (性线):
    • Phản ánh ham muốn tình dục, khả năng sinh sản và trí tuệ.
    • Sự lão hóa hay “phục xuân” (trẻ hóa) cũng thể hiện trên đường này. Khi hormone sinh dục suy giảm, con người bắt đầu già đi.
    • Phòng Trung Thuật chỉ rõ: Tu luyện bắt đầu từ đường tính dục để kích thích hormone, kéo dài tuổi thọ.
    • Với nữ giới: Kỳ kinh nguyệt là điểm thấp nhất của ham muốn. Từ ngày này, tính theo bội số của 3, đến ngày thứ 12 hoặc 15 (thời điểm trứng rụng nhưng chưa hoàn toàn), ham muốn đạt đỉnh.
    • Với nam giới: Cần quan sát và xác định tùy cá nhân.
  2. Đường cảm xúc (情绪线):
    • Thể hiện chu kỳ dao động cảm xúc. Đạo gia phát hiện cảm xúc biến đổi theo ham muốn tình dục, nhưng có độ trễ thời gian ngắn.
    • Sau điểm thấp nhất của ham muốn là điểm thấp nhất của cảm xúc; sau điểm cao nhất của ham muốn là đỉnh cảm xúc.
  3. Đường sinh mệnh (生命线):
    • Cùng với hai đường trên, mỗi đường đều có chu kỳ dao động riêng.
    • Có thể quan sát chu kỳ này trong cả đời người, hoặc chia nhỏ theo tháng/ngày.
    • Tùy cá nhân, độ dài chu kỳ và biên độ dao động khác nhau, đòi hỏi người tu luyện ghi chép liên tục để xác định.

Minh họa bằng đồ thị:

  • Hình 7.1: Mô tả ba đường sinh mệnh, tính dục và cảm xúc trong một tháng.
  • Hình 7.2: Mở rộng chu kỳ, cho thấy mỗi đường có điểm cực đại/cực tiểu riêng, đồng thời tương tác lẫn nhau.

Các đường này có điểm giao nhau. Khi ba đường hội tụ tại một điểm, đây chính là thời điểm con người dễ mất cân bằng nhất.

Sau khi xác định quy luật biến đổi của ba đường trong cơ thể, Đạo gia đã đúc kết các phương pháp tu luyện khác nhau tại các điểm cực đại và giao nhau – đây chính là cách vận dụng “hỏa hầu” (thời điểm và cường độ luyện công).

Ví dụ cụ thể:

  1. Tại điểm cao nhất của đường tính dục:
    • Con người dễ bị kích động, mất kiểm soát. Lúc này, cần “luyện công bằng hỏa lực mạnh mẽ” (vũ hỏa thái luyện):
      • Nam giới: Kết hợp “khai mạch công ngoại ngũ hành” (mở kinh mạch theo Ngũ Hành), “bát quái ý cầu” (rèn luyện ý niệm Bát Quái), và “dưỡng tâm mộc dục” (tĩnh tâm, thanh lọc).
      • Nữ giới: Luyện “khai mạch công” (động công mở kinh mạch) kết hợp “nữ đan công” bước thứ hai (tĩnh công dành riêng cho nữ).
  2. Tại điểm thấp nhất của đường cảm xúc:
    • Con người dễ rơi vào trạng thái trầm uất vô cớ, thậm chí tuyệt vọng (đặc biệt ở người trẻ). Lúc này cần “ôn hòa dưỡng dục” (nuôi dưỡng nhẹ nhàng), “thu tâm dưỡng tính” (thu liễm tâm ý), và thực hành “dẫn tiên pháp” (phép dẫn dắt tiên thiên).

Lợi ích của việc tu luyện có mục tiêu:

  • Tăng cường tính quy luật trong biến đổi tự nhiên của cơ thể.
  • Giải tỏa kịp thời mâu thuẫn nội tại, duy trì trạng thái cân bằng tối ưu.
  • Từ đó đạt được lạc quan, trí tuệ, khỏe mạnh, trường thọ.

Ứng dụng trong đời sống:

  • Hiểu quy luật biến đổi của người xung quanh giúp điều hòa các mối quan hệ. Như lời ông Vương Lực Bình: “Đây là điều hữu ích nhất trong sinh hoạt gia đình và đời thường.”
    • Ví dụ:
      • Khi nam giới ở đỉnh tính dục, nên chủ động làm việc để giải tỏa năng lượng.
      • Con cái nên đưa người già đi dạo, hòa mình vào thiên nhiên.
      • Trẻ em trong giai đoạn này dễ gây gổ, người lớn cần giám sát chặt.

Ứng dụng trong y học:

  • Khi chữa bệnh, cần xem xét chu kỳ “ba đường” của bệnh nhân, chia thành “tứ đoạn”:
    1. Dương thăng (giai đoạn dương khí tăng).
    2. Âm giáng (giai đoạn âm khí giảm).
    3. Tích âm (giai đoạn âm khí tích tụ).
    4. Âm Dương (giai đoạn cân bằng).
  • Tùy từng giai đoạn mà áp dụng phương pháp điều trị khác nhau.

So sánh với nghiên cứu phương Tây:

  • Vào thập niên 50-60, học giả phương Tây phát hiện chu kỳ thể lực, cảm xúc, trí tuệ ở con người, ứng dụng vào phòng ngừa tai nạn hàng không. Gần đây, lý thuyết này du nhập vào Việt Nam, thậm chí được lập trình vào máy tính.
  • Tuy nhiên, “Phòng Trung Thuật” của Đạo gia đã đề cập đến điều này từ thời “Bắc Thất Chân” (thế kỷ 12-13), sớm hơn hàng trăm năm.

Đạo gia Phòng Trung Thuật đã hình thành một hệ thống hoàn chỉnh từ sớm. “Thiên Quy Luật Nhân Sinh” của học thuyết này đề cập đến năm quy luật, những khám phá về bản chất sự sống sâu sắc và tinh tế đến mức vượt xa hiểu biết của con người hiện đại. Thế nhưng, qua hàng ngàn năm, học thuyết sáng giá này vẫn chìm trong bí ẩn, chưa được thế giới biết đến.

Sau khi nghiên cứu hệ thống và quy luật nhân sinh, Đạo gia hướng đến tương lai, đề xuất “Luận Biến Đổi Nhân Sinh” – dự đoán những biến động có hại hoặc có lợi trong đời sống tự nhiên, quan hệ xã hội, và mối liên hệ giữa con người với thiên nhiên, từ đó chủ động phòng tránh, hướng cát lánh hung. Điều này liên quan đến “Bốc” (bói toán) trong “Ngũ Thuật”, nhưng “Bốc” cũng là một học thuyết độc lập. Trong Luận Biến Đổi, “Bốc” tập trung nghiên cứu những thay đổi “hữu hình” – tức những biến động có thể dự đoán qua kinh nghiệm và tri thức thông thường.

Ví dụ:

  • Theo “Lục Thập Hoa Giáp Nạp Âm Ca”, năm 1989 thuộc “Đại Lâm Mộc” (âm Mộc), tương ứng với túi mật trong cơ thể.
  • Năm 1990 thuộc “Lộ Bàng Thổ” (dương Thổ), tương ứng với tỳ vị.
    Từ đó, người tu luyện biết cần tập trung vào các bộ phận cụ thể và phòng ngừa bệnh tật tiềm ẩn.

Trên nền tảng hiểu biết về hệ thống, quy luật, và biến đổi nhân sinh, Đạo gia tiến hành dưỡng sinh có mục đích. Lúc này, việc tu luyện giống như “biện chứng trị liệu” trong Đông y – tùy tình huống mà áp dụng phương pháp và điều chỉnh “hỏa hầu” (thời điểm và cường độ luyện công) phù hợp. Vì thế, Luận Dưỡng Sinh có tính thực tiễn và chuyên sâu cao.

Cuối cùng, Phòng Trung Thuật trình bày “Luận Kết Hợp Nhân Sinh”. Qua tu luyện lâu dài, cấu trúc và chức năng cơ thể con người thay đổi mạnh mẽ, các yếu tố không-thời gian tham gia vào hoạt động sống ngày càng đa dạng.

Ví dụ về ông Vương Lực Bình:

  • Ban đầu, ông chỉ hòa hợp với thiên nhiên xung quanh.
  • Dần dần, giao cảm được với Mặt Trời, Mặt Trăng.
  • Sau này, kết nối với Hệ Mặt Trời và Nhị Thập Bát Tú (28 chòm sao), mở rộng sinh mệnh vào vũ trụ bao la.
  • Đến giai đoạn cuối, vượt qua không-thời gian, bước vào vũ trụ đa chiều.

Như vậy, các yếu tố ảnh hưởng và tham gia vào đời sống con người không ngừng

Kết Luận: Giá Trị Đích Thực và Hiểu Lầm Về Phòng Trung Thuật

Sự biến chất của sinh mệnh đòi hỏi phải tái tổ hợp có ý thức các nguồn lực sống, giúp sinh mệnh không ngừng thăng hoa.

Năm phương diện trên đây tương hỗ và liên kết chặt chẽ, tạo thành học thuyết nhân sinh ngàn năm bí truyền của Đạo gia Trung Hoa – Phòng Trung Thuật. Chúng tôi tin rằng, qua phần giới thiệu cô đọng này, thế giới sẽ thấu hiểu và đánh giá đúng giá trị của học thuyết này! Chúng tôi cũng tin rằng, học thuyết này xứng đáng được vinh danh và phổ biến rộng rãi toàn cầu.

Gần đây, một số cá nhân và sách vở thiếu nghiêm túc thường xuyên quảng bá thứ gọi là “Phòng Trung Thuật”, giải thích nó đơn thuần là “đối luyện nam nữ”. Di sản văn hóa trang trọng này đang bị làm hoen ố bởi những kẻ thiếu hiểu biết, thật đáng tiếc thay!

Thực chất, “đối luyện nam nữ” chỉ là nội dung nhỏ trong Phu Thê Thiên của Phòng Trung Thuật. Mà Phu Thê Thiên lại là một phần thuộc chủ đề lớn “Luận Âm Dương Nam Nữ”.

  • Bước đầu: Dạy cách vun đắp tình cảm vợ chồng, sống hòa hợp.
  • Bước hai: Trình bày 108 phương pháp tu luyện nam nữ, giúp điều hòa thân thể, trị liệu bệnh tật, kể cả phương pháp tránh thai tự nhiên hiệu quả.
  • Toàn bộ công phu được hoàn thiện bởi Đan Dương Tử Mã Dục và Thanh Tĩnh Tán Nhân Tôn Bất Nhị – một cặp vợ chồng đắc đạo thuộc “Bắc Thất Chân”.

Tuy nhiên, do rào cản quan niệm truyền thống, ông Vương Lực Bình chưa tiện công khai giảng giải. Khi ông hé lộ vài điểm nhỏ cho bạn bè quốc tế, họ đã nhiệt liệt đề nghị xuất bản toàn bộ ra nước ngoài. Ông chỉ cười từ chối, bày tỏ: “Tôi tuy nhỏ bé, nhưng lòng tự tôn dân tộc rất mạnh mẽ”.

Giá Trị Gia Đình Trong Phòng Trung Thuật

  • Phụ Mẫu Thiên, Phu Thê Thiên, Huynh Đệ Thiên, Tỷ Muội Thiên: Đề cập phương pháp tu luyện trong gia đình và giữa thân tộc. Đạo gia coi trọng việc tận dụng mối liên hệ huyết thống.
  • Nhiều người từng trải nghiệm: Khi người thân xa cách ngàn dặm gặp biến cố, ta bỗng cảm thấy bất an khó hiểu – đó chính là sự cộng hưởng năng lượng qua huyết mạch.

Cảm giác ấy. Đợi đến khi thư nhà tới, thông báo sự việc, mới chợt hiểu ra: “Hóa ra lúc đó cứ bồn chồn là vì chuyện này?” Trải nghiệm này cho thấy giữa những người thân thiết tồn tại một mối liên hệ cảm giác kỳ diệu, không bị ảnh hưởng bởi thời gian hay khoảng cách. Giới khoa học đã bắt đầu nghiên cứu hiện tượng này. Còn Đạo gia Trung Hoa từ lâu đã chủ động vận dụng mối liên hệ này. Dù họ không chỉ rõ đây là loại “sóng” nào, nhưng họ nghiên cứu những hiện tượng này rất tỉ mỉ. Anh em cùng mẹ, việc tu luyện giữa huynh đệ và tỷ muội cũng khác nhau. Thông qua tu luyện cùng người thân, tình cảm càng sâu đậm, sự hòa hợp trên mọi phương diện càng cao. Như lời ông Vương Lực Bình: “Cuộc sống chính là tu luyện – tu tâm dưỡng tính, vun đắp hòa thuận, vui vẻ, quan tâm và sự kết nối tâm hồn trong gia đình.”

Ban đầu, ông Vương Lực Bình giữ kín như bưng, chỉ âm thầm điều hòa. Về sau, sư phụ cho phép ông thử nghiệm trong phạm vi nhỏ, ông dần truyền dạy cho các cụ già trong nhà và hàng xóm đã nghỉ hưu. Những cụ này tu luyện rất tốt, có người còn có thể ngồi thiền giữa trời tuyết.

Cha mẹ và bố mẹ vợ của ông Vương đều đã ngoài 70-80 tuổi, mỗi ngày ngồi thiền, vận động, thân thể khỏe mạnh, tai thính mắt tinh, lạc quan hoạt bát, lên xuống cầu thang nhanh nhẹn vững vàng. Các cụ thường ra ngoài dạo chơi, làm việc thiện, ở nhà cũng không chịu ngồi yên, làm những việc lặt vặt.

Vợ chồng ông Vương phải phụng dưỡng năm cụ già từ hai bên gia đình, lại nuôi dạy con cái trong hoàn cảnh khó khăn. Ông ăn mặc giản dị: bộ đồng phục nhà máy rộng thùng thình, mặc lên người lại phóng khoáng đĩnh đạc. Nếu mặc đồ sang trọng, trông lại gượng gạo vướng víu. Bữa ăn càng đạm bạc: ông không ăn thịt cá, không đụng đến rượu, thuốc, trà; sau này bắt chước sư phụ, kiên quyết bỏ cả hành, tỏi, gừng, hẹ – chỉ dùng chút rau củ đơn sơ, như thể coi việc ăn uống chẳng đáng bận tâm. Một lần, người chấp bút cuốn sách Có lần, người chấp bút cuốn sách dùng bữa cùng ông Vương Lực Bình. Chủ nhà nhiệt tình chiêu đãi, nào gà, vịt, cá, tôm – hợp khẩu vị mọi người. Ông Vương chỉ uống nước lọc, gắp nhẹ hai đĩa nhỏ đậu phụ sợi và giá đỗ trước mặt. Sau bữa ăn, người viết hỏi: “Thật sự ông không hề muốn ăn thịt cá sao?” Ông đáp: “Không phải lúc nào cũng không muốn, thi thoảng cũng nghĩ nếm thử xem sao. Nhưng vì một niềm tin, tôi đã dập tắt ý nghĩ ấy.”

Tình yêu thương vô bờ, lòng từ bi, tinh thần hy sinh vì hạnh phúc chúng sinh – chẳng phải đây là điều xã hội ngập trần vật dục, vô cảm này đang thiếu thốn nhất sao? Nếu mỗi người sống bằng trái tim nhân ái, thế giới sẽ giảm bớt lạnh lùng, bất công và chém giết. Dù đời sống vật chất còn nhiều thiếu thốn, con người vẫn cảm nhận được hơi ấm như giữa mùa xuân. Trong tuyên truyền xã hội, đề cao tình thương và lẽ phải sẽ hiệu quả hơn việc khơi gợi hận thù. Điều trước nuôi dưỡng tâm từ, điều sau khơi mào đối kháng. Chúng ta cần trái tim rộng mở với vạn vật, tin rằng thế giới sẽ tươi đẹp hơn nhờ tình yêu chung của nhân loại!

Một buổi chiều yên tĩnh, người viết sách đến thăm nhà ông Vương Lực Bình. Mẹ vợ ông niềm nở mời chúng tôi ngồi ghế sofa, rồi vội vàng pha trà. Nhân lúc đó, chúng tôi ngắm căn phòng của ông. Một tổ ấm quá đỗi bình dị: căn hộ hai phòng cũ kỹ. Phòng lớn khoảng 15-16m², phòng nhỏ hé cửa lộ nửa chiếc giường lớn. Phòng chính cũng kê một giường đôi, sát tường đặt chiếc tivi, bên cạnh là chiếc radio cỡ viên gạch – sản phẩm thập niên 70, vỏ bọc bạc màu. Một tủ gỗ kiểu cũ có lẽ để quần áo. Ngoài ra, chẳng có vật dụng nào đáng giá. Nếu không có chiếc tivi, tưởng như lạc vào gia đình thập niên 50.

Ông Vương Lực Bình kéo chiếc ghế xếp từ góc tường ra ngồi. Mẹ vợ ông bưng trà ra. Chúng tôi dùng hai chiếc cốc sứ, còn ông Vương dùng chiếc lọ thủy tinh cũ vốn đựng đồ uống nào đó – có lẽ là cốc quen dùng trong nhà!

“Đây là nhà ông sao?!”

“Thế không tốt sao?” – Ông Vương Lực Bình thong thả nhìn quanh căn phòng. “Hai cụ già ở phòng ngoài, vợ chồng tôi ở phòng trong.”

Chúng tôi đứng dậy nhìn vào phòng nhỏ – căn phòng chừng 9m², chiếc giường đôi chiếm gần hết diện tích. Đầu giường kê tủ nhỏ đặt bộ 《Đạo Tạng》, cuối giường dựa tường là bàn trang điểm chất đầy đồ lặt vặt. Trên tường treo tấm gương vuông. Căn phòng chỉ vẻn vẹn thế.

“Con trai ông ở đâu?”

Ông Vương vừa mời trà vừa đáp: “Nó ở với bà nội. Nhà bên ấy cũng hai phòng – bố mẹ tôi ở ngoài, em gái tôi dẫn cháu ở trong. Nếu chúng tôi sang chơi, hai người phải dọn ra giường sofa tạm.”

“Ông viết sách ở đâu vậy?”

Căn phòng chẳng thấy bàn viết nào đủ rộng, khó hình dung nơi ông viết nên những trang sách lấp đầy khoảng trống 《Đạo Tạng》 để lưu truyền hậu thế.

Ông Vương chỉ chiếc giường trong phòng nhỏ: “Cúi trên giường mà viết, ‘bàn’ lớn thế này dùng chẳng hết.” Giọng ông thản nhiên. Độc giả hẳn nghi ngờ: Thời 1990s, dù gia đình bình thường cũng “hiện đại hóa” đôi phần, huống chi một đạo gia nổi tiếng?

Thực tế, nếu không tận mắt chứng kiến, chúng tôi cũng chẳng dám ghi chép những dòng này – dù trước đó ông Vương đã kể qua cảnh sống của mình. Lúc ấy, ông nói:

“So với nhà khác, gia đình tôi có tivi màu, nhưng đồ đạc thiếu thốn. Khách đến đông phải mượn ghế hàng xóm. Sau này khi đỡ gánh nặng, có tiền, tôi cũng sẽ mua thêm vài thứ. Nhưng hưởng thụ vật chất vốn thứ yếu, hời hợt. Điều cốt yếu nằm ở con người. Tâm cảnh bên trong tốt, mọi thứ tự khắc tốt. Thuở theo sư phụ sư gia du phương, đói khát, áo rách, nhưng ngày nào cũng vui vẻ. Gặp mưa lũ, bất chấp đúng sai nằm vật xuống mương, nghịch bùn, hát ca rồi lại lên đường.”

Mỗi khi nhắc đến sư phụ sư gia, gương mặt ông ánh lên nụ cười hạnh phúc, đầy lưu luyến. “Những năm ấy quả là quãng đời vui nhất.” Ông Vương chậm rãi kết luận:

“Con người khát khao khác nhau, cuộc sống khác nhau; dục vọng khác nhau, hướng đi khác nhau; ý chí khác nhau, con đường cũng khác nhau!”

Đang lúc chúng tôi chìm vào suy tư, ông Vương vào phòng trong bưng ra hai cuốn album tem, mời cùng thưởng thức. Ông bảo đây là “thế giới riêng” của ông và con trai. Lật giở từng trang, toàn tem phổ thông, vài mẫu nước ngoài lạ mắt. Cảnh vật, nhân vật, động vật – như những ô cửa sổ nhỏ mở ra thế giới cổ tích. Ông Vương say sưa chỉ từng con tem, vẻ mặt đắm chìm khiến người xem cũng ngẩn ngơ. Hóa ra, do nhận nhiều thư từ khắp nơi, ông tiếc những mẫu tem đẹp nên cẩn thận sưu tập. Ông tâm sự: “Có khi nhận cả chục thư một lượt, tôi thường chọn những phong bì tem đẹp đọc trước.”

Không ngờ vị đạo sĩ Toàn Chân này lại có thú vui tao nhã đến thế! Trước đây, chúng tôi chỉ biết ông yêu trẻ con – vài ngày không được chơi cùng trẻ nhỏ, ông buồn bã hẳn. Có khách dẫn con tới, Một lần, ông đạp xe qua phố, đúng ngày toàn dân “Học tập Lôi Phong”, từng nhóm học sinh tiểu học ra đường quét dọn, lau cửa kính các cửa hàng. Thế nhưng, nhân viên cửa hàng lại tụm năm tụm ba đứng xem. Ông Vương Lực Bình nhíu mày, đạp xe chậm lại. Đến góc phố, thấy mấy em nhỏ đang bơm xe miễn phí cho người qua đường. Vốn dĩ nhiều người chẳng nghĩ xe mình cần bơm, nhưng thấy miễn phí liền dừng lại “kiểm tra” – của trời cho, không lấy phí uổng! Khổ thân mấy em nhỏ “học Lôi Phong”. Các em hì hục bơm, mồ hôi nhễ nhại, người lớn đứng cạnh chỉ tay năm ngón. Ông Vương không đành lòng, dừng xe, bước đến bên em nhỏ, vừa lấy khăn tay lau mồ hôi vừa nói: “Cháu mệt rồi, đi nghỉ đi, chú thay cháu ‘học Lôi Phong’ ở đây.” Nói rồi cầm lấy bơm làm tiếp. Mấy người lớn thấy ngượng, lẳng lặng dắt xe vốn chẳng cần bơm đi mất.

Chúng tôi tin rằng, những em nhỏ ngây thơ ấy đã cảm nhận từ ông Vương Lực Bình nhiều điều chân – thiện – mỹ hơn hẳn so với buổi “học tập” kia.

Nguyện cầu tấm lòng trẻ thơ mãi tồn tại trên thế gian này!

Chương 19: Phụng Mệnh Xuất Sơn

Những năm gần đây, khắp đất Trung Hoa dâng lên làn sóng hâm mộ văn hóa truyền thống chưa từng thấy, đồng thời chứng kiến cảnh tượng võ thuật cổ truyền và các môn công pháp được phổ cập rộng rãi, mang phúc lợi đến quần chúng.

Khi cơn sóng nhiệt huyết này cuốn qua nam bắc sông Dương Tử, vượt dải Trường Thành, tại Phủ Thuận – thành phố than đá nơi chân núi Trường Bạch – Vương Lực Bình vẫn lặng lẽ ẩn mình. Ông vẫn như mọi ngày: khoác bộ đồng phục giản dị, sáng sớm xách hộp cơm hòa vào dòng người tấp nập đến nhà máy, chiều lại cùng vài đồng nghiệp rời xưởng về. Lời ít tiếng nhiều, nụ cười từ ái không rời khóe mắt. Trong mắt đồng đội, ông chỉ là một công nhân bình thường, cần mẫn. Về nhà, ông chăm sóc cha mẹ già, làm việc vặt, thỉnh thoảng cõng cậu con trai bé bỏng ra phố mua đồ. Hàng xóm nhìn ông – một thanh niên hiếu lễ, yêu trẻ, biết đủ mà vui.

Đôi khi, hàng xóm gặp tai ương bệnh tật, công nhân lâm cảnh khó khăn, Vương Lực Bình luôn xuất hiện kịp thời, dịu dàng an ủi. Kỳ lạ thay, những bệnh tật, tai ương, họa nạn ấy đều tự nhiên tiêu tan mà không ai hay. Lâu dần, mọi người càng thêm nghi hoặc, hỏi han Vương Lực Bình. Ông chỉ ậm ừ vài câu cho qua, chẳng ai rõ “trong bầu rượu ấy có thuốc hay không”.

Thế nhưng vị đạo sĩ Toàn Chân giả ngây giả ngốc này lại đang chăm chú quan sát làn sóng văn hóa truyền thống trên đất Trung Hoa, nắm bắt từng chuyển biến. Đôi khi ở Phủ Thuận hay Thẩm Dương có lớp dạy khí công, ông dành dụm chút lương ít ỏi tự đi học, lặng lẽ ngồi giữa học viên. Những “khí công sư” trên bục giảng chẳng ai hay giữa đám đông ẩn tàng một cao nhân chân chính.

Vương Lực Bình đang khảo sát thực tế và nghiên cứu. Qua trò chuyện với học viên, ông thấu hiểu tâm tư thời đại. Một kế hoạch vĩ đại dần hình thành trong ông. Ông liên lạc thường xuyên hơn với sư phụ sư gia tại Động Trường Xuân trên núi Lão Sơn cách xa ngàn dặm. Dĩ nhiên, cách liên lạc này chẳng cần giấy bút hay bưu điện. Vừa làm việc chăm chỉ, ông vừa tiếp nhận “tín linh” từ xa, đồng thời phát đi dòng tư duy của mình – điều mà đồng nghiệp sao thấu tỏ?

Đã đến thời khắc trọng đại.

Nhiều công pháp tu luyện cổ truyền mượn danh “khí công” truyền bá rộng rãi. “Khí công” dần trở thành hình thức được xã hội chấp nhận.

Điều kiện dẫn dắt nhân loại lên tầng cao hơn đã chín muồi.

Thời cơ công khai công pháp bí truyền ngàn năm của phái Long Môn Toàn Chân – vốn chỉ truyền miệng – dưới dạng dễ hiểu đã tới.

Năm 1985, “khí công” thịnh hành nhưng ẩn chứa hỗn loạn và nguy cơ. Sóng lớn ập đến, rồng rắn lẫn lộn, thật giả khó phân. Nhiều nơi, kẻ táo tợn còn giương danh phái Long Môn Đạo gia để lừa đảo thế gian.

Vương Lực Bình lặng lẽ chờ lệnh sư tôn, chuẩn bị xuất sơn. Lúc này, Vô Cực đạo nhân – 105 tuổi – truyền lời rằng: “Xuất sơn hành đạo, chỉnh đốn nguồn cội, công khai truyền thụ ‘Cổ điển Linh Bảo Thông Trí Năng Nội Công Thuật’ của Toàn Chân Long Môn phái, hoằng dương đại đạo khắp thiên hạ.”

Từ đây, sau 15 năm học đạo, 8 năm thủ giới, 23 năm ẩn cư thầm lặng – Linh Linh Tử Vương Lực Bình – truyền nhân đời thứ 18 của Toàn Chân Long Môn phái, người kế thừa “Cổ điển Linh Bảo Thông Trí Năng Nội Công Thuật”, mới hiện nguyên hình trước thế nhân.

Bắc Kinh – kinh đô hùng vĩ của đất nước vĩ đại, nơi tụ linh thiêng khí của trời đất, đất lành chim đậu, cổ kính huyền bí, hùng vĩ mà tinh túy – chính là chốn hội tụ tinh hoa của vũ trụ.

Ở góc tây nam kinh thành có một công trình kiến trúc Đạo giáo – Bạch Vân Quán – đạo quán lớn nhất phương Bắc Trung Hoa. Đây là một trong ba tổ đình của Toàn Chân Long Môn phái. Cuối đời Tống đầu Nguyên, Khâu Xử Cơ (tự Trường Xuân Tử) – tổ sư khai sáng Long Môn phái – từng mở đàn giảng đạo tại đây, khiến Toàn Chân giáo hưng thịnh khắp thiên hạ. 800 năm sau, Linh Linh Tử Vương Lực Bình – truyền nhân đời thứ 18 của Khâu Tổ – đến đây bái yết tổ sư, rồi trụ tại Bát Đại Xứ thuộc Tây Sơn Bắc Kinh. Tại đây, ông tổ chức lớp giảng tập quy mô lớn về “Cổ điển Linh Bảo Thông Trí Năng Nội Công Thuật”, truyền bá văn hóa Đạo gia ra thế tục.

Địa điểm tu luyện đặt tại Hương Giới Tự thuộc Bát Đại Xứ. Bốn bề non xanh mây phủ, mỗi khi bình minh ló dạng, ngôi chùa mới thoát khỏi màn sương. Chùa lâu ngày không có tăng nhân trụ trì, ngoài ba đại điện, tàng kinh các cùng hai dãy nhà ngang đều đầy mạng nhện, bụi bặm. Vương Lực Bình lên núi trước, dọn dẹp từng gian phòng sạch sẽ. Ông lại tĩnh tọa suốt đêm trong mỗi tòa kiến trúc, quan sát tỉ mỉ từng góc cạnh, xua tan hết khí âm ẩm tích tụ lâu năm, rồi mới đón hơn trăm học viên từ khắp nơi tụ về.

Việc truyền thụ tĩnh công cho số đông học viên nam nữ già trẻ khác biệt – thân tâm mỗi người một khác – chưa từng có tiền lệ. Trước mặt ông là Trước mặt các học viên, việc đầu tiên ông Vương Lực Bình làm là làm rõ những nhận thức mơ hồ, giới thiệu nguồn gốc căn bản cho mọi người. Ông đặt nghi vấn về cụm từ “khí công” đang thịnh hành và giải thích ba dạng thức của “khí”:

Đạo gia dưỡng sinh thuật chú trọng nhất vào việc thuận theo tự nhiên, tuân thủ quy luật tự nhiên. Con người sinh ra từ tự nhiên, tồn tại giữa trời đất, có mối liên hệ không thể tách rời với tự nhiên. Phương thức liên kết chủ yếu này chính là “khí”. Vì thế, Lão Tử đúc kết thành công thức:
“Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên.”
(Người thuận theo đất, đất thuận theo trời, trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo tự nhiên.)

Ngày nay mọi người đều nói “khí công”, nhưng thời xưa không có cách gọi này. Hơn nữa, cách dùng chữ “khí” cũng khác biệt. “Khí” cụ thể bao gồm ba loại:

  1. Khí hô hấp (呼吸之气):
    • Là khí tự nhiên trong không khí.
    • Vô hình, không theo quy tắc, không có đường vận hành cố định.
    • Tồn tại cả trong tự nhiên lẫn cơ thể người, là khí lưu thông liên thông trong ngoài.
  2. “Khí” (器):
    • Là vật chất tinh vi vốn có trong cơ thể, dòng năng lượng nội tại.
    • Dù không nhìn thấy, không sờ được nhưng có khối lượng, chứa vi hạt, có thể đo được bằng dụng cụ.
    • Đây là vật chất “có chất nhưng vô hình”, chính là “chân khí” (真气) thường được nhắc đến.
  3. “Khí” (氮):
    • Là dòng năng lượng phát quang, chứa vi hạt trong cơ thể.
    • Loại khí này phát sáng, tỏa nhiệt, khi phóng ra có thể nhìn thấy, tạo sóng điện từ hình thành “từ trường”, dùng để chữa bệnh.

Ba dạng “khí” trên đại diện cho các tầng thứ tu luyện khác nhau, có thể chuyển hóa và tương tác lẫn nhau.

  • Giai đoạn đầu luyện công: Rèn luyện “khí tự nhiên”, từ quy luật tự nhiên nhận thức về bản thân.
  • Khi đạt đến trình độ nhất định, “khí” chuyển hóa thành “khí” (器).
  • Tiếp tục tu luyện, “khí” (器) lại chuyển hóa thành “khí” (氮).

Khi “khí” (器) chuyển hóa thành “khí” (氮), có thể xuất hiện một số phản ứng như tịch cốc (nhịn ăn), kiêng rượu, thuốc, trà. Lúc này, cần xử lý thận trọng, nếu không dễ công phu đổ sông đổ bể, bỏ dở giữa chừng. Tóm lại, muốn đạt được sự chuyển hóa từ “khí” (器) sang “khí” (氮), bắt buộc phải tu luyện tĩnh công – chỉ dùng động công thì không thể thành tựu.

Luyện tĩnh công chủ yếu tu dưỡng “tứ phương” trong cơ thể (trước – sau – trái – phải):

  • Ngoại nhập nội: Thần – ý – khí hòa hợp.
  • Nội phóng ngoại: Thần – ý – “khí” (器) hòa hợp.
  • Ngoại phát khí: Thần – ý – “khí” (氮) hòa hợp.

Tổng kết lại, có thể quy nạp thành bài kệ:

Khí – Hơi thở tự nhiên của trời đất;
Khí (器) – Bí mật vũ trụ trong thân người;
Khí (氮) – Mật mã tu chân thành tiên;
Huyền diệu vô cùng: Khí – Khí (器) – Khí (氮).
Đó chính là chỗ huyền diệu của Đạo gia dưỡng sinh thuật.

Học viên nghe xong bỗng thông suốt. Vương Lực Bình hiểu rõ: Lý luận Đạo gia đều được đúc kết từ quá trình tu luyện lâu dài, kết hợp thể nghiệm tinh tế và đốn ngộ. Nghe hiểu lý thuyết chỉ mới là bước đầu, muốn nhập môn rồi thăng hoa cảnh giới, thấu tỏ ý nghĩa sâu xa ẩn sau lời giản dị – không có đường tắt nào khác ngoài khổ công tu luyện.

Buổi sáng, Vương Lực Bình giảng đạo; buổi chiều và tối, ông hướng dẫn học viên luyện công bằng phương pháp sư phụ truyền thụ. Tĩnh công quy mô lớn – đặc biệt là tính công (luyện tính linh) – khổ nhất ở tư thế ngồi kiết già. Giữ thân thể, cơ bắp, xương khớp, tư duy, ý niệm, tầm mắt hoàn toàn thả lỏng trong trạng thái cực kỳ đau đớn – quả thực chẳng dễ dàng. Bắt đầu luyện tập Nhiều học viên không hiểu huyền cơ đằng sau, ngồi kiết già chưa bao lâu đã đau đến run cầm cập, ý chí suy sụp. Ông Vương Lực Bình vừa động viên mọi người kiên trì không buông thả tư thế, vừa giải thích:

Ngồi kiết già luyện công là khổ nhất, ngồi đến ngất xỉu mới đạt cực hạn. 《Đại Thành Tiệp Yếu》 có nói: “Tráng sĩ thép cũng khó nhịn, khổ hơn mọi nỗi đau đời.” Nhưng đau chẳng chết người, sống cũng chẳng xong. Chịu đựng nỗi khổ này để làm gì? Là để con người biết rằng: Ngoài thế giới vật chất hữu hình đầy khổ ải, còn tồn tại thế giới “Thiên – Địa – Nhân” (vũ trụ – đất – người), muốn vượt qua cũng phải trải nghiệm đau thương. Chúng ta nên trải nghiệm nỗi khổ này, vượt qua được thì mọi khổ nạn đều có thể vượt. Thực chất con người có thể chịu đựng, không chịu nổi là do ý chí yếu kém, phải dùng tư duy khống chế ý chí. Giai đoạn đầu ngồi kiết già chủ yếu luyện tủy xương, cải tạo chất máu, chuẩn bị cho quá trình “khai tủy” (mở thông kinh mạch) của Ngũ Hành nội tại. Kiên trì một hai năm, khổ tận cam lai, tựa như bước vào thế giới khác.

Những lời này tuy khó thấu hiểu nông cạn, nhưng với Vương Lực Bình, đó là trải nghiệm đúc rút từ bao phen sinh tử. Ông dùng chính kinh nghiệm máu thịt của mình để truyền đạo – giản dị mà chân thành. Trong câu chuyện thường ngày, ông dẫn dắt mọi người bước vào cánh cửa huyền diệu.

Tu luyện vốn khổ ải, lại không thể thành tựu trong ngày một ngày hai. Vương Lực Bình dạy học viên theo phương pháp truyền thống ngàn đời, bắt đầu từ căn bản, không như các “đại khí công sư” dạy công pháp cấp tốc. Lo lắng học viên mới nóng vội, không chịu nổi sự đơn điệu tịch mịch, ông thỉnh thoảng biểu diễn vài tiểu pháp thuật tăng thêm hứng thú cho lớp học – người có tâm tự khắc ngộ ra đạo lý.

Tháng sáu Bắc Kinh nắng như đổ lửa, chỉ đứng yên đã mồ hôi nhễ nhại. Địa điểm luyện công đặt tại đông sương phòng của tàng kinh các – hơn 150 người ngồi chật cứng căn phòng cỡ lớp học. Cửa đóng then cài, không khí ngột ngạt Tựa như thuở nhỏ Vương Lực Bình đốt hương trong hầm đất, phòng luyện công kín bưng ngột ngạt. Học viên như bị nhốt trong nồi hấp, mồ hôi nhễ nhại, bồ đoàn ướt sũng, thở cũng khó khăn.

Vương Lực Bình yêu cầu mọi người xòe tay, lòng bàn tay ngửa, đặt nhẹ lên hai đầu gối, tập trung cảm nhận sự thay đổi nhiệt độ xung quanh. Ông hơi khụy gối, hai tay phe phẩy như chiếc quạt nhỏ, miệng lẩm nhẩm điều gì đó.

Khoảng một hai phút sau, luồng khí trong phòng bắt đầu xoáy. Rồi đột nhiên, như thể tất cả cửa sổ đồng loạt mở toang, từng đợt gió mát ùa vào càng lúc càng mạnh. Bảy tám phút sau, oi bức tan biến, mồ hôi trên mặt và người học viên dần khô ráo. Chỗ luyện công vừa như lò hấp chợt hóa mát lạnh tựa hang động suối chảy. Một số học viên nghi ngờ, lén mở mắt nhìn quanh – cửa vẫn đóng chặt, không một ngọn gió lọt vào. Mọi người mỉm cười thoải mái, tiếp tục nhắm mắt tĩnh tọa.

Kẻ “gian lận” mở mắt ấy có cả người chấp bút cuốn sách. Lúc ấy không thể tưởng tượng nổi làm sao một người có thể hạ nhiệt nhanh chóng cả căn phòng rộng đến vậy. Sau này học Cân Bằng Công, biết rằng con người có thể đối kháng tu luyện với thuần âm chi khí của loài rắn để đạt trạng thái cân bằng, tôi mới tin về mặt lý thuyết: người có thể đoạt lấy thuần âm khí của rắn phát ra ngoài, hoặc mô phỏng năng lực của rắn để tỏa khí âm làm mát không khí.

Những chuyện kỳ lạ liên tiếp xảy ra khiến học viên mở mang tầm mắt, nhưng đều mơ hồ không hiểu nguồn cơn, tựa hồ lạc vào màn sương. Từ khi tham gia lớp học, nhiều người mơ nhiều hơn, phần lớn mơ thấy thầy Vương Lực Bình. Kỳ lạ hơn, khi học viên kể lại giấc mơ vào ngày hôm sau, phát hiện nhiều người có giấc mơ giống hệt nhau về diễn biến và nội dung. Thậm chí, những giấc mơ qua nhiều đêm còn nối tiếp nhau như tiểu thuyết chương hồi

Khi hỏi thầy Vương, ông chỉ cười đáp: “Có lẽ mọi người đang cùng luyện ‘thụy công’ (công pháp trong giấc ngủ), tư duy vận động đồng bộ nên thấy cảnh giống nhau trong mơ.” Đa số học viên chỉ đến với mục đích cường thân kiện thể, không đi sâu nghiên cứu, bỏ qua trải nghiệm khoa học quý giá này. Thực chất, “truyền linh qua mộng” chính là một trong những pháp thuật thượng thừa của Long Môn phái. Vương Lực Bình đang âm thầm thực hiện thí nghiệm – khiến nhiều người cùng mơ một giấc. Trước đây, thí nghiệm chỉ giới hạn giữa thầy trò (đều có công lực cao), có thể giao tiếp tư tưởng qua mơ. Nhưng việc khống chế tư duy số đông chưa từng được tiền nhân thử nghiệm – nhiệm vụ này đặt lên vai ông. Đến nay, ông vẫn tiếp tục khám phá.

Người chấp bút cuốn sách nhiều lần trải nghiệm hiện tượng: Rõ ràng thầy Vương vào mộng, nói năng hành động rành mạch, sau tỉnh dậy vẫn nhớ rõ – những điều trong mơ sau này đều ứng nghiệm. Nghi là “mộng trung truyền linh”, nhưng khi hỏi trực tiếp, ông khẳng định không biết. Chúng tôi tin rằng ai tiếp xúc nhiều với ông đều từng trải nghiệm điều tương tự. Hiện tượng này cho thấy: Bậc cao thủ có thể làm việc có ý thức trong trạng thái vô thức. Làm sao phân loại hiện tượng tâm linh này? Dùng khái niệm “ý thức”, “tiềm thức” của tâm lý học phương Tây để phân tích tầng ý thức người tu luyện có lẽ đã lỗi thời.

Sau nửa tháng tu luyện trên núi, Vương Lực Bình cảnh báo: “Sẽ có nhiều động vật nhỏ đổ về đây. Mọi người đừng sợ, hãy yêu thương chúng, tuyệt đối không đánh đuổi. Vài ngày sau chúng tự tan đi.” Học viên nửa tin nửa ngờ, nhưng hôm sau, Hương Giới Tự biến thành thiên đường động vật: chuột, chồn hôi… từ đâu ùn ùn kéo đến, ban ngày rành rành chạy nhảy như dự hội chùa. Khu luyện công hỗn loạn, vừa tĩnh Vừa ngồi tĩnh tọa được chốc lát, lũ chuột đã nghênh ngang xông vào phòng, len lỏi qua khe hở bồ đoàn, có con thản nhiên nằm trong giày như thể trong đó giấu món ngon. Trên bệ cửa sổ, bóng rắn lượn lờ, vài con thò đầu qua khe sáng mái nhà, say sưa đánh hơi. Ngay cả cáo – loài vốn hiếm thấy trên Tây Sơn – cũng bỏ tính đa nghi, xuất hiện dày đặc quanh khu vực. Có học viên tối đến đứng tĩnh tâm dưới gốc cây, mở mắt sau khi thu công – cáo đứng sừng sững trước mặt. Nữ học viên hoảng hốt bỏ chạy, thêm nhiều giai thoại vui cho khóa tu.

Vương Lực Bình giải thích: “Luyện công thu hút động vật không phải mê tín, mà ẩn chứa nguyên lý khoa học. Mỗi vật trong ‘nhân – sự – vật’, ‘thiên – địa – nhân’ đều có ‘trường’ riêng, phát ra ‘sóng tần số’ tương tác với môi trường. Muôn vàn ‘trường’ khác biệt vừa thống nhất vừa độc lập – tính thống nhất giữ vũ trụ làm một, tính độc lập phân định vạn vật. Sau nhiều ngày tu luyện, thể chất và công năng con người thay đổi, tần số sóng yếu phát ra cũng biến đổi. Khi tần số này trùng khớp với sóng từ động vật nhỏ, chúng sẽ bị thu hút như ngửi thấy mồi thơm. Đạo lý này phức tạp ư? Thực chất, nó bao hàm nguyên lý hóa học, vật lý, sinh học. Suy rộng ra, khi ngồi kiết già chú ý biến đổi vi diệu trong cơ thể – chính là cảm nhận dao động tần số tinh tế của bề mặt Trái Đất. Cân Bằng Công yêu cầu đứng trụ dưới cây để tìm sự đồng nhất giữa ‘trường’ người và ‘trường’ cây. Nếu động vật nhỏ cũng tu luyện trước mặt người, chứng tỏ chúng đang điều chỉnh ‘trường’ – cổ nhân đã ý thức vận dụng tính khả biến và thống nhất của trường để khơi dậy tiềm năng con người.”

Quả là đạo sĩ Toàn Chân của thời đại mới! Sau khi thấu hiểu tinh túy Đạo gia, Vương Lực Bình cố gắng diễn đạt tư tưởng Đạo bằng ngôn ngữ hiện đại dễ tiếp thu. Trong quá trình tiếp thu lý thuyết khoa học hiện đại Sau khi khóa học tại Bắc Kinh kết thúc, Vương Lực Bình lặng lẽ trở về Động Trường Xuân trên núi Lão Sơn, báo cáo với sư gia và sư phụ về lần đầu xuất sơn hành đạo, chia sẻ những cảm nhận mới, đồng thời thỉnh giáo các ca bệnh khó. Sư gia và sư phụ thấy đệ tử đã thành tài, gánh vác được trọng trách, lòng vui khôn xiết.

Ông ở lại hầu cận sư tôn một thời gian. Những ngày giảng dạy, trị bệnh, vận công đã tiêu hao nhiều sức lực, giờ đây ông đã hồi phục hoàn toàn. Trước khi rời đi, ông dâng toàn bộ thù lao giảng dạy lên sư gia để thực hiện nguyện vọng tu sửa đạo quán, hoằng dương Đạo pháp.

Sư gia khuyên: “Con tuy đắc đạo, nhưng vẫn chưa thoát tục, sống trong trần gian tam giới, trên có song thân, dưới có vợ con, cần tiền sinh hoạt. Một khi xuất sơn, bằng hữu khắp nơi tìm đến, chi tiêu lớn, lương bổng ít ỏi sao đủ? Chúng ta đã siêu phàm thoát tục, an trú trong Đạo trung tam giới, trời đất nuôi dưỡng, tiền bạc để làm gì?” Sư gia bảo ông giữ lại tiền, nhưng Vương Lực Bình nhất quyết không nghe.

Những lần sau, dù đơn vị tổ chức thu phần lớn doanh thu, lại trừ chi phí, số tiền ít ỏi còn lại ông vẫn đem lên núi dâng sư gia. Sư gia đành nhận vì không thể từ chối tấm lòng thành.

Vô Cực đạo nhân cảm động trước tấm lòng trung thành với đạo của đệ tử, cầm bút viết hai chữ “Đạo Phê” lên linh bài của Vương Lực Bình tại Động Trường Xuân.

Mang trên vai trọng trách hoằng dương văn hóa Đạo gia, cùng kỳ vọng thiết tha của sư tôn, Vương Lực Bình dấn thân không ngừng. Mấy năm qua, ông không quản vất vả, đi khắp Nam Bắc, lần lượt giảng dạy và mở lớp tại Phủ Thuận, Thẩm Dương, Bắc Kinh, Thạch Gia Trang, Tây An, Vũ Hán, Quảng Châu, Thâm Quyến, Nam Kinh, Kim Hoa, Thượng Hải… Con đường ông đi hôm nay chính là lộ trình vân du mà thầy trò bốn người đã từng trải qua hai mươi năm trước – nơi họ từng nếm trải bao gian khó Với tinh hoa văn hóa truyền thống đã học được, ông không ngừng cống hiến, làm việc tận tụy để văn hóa truyền thống Trung Hoa một lần nữa hưng thịnh trên thế giới.

Sau khi trở về Phủ Thuận từ núi Lao Sơn, ông Vương Lực Bình, với tình cảm sâu nặng dành cho quê hương, đã tiếp tục tổ chức khóa học thứ hai về “Linh Bảo Thông Trí Năng Nội Công Thuật” tại đây.

Trong khóa học này, trước hơn 400 học viên là đồng hương và người thân, ông Vương Lực Bình đã dốc toàn lực tạo trường khí, dẫn công bằng võ hỏa. Đến giai đoạn cuối khóa, một phần tư số học viên đã khơi dậy được tiềm năng ở các mức độ khác nhau, huyệt Thiên Mục có phản ứng nhạy cảm rõ rệt. Sau đó, ông dẫn những học viên này đến hồ chứa nước Đại Hỏa Phòng phong cảnh hữu tình. Lúc này, học viên không rõ mục đích chuyến đi, chỉ theo lời ông Vương phân tán ngồi thiền trên các đồi nhỏ tầm nhìn rộng, yên lặng nhìn về phía trước theo lời dẫn dắt, ghi nhớ những gì thấy được. Sau một canh giờ, ông Vương dẫn mọi người thu công, yêu cầu không nói chuyện mà viết lại cảnh tượng đã chứng kiến. Chẳng mấy chốc, hơn trăm bản ghi chép được nộp lên. Phần lớn mô tả cảnh chiến mã phi nước đại, vạn người xông pha giết chóc. Trong đó, khoảng 30 bản ghi chi tiết về nhân vật, trang phục, cờ hiệu, trận đồ và diễn biến trận chiến, sống động như chính họ từng trải qua. Điều kỳ lạ là 30 người này đều thấy cảnh tượng tương tự nhau, nhiều người viết: “Như vừa trải qua cơn ác mộng, người ngựa chết vô số, thật kinh hãi!”

Lật lại sử sách, chúng ta bắt gặp một sự kiện lịch sử sau:

Năm Vạn Lịch thứ 46 triều Minh (1618), Nỗ Nhĩ Cáp Xích lấy cớ “Thất đại hận” phát binh tấn công ba thành Đông Châu, Mã Căn Đan và Phủ Thuận của nhà Minh. Tháng Tư năm đó, Thượng thư Binh bộ nhà Minh Thôi Cảnh Vinh dẫn quân nghênh chiến, máu nhuộm sa trường. Quân Minh đại bại, “chết hơn vạn người, mười phần không còn một hai”. Ba thành Phủ Thuận cùng hơn 500 đồn lũy xung quanh thất thủ, từ đó thế lực nhà Minh suy yếu không phục hồi.

Trận chiến nổi tiếng này được sử liệu ghi chép khá tỉ mỉ, nếu đối chiếu với những gì học viên chứng kiến So sánh với trang phục, cờ hiệu được ghi chép trong sử sách, có thể khẳng định những cảnh tượng mà học viên chứng kiến chính là một phần của trận chiến năm xưa.

Ông Vương Lực Bình từng chia sẻ với người chấp bút cuốn sách này: “Việc tái hiện chiến trường cổ có ba khả năng. Thứ nhất, dưới sự dẫn dắt của tôi, các học viên đã khiến thời gian đảo ngược, vượt qua hơn 370 năm trong một canh giờ để chứng kiến cảnh giao chiến lúc bấy giờ. Thứ hai, cảnh tượng chiến tranh năm xưa vẫn tồn tại dưới một dạng thức nào đó trong vũ trụ, và chúng ta đã dùng phương pháp đặc biệt để nắm bắt nó. Thứ ba, tôi dùng pháp thuật dựng cảnh trước mặt học viên, như thể khiến họ mộng du. Nhưng tôi khẳng định lúc đó tôi không hề dựng cảnh. Giả sử có dựng, thì cảnh tôi dựng lại từ đâu mà ra? Vì thế, có thể loại trừ khả năng thứ ba, vấn đề nằm ở quan niệm về thời-không và hình thái tồn tại của vật chất.”

Tháng 5 năm 1986, ông Vương Lực Bình nhận lời mời của Hiệp hội Nghiên cứu Khí công Trung Quốc trở lại Bát Đại Xứ ở Tây Sơn, Bắc Kinh để mở lớp. Gần 300 học viên từ khắp nơi đổ về. Trong suốt 40 ngày giảng dạy về công pháp Đạo giáo, ông Vương cùng ăn cùng ở với học viên. Từ bệnh tật kinh niên đến chuyện gia đình lặt vặt, học viên đều tìm đến thầy Vương giãi bày. Tình thầy trò vô cùng sâu nặng. Lòng nhân từ, sự hòa ái, trí tuệ, chân thành cùng phong thái tiên phong đạo cốt của ông đã khắc sâu vào tâm trí học viên một niềm tin: “Tu Đạo là điều tốt đẹp!”

Khi nói về kinh nghiệm nhiều năm dạy công, ông Vương xúc động chia sẻ: “Người thầy phải hòa làm một với học trò, dùng tình cảm để cứu rỗi họ.”

Một hôm, từ chân núi có mấy người đưa lên một cụ già bán hàng rong đã liệt giường nhiều năm. Cụ đã ngoài 80, tóc bạc phơ, vừa thấy ông Vương liền gắng sức kêu lên: “Bồ Tát cứu mạng!”

Hóa ra, cụ cả đời tin Phật kính Đạo, không sát sinh. Trước khi lâm bệnh, mỗi Hàng năm, bà đều đến chùa Tây Sơn thắp hương hoàn nguyện. Thế nhưng, người phụ nữ nhân hậu này không may mắc chứng tai biến mạch máu não năm 1982, khiến toàn thân tê liệt. Sau nhiều lần chữa trị ở các bệnh viện lớn, tình trạng mới đỡ dần, chuyển thành liệt nửa người.

Ông Vương Lực Bình dùng thiên mục thấu thị quan sát, phát hiện bệnh tình của bà không quá nghiêm trọng, chỉ do điều trị không kịp thời và đúng phương pháp, bỏ lỡ thời cơ nên để lại di chứng. Ông nói với người nhà: “Tôi còn phải chăm sóc mấy trăm học viên, không thể đến tận nhà chữa trị. Có thể để bà đến đây mỗi ngày một lần, tổng cộng một tuần là được.” Người nhà lập tức đồng ý.

Thế là mỗi ngày khi ông Vương giảng bài, cụ già đều đúng giờ đến ngồi gần bục giảng. Vừa giảng, ông vừa âm thầm vận công điều trị. Bà lão chăm chú nghe giảng, không hay biết gì. Hai ngày sau, bà đã có thể tự đứng dậy đi lại với sự hỗ trợ của người nhà. Đến ngày thứ ba, bà chống gậy bước đi chậm rãi. Năm ngày tiếp theo, bà tự đi lại một mình. Sau bảy ngày, bà hoàn toàn bình phục, có thể đi lại vững vàng trong sân chùa.

Khi khóa học kết thúc, cụ già dẫn cả gia đình hơn mười người đến tạ ơn. Bà nắm tay ông Vương nói: “Bệnh của tôi, người thường không chữa nổi. Hôm đó vừa thấy ông, tôi như thấy Phật quang tỏa sáng, biết mình gặp được cứu tinh. Hồi trẻ tôi từng mắc bệnh, cũng tại ngôi chùa này, được lão trụ trì truyền một hơi tiên, khỏi ngay tức khắc. Quả nhiên, lần này được ông truyền hơi tiên, cái xác già này lại đứng lên được!” Nói đoạn, bà ra hiệu cho cả nhà quỳ xuống. Ông Vương bối rối, vội quỳ theo đỡ bà dậy, liền nói: “Bà ơi, làm thế quá lễ rồi!”

Phía đông tàng kinh các, trong hai gian nhà lớn xếp hình chữ “nhất”, gần 300 học viên ngồi xếp bằng. Ông Vương Lực Bình đứng tại điểm giao nhau, dẫn công phát lực.

“Mọi người cởi bỏ áo ngoài, thả lỏng toàn thân, chỉnh tư thế cho chuẩn. Cột sống phải thẳng, không gồng cứng, đạt được trạng thái thẳng tự nhiên, thả lỏng nhưng không buông lỏng. Lưỡi chạm hàm trên, xưa gọi là ‘thắt cầu chim khách’. Giữ vững đế chân, bịt kín hạ tam âm. Tốt! Mọi người ngẩng đầu, nhìn thẳng về phía trước, càng xa càng tốt. Xem có điểm sáng nào không, màu gì. Tốt! Từ từ thu thần quang về, tập trung vào điểm giữa hai lông mày – đó là ‘huyệt’ của ‘Thiên Nhật huyệt’, tiếp tục thu vào sâu hơn…”

Học viên ngồi ngay ngắn, bất động, không gian luyện công yên tĩnh như tờ. Lúc này, ông Vương Lực Bình đưa hai bàn tay nửa duỗi, nhẹ nhàng nâng lên rồi lắc sang hai bên. Gần 300 học viên đột nhiên như lạc vào con tàu gặp sóng gió, không kìm được mà đung đưa, chao đảo. Ông Vương lắc hai đồng tiền cổ trong tay, học viên càng lúc càng dao động mạnh: người ngả nghiêng tới lui, kẻ vung tay lia lịa, người đấm ngực dồn dập, kẻ múa những điệu vũ thanh tao, có người mười ngón tay biến hóa nhanh như người dùng ngôn ngữ ký hiệu. Bỗng nhiên, tiếng khóc nức nở vang lên thảm thiết, kẻ khác cười điên cuồng kỳ quái. Hai gian phòng như nồi nước sôi, hỗn loạn dữ dội.

Ông Vương đứng giữa, nhìn cảnh tượng kỳ lạ xung quanh, nở nụ cười tinh nghịch như trẻ con. Khoảng một khắc sau, ông đưa một tay nâng lên hướng phía đông-tây, tay kia ấn nhẹ xuống. Quay sang gian phòng nam-bắc, ông lắc hai đồng tiền, miệng phun mấy tiếng “tặc tặc”.

Lúc này: Gian phòng đông-tây, nửa phía tây hỗn loạn điên cuồng – tiếng khóc than thảm thiết. Nửa phía đông dần kiệt sức, cử động yếu ớt, từ gào thét chuyển thành thở dốc rồi lặng lẽ ngồi thiền. Gian nam-bắc đã yên ắng tự lâu, hơn trăm học viên như đàn cừu hiền lành – kẻ gật gù, người ngáy khẽ, mặc kệ tiếng ồn từ phòng bên, chìm vào giấc ngủ.

Ba mươi phút sau, ông Vương Lực Bình dừng lại phần người đang khóc lóc, niệm chú khiến nhóm đang ngủ gật ở trạng thái lảo đảo duỗi người, ngáp dài rồi tỉnh táo dần. Ông yêu cầu mọi người xoa tay, chà mặt, thả lỏng tư thế để thu công.

Học viên ùa đến vây quanh, hào hứng hỏi: “Thầy Vương ơi, giải thích chuyện hôm nay đi ạ!”

Ông Vương cười tươi như trẻ con: “Chơi đùa thôi mà!” Mọi người vẫn nài nỉ, ông mới từ tốn giải thích:

“Cách tổ chức trường khí và dẫn công này bắt nguồn từ phương pháp giảng kinh xưa của Đạo gia và Phật gia, chia làm ba thừa.

Thừa thứ nhất gọi là Loạn Cục. Khi dẫn công, không kiểm soát mọi người, không quy tắc, không sắp xếp, để tự nhiên. Lúc này, người khóc kẻ cười, múa may quay cuồng, đủ thứ hỗn loạn xuất hiện. Người dẫn công chủ yếu quan sát bản tính, tố chất, tâm lý, khiếm khuyết của từng người qua trạng thái này, cố ý không can thiệp. Tuy nhiên, không chỉ người có công phu cao mới tạo được hiệu ứng Loạn Cục. Danh tiếng, uy tín, địa vị, lợi ích… cũng có thể khiến con người mất đi bản tính, quên mình, hành động vô thức. Điều này pha trộn nhiều yếu tố tâm lý chủ quan của người tham dự. Ví như các buổi biểu diễn của ca sĩ, diễn viên hay trận đấu thể thao hấp dẫn cũng khiến giới trẻ mê muội. Vì thế, đừng nghĩ hiện tượng ‘tự phát công’ quy mô lớn là tốt, là có cao nhân dẫn dắt – thực chất đây chỉ là trình độ thấp.

Thừa thứ hai gọi là Bố Cục. Người dẫn công căn cứ vào bản tính và tố chất từng người để chia khu vực, phương vị, góc độ khác nhau, sau đó vận công khiến mỗi khu vực rơi vào trạng thái riêng. Một nhóm động đậy, nhóm khóc, nhóm cười, nhóm ngủ, nhóm tĩnh tọa… hoạt động riêng rẽ, không ảnh hưởng lẫn nhau. Người dẫn công chủ động, người nghe bị động. Cũng có thể khiến một khu vực trong trường

“Một khu vực lạnh, một khu vực nóng; đồng hồ của người này chạy nhanh, người kia chạy chậm – đều là cùng một đạo lý. Đạo gia dùng Cửu Cục Lục Thập Tứ Quái để bố cục, số cục tối đa không vượt quá chín, các cục có thể liên thông với nhau. Thiên Can có mười, Địa Chi có mười hai, giấu đi Can Giáp tôn quý nhất, khi dẫn động luôn cố định một hai người không cho họ cử động – gọi là ‘Độn Giáp’. Ất, Bính, Đinh tạo thành ‘Kỳ Môn’, sắp xếp cách quãng trên ‘Cửu Cung’, luôn chừa một vị trí trống – đó là nơi ‘Giáp’ xuyên suốt. Các Can còn lại Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý gọi là ‘Lục Nghi’. Đây chính là ‘Kỳ Môn Độn Giáp’ mà Đạo gia đề cập. Từ ngữ đơn giản, nhưng ẩn chứa cơ trí biến hóa khôn lường, là không gian đa chiều, ứng dụng cực kỳ khó.

Cảnh giới cao nhất của dẫn công gọi là ‘Tâm Lĩnh Thần Hội’. Lời nói, hành động đều trở nên thừa thãi. Diệu dụng nằm ở tâm ý. Lúc này, ngoại động chuyển thành nội động, nội động chuyển thành thần động. Hai bên giao tiếp bằng thần ý, phối hợp nhịp nhàng.

Cuối cùng, ông Vương Lực Bình nhấn mạnh: Khi luyện công xuất hiện hiện tượng tự phát động, cơ thể dao động… đó là ‘khí đi trước, thần theo sau’, thần bị khí dẫn dắt, bản thân không làm chủ. Người tu luyện phải lấy mình làm chủ, chuyển ngoại động thành nội động, trong tĩnh lặng thể nghiệm những biến hóa vi diệu trong cơ thể. ‘Thái Thượng Lão Quân Thuyết Thường Thanh Tĩnh Kinh’ có viết: ‘Thường dùng dục vọng quan sát khiếu, ấy là động; thường dùng vô dục quan sát diệu lý trong khiếu, ấy là tĩnh. Thu hái linh dược là động; đắc được linh dược là tĩnh.’ Lại nói: ‘Thiên địa trong thân cảm ứng với thiên địa ngoài thân. Thiên địa ngoài thân ứng hợp với thiên địa trong thân. Nếu thiên địa trong thân có chủ tể, khí bên ngoài sẽ quy về trong; nếu không có chủ tể, khí trong thân sẽ tản ra ngoài, không thành đạo, lại tổn hại đại đạo.’ Đạo gia giảng ‘Mệnh ta do ta, không do trời’, dù làm người, sống, tu luyện hay làm việc, cần hòa hợp với đạo, trọng yếu ở ‘thiên địa trong thân có chủ tể’ – tự chủ bản thân, dựa vào nỗ lực và suy ngẫm để tiến bộ và giác ngộ, đừng mù quáng sùng bái, đánh mất bản tính.”

Ông Vương Lực Bình dùng chính trải nghiệm của mình để giảng đạo truyền công, thu hút ngày càng đông người…

Chùa Hương Giới không còn đủ chỗ ở, học viên đổ xô lên các ngôi chùa khác trên núi có thể tá túc. Khi núi đã kín chỗ, dưới chân núi lại xuất hiện thêm học viên “đi học từ xa” – sáng sớm leo lên núi, tham gia lớp học rồi trở về chân núi nghỉ ngơi. Những người mộ Đạo từ Hồng Kông cũng vượt ngàn dặm tới, các tổ chức nghiên cứu khoa học cơ thể người Nhật Bản cũng thương lượng với Hiệp hội Nghiên cứu Khí công Trung Quốc, mong được khảo sát thực địa.

Chương 20: Kiên Phụ Trọng Nhậm 

Một nhiệm vụ lớn mà Tam Lão giao cho Vương Lực Bình là bổ sung và biên soạn lại 《Đạo Tạng》.

Ông Vương Lực Bình nói: 《Đạo Tạng》 là “Sử Ký” của văn hóa Trung Hoa, đồng thời cũng là bộ “Bách khoa toàn thư” về văn hóa cổ đại Trung Quốc.

Trong hầu hết trường hợp, cuốn sách này sử dụng thuật ngữ “Đạo gia”, chỉ trong một số ít trường hợp mới dùng “Đạo giáo”. Cả hai khái niệm này đều không được sử dụng theo nghĩa chặt chẽ, mà nhằm đứng trên góc độ văn hóa rộng lớn – tức nền văn minh nhân loại – để giải thích một phương diện trọng yếu, một nội dung cốt lõi của văn hóa Trung Quốc. Những phương diện và nội dung trọng yếu này, về mặt văn tự, đã được ghi chép chủ yếu trong 《Đạo Tạng》.

《Đạo Tạng》 không phải là một bộ biên niên sử, nó không ghi chép sự hưng suy thay đổi của các triều đại nhân gian. Nó quan tâm đến mối quan hệ giữa trời và người: vũ trụ hình thành như thế nào, biến hóa ra sao, vận hành theo quy luật nào; con người phát triển thế nào, nguồn gốc và điểm đến của nhân loại, vị trí của con người trong vũ trụ, cũng như những bí ẩn của vũ trụ và đời sống. Bằng một hệ tư tưởng đặc thù, nó khám phá những vấn đề trọng đại này, hình thành nên một dạng văn hóa độc đáo, đưa ra những kết luận khác biệt, từ đó đóng góp trí tuệ của người Trung Quốc hoặc phương Đông cho toàn nhân loại. Chính trong ý nghĩa này, 《Đạo Tạng》 được ví như “Sử Ký của văn hóa Trung Hoa”, là “Bách khoa toàn thư của văn hóa cổ đại Trung Quốc”.

《Đạo Tạng》 bao hàm phạm vi rộng lớn. Người xưa từng nói: “Thuật của Đạo gia tạp mà nhiều mối”. Người nói câu này không hiểu văn hóa Đạo gia; những kẻ không thấu hiểu văn hóa Đạo gia sau này vẫn sẽ lặp lại điều tương tự.

Tuy nhiên, bởi Đạo gia quan tâm đến những vấn đề vừa rộng vừa tinh vi, nên tư liệu lịch sử của nó khó tránh khỏi “nhiều” mà “tạp”. Cũng chính vì 《Đạo Tạng》 lưu giữ tư liệu lịch sử phong phú và đa dạng, nó trở thành một kho báu văn hóa khổng lồ cho hậu thế.

Kinh điển Đạo gia từ lần tập hợp đầu tiên đến các lần chỉnh lý dưới triều Minh (Chính Thống, Vạn Lịch) trong 《Đạo Tạng》, trải qua hơn nghìn năm với bao thăng trầm.

Trong cuốn 《Đạo Tạng Nguyên Lưu Khảo》 (Khảo cứu nguồn gốc và lịch sử Đạo Tạng) của học giả Trần Quốc Phù, La Thường Bồi đã viết lời tựa cho ấn bản đầu tiên như sau:
“Việc biên tập kinh điển Đạo gia chia làm ba giai đoạn. 《Hán Thư – Nghệ Văn Chí》 lần đầu tiên ghi chép về Đạo kinh. Sau này, các đời Cát Hồng, Lục Tu Tĩnh, Mạnh Pháp Sư, Đào Hoằng Cảnh, Nguyễn Hiếu Tịch, Vương Diên, Doãn Văn Thao v.v… lần lượt bổ sung, ghi rõ số quyển. Tuy mục lục đã đầy đủ nhưng chưa hình thành tàng thư hoàn chỉnh – đó là giai đoạn thứ nhất. Đến đời Đường (năm Khai Nguyên), kinh điển được biên soạn và tập hợp, lần đầu dùng chữ ‘Tạng’ đặt tên, gọi là 《Tam Động Quỳnh Cương》 gồm 3.744 quyển. Trải qua loạn lạc cuối Đường – Ngũ Đại, tư liệu bị tàn phá, thất lạc. Đến thời Tống Thái Tông, Chân Tông, Từ Thuyên, Vương Khâm Nhược lần lượt vâng chiếu hiệu đính, dâng lên mục lục. Tuy nhiên, hệ thống còn rời rạc, phân loại lộn xộn, qua nhiều năm chưa hoàn thiện. Mãi đến khi Trương Quân Phòng tham khảo các bản, phân tích dị đồng, qua nhiều năm biên tập thành 4.565 quyển, xếp theo 《Thiên Tự Văn》 từ ‘Thiên’ đến ‘Cung’, đặt tên 《Đại Tống Thiên Cung Bảo Tạng》. Ông cũng chắt lọc tinh hoa viết thành 《Vân Cấp Thất Thiêm》. Đến thời Tống Huy Tông (năm Sùng Ninh), lại ra chiếu sưu tầm di thư Đạo gia, giao cho Thư Nghệ Cục hiệu đính, nâng tổng số lên 5.387 quyển – đó là giai đoạn thứ hai. Ấn bản 《Đạo Tạng》 cổ nhất còn lưu lại là 《Chính Hòa Vạn Thọ Đạo Tạng》 khắc in năm Chính Hòa đời Tống, tổng cộng 540 hàm. Đến thời Kim Chương Tông, ván in vẫn còn nhưng thiếu sót nhiều. Vua Kim sai Tôn Minh Đạo – người phụ trách Thiên Trường Quán ở Trung Đô – sưu tầm di kinh, bổ sung thành 6.455 quyển, khắc in thành 《Đại Kim Huyền Đô Bảo Tạng》, hoàn thành sau hai năm (từ năm Minh Xương). Đến Nguyên, Tống Đức Phương theo di ý thầy là Khâu Xử Cơ, tìm kiếm bản thiếu, nâng tổng số lên hơn 7.800 quyển, khắc in trong 8 năm, vẫn gọi là 《Huyền Đô Bảo Tạng》. Sau này, do tranh cãi giữa Phật giáo và Đạo giáo về 《Hóa Hồ Kinh》, hai triều Hiến Tông, Thế Tổ ra lệnh đốt kinh Đạo, khiến tư liệu lại bị tản mát. Đến năm Chính Thống thứ 10 đời Minh, tái biên tập toàn tạng, vẫn xếp theo 《Thiên Tự Văn》 từ ‘Thiên’ đến ‘Anh’, năm Vạn Lịch 35 tiếp tục từ ‘Đỗ’ đến ‘Oanh’, tổng 512 hàm, 5.485 quyển, khắc in lưu truyền đến nay. Ngoài ra còn có bản bỏ túi in năm Thiên Khải Bính Dần, nhưng ít người được thấy – đó là giai đoạn thứ ba.”
(《Đạo Tạng Nguyên Lưu Khảo》, Nhà xuất bản Trung Hoa, 1963)

Dịch sang Tiếng Việt:

Văn tự của La Thường Bồi ngắn gọn nhưng đã khái quát trọn vẹn lịch sử nghìn năm hình thành 《Đạo Tạng》. Dựa theo manh mối này, xin mở rộng thêm đôi lời:

Cát Hồng – nhà lý luận Đạo giáo nổi tiếng thời Đông Tấn, tác giả của 《Bão Phác Tử》 (Nội thiên và Ngoại thiên). Theo ghi chép trong thiên 《Hàm Lãm》 của ông, Đạo kinh gồm 670 quyển, phù lục hơn 500 quyển, tổng cộng khoảng 1.200 quyển.

Thời Nam Bắc triều, Lưu Tống có nhân vật Đạo gia lỗi lạc tên Lục Tu Tĩnh (tự Nguyên Đức), người đã sưu tập rộng rãi kinh sách Đạo gia, phân loại thành “Tam Động” (Ba Động), đặt nền móng cho 《Đạo Tạng》 đời sau. Theo 《Đạo Giáo Khái Thuyết》 (Nhà xuất bản Trung Hoa, 1989) của Lý Dưỡng Chính, Lục Tu Tĩnh từ Mao Sơn (Cú Dung) thu thập kinh điển “Thượng Thanh” của Dương Hi và Hứa Mật, từ Cát Sán (Cú Dung) đạt được kinh “Linh Bảo”, lại có được kinh “Tam Hoàng”, từ đó hiệu đính và phân loại 1.228 quyển kinh sách, phù chú, phương dược thời Ngụy-Tấn (thực tế là 1.090 quyển). Ông chia Đạo kinh thành ba bộ:

– Động Chân: Lấy 《Thượng Thanh Kinh》 làm trung tâm.

– Động Huyền: Lấy 《Linh Bảo Kinh》 làm trung tâm.

– Động Thần: Lấy 《Tam Hoàng Văn》 làm trung tâm.

Năm Thái Thủy thứ 7 (471 SCN), ông biên soạn 《Tam Động Kinh Thư Mục Lục》 – đây là mục lục 《Đạo Tạng》cổ nhất.

Trong 《Đạo Tạng Nguyên Lưu Khảo》, Trần Quốc Phù dẫn 《Bản Tế Kinh》 giải thích:

“‘Động Chân’ lấy sự tinh khiết làm nghĩa, ‘Động Huyền’ lấy sự lưu thông làm tên, ‘Động Thần’ lấy sự thần diệu làm dụng. Chữ ‘Động’ nghĩa là thông suốt, ba Động xuyên thấu ý nghĩa huyền diệu. ‘Động Chân’ giữ linh bí không tạp, nên gọi là Chân. ‘Động Huyền’ tạo trời dựng đất, công dụng vô ngại, nên gọi là Huyền. ‘Động Thần’ triệu chế quỷ thần, uy lực khôn lường, nên gọi là Thần. Ba pháp này đều thông phàm nhập thánh, hợp nhất Đại thừa, nên gọi là Động.”*

“Tam Động” còn gọi là Thượng-Trung-Hạ Tam Thừa, mỗi Động chia 12 loại, tổng 36 bộ kinh. 12 loại bao gồm:

  1. Bản văn
  2. Thần phù
  3. Ngọc quyết
  4. Linh đồ
  5. Phả lục
  6. Giới luật
  7. Uy nghi
  8. Phương pháp
  9. Chúng thuật
  10. Ký truyện
  11. Tán tụng
  12. Chương tố

Đây chính là khung xương của 《Đạo Tạng》 sau này.

Mạnh Pháp Sư (thời Lương, Nam Bắc triều) soạn 《Ngọc Vĩ Thất Bộ Kinh Thư》, ngoài “Tam Động” còn thêm “Tứ Phụ”: Thái Thanh, Thái Bình, Thái Huyền, Chính Nhất, nhằm bổ sung và giải thích cho “Tam Động”. Trong đó:

– Thái Huyền hỗ trợ Động Chân

– Thái Bình hỗ trợ Động Huyền

– Thái Thanh hỗ trợ Động Thần

– Chính Nhất thông suốt cả “Tam Động” và “Tam Thái”.

Trong 《Đạo Tạng Nguyên Lưu Khảo》 (trang 102), Trần Quốc Phù viết:

*”Từ cuối Hán, qua Tam Quốc, Lưỡng Tấn đến Nam Bắc triều, kinh sách Đạo gia liên tục xuất hiện. Do các đạo sĩ giữ bí mật, nên số lượng kinh sách họ sở hữu không nhiều. Tuy nhiên, có người không ngại gian khổ đi khắp nơi tìm sách lạ, hoặc bỏ tiền mua tập hợp. Ví như Trịnh Ẩn thời Đông Tấn sưu tập 670 quyển (《Bão Phác Tử·Hàm Lãm》), Vương Đạo Nghĩa thời Bắc Ngụy tập hợp hơn vạn quyển (《Tiên Giám》 quyển 30). Mãi đến đời Đường (niên hiệu Khai Nguyên), mới biên tập thành Tạng.”*

Theo cách nói hình tượng của Lý Dưỡng Chính:

*”Nếu nói Đạo giáo gieo hạt từ thời Chiến Quốc, nảy mầm thời Đông Hán, phát triển thân cành thời Ngụy-Tấn-Nam Bắc triều, thì đến Tùy-Đường-Ngũ Đại đã nở rộ hoa trái.”*

《Khai Nguyên Đạo Tạng》 được biên tập vào niên hiệu Khai Nguyên đời Đường, đến năm Thiên Bảo thứ 7 (748 SCN) được lệnh sao chép để lưu truyền rộng rãi. Đây là sự kiện trọng đại trong lịch sử phát triển Đạo giáo và truyền bá văn hóa Đạo gia.

Tuy nhiên, sau loạn An Lộc Sơn, nhiều kinh sách ở hai kinh đô bị thiêu hủy. Qua loạn lạc cuối Đường-Ngũ Đại, nhờ Đỗ Quang Đình và những người khác thu thập tái thiết, mới giữ được 30-40% kinh sách Đạo gia từ Lục triều.

Các triều Tống, Kim, Nguyên đều có biên tập 《Đạo Tạng》 nhưng đều bị hủy hoại qua chiến tranh.

Khâu Xử Cơ (tu thành Đạo, từ chối chiếu mời của Kim và Tống). Năm 1221, Nguyên Thái Tổ sai sứ triệu, Khâu phụng chiếu Tây hành, đến Tuyết Sơn diện kiến Thành Cát Tư Hãn, khuyên dừng sát sinh, cứu vô số sinh linh. Từ đó, Toàn Chân Đạo hưng thịnh.

Khâu Xử Cơ có đệ tử Tống Đức Phương – bậc tông sư một thời. Tống từng bàn với Khâu: *”Kinh sách Đạo gia mai một, nên khôi phục.”* Khâu dặn: *”Việc lớn Đạo Tạng, ta không còn thời gian, ngươi hãy gánh vác.”* Tống Đức Phương vâng di chúc, năm Nguyên Thái Tông thứ 9 (1237) khởi xướng khắc in 《Đạo Tạng》, giao đệ tử Tần Trí An chủ trì tại Huyền Đô Quán (Bình Dương). Sau 8 năm bổ sung, sưu tầm, đến năm 1244 (niên hiệu Nãi Mã Chân) hoàn thành – *”nhân duyên Đại Tạng đã viên mãn”* (theo 《Đạo Tạng Nguyên Lưu Khảo》, trang 161-162).

Lần biên tập quy mô cuối cùng trong lịch sử là 《Chính Thống Đạo Tạng》 (năm 1444, triều Minh) – mất 40 năm biên soạn, cùng 《Vạn Lịch Tục Đạo Tạng》 (năm 1601). Tổng cộng hai bộ gồm 5.485 quyển, 512 hàm. Đây cũng là phiên bản 《Đạo Tạng》 duy nhất còn nguyên vẹn đến nay.

Ván khắc 《Đạo Tạng》 thời Minh-Thanh dần hư hỏng. Năm 1900, khi liên quân tám nước xâm lược Bắc Kinh, toàn bộ ván in bị phá hủy. Dù triều Minh-Thanh ban tặng nhiều bản cho các đạo quán, nhưng qua binh lửa, số còn lại rất ít.

Giai đoạn 1923-1926, Thương vụ Ấn thư quán dùng danh nghĩa “Hàm Phân Lâu” in lại bản 《Đạo Tạng》 từ Bạch Vân Quán (Bắc Kinh). Năm 1957-19, Đài Loan tái bản dựa trên bản này. Tuy nhiên, do bản gốc thiếu vài trang, cả hai phiên bản đều không đầy đủ.

Năm 1988, Nhà xuất bản Văn Vật, Thượng Hải Thư điếm, Thiên Tân Cổ tịch xuất bản xã in lại bản Hàm Phân Lâu, bổ sung các trang thiếu, hoàn thiện 《Đạo Tạng》 thời Minh.

《Đạo Tạng》 hiện nay là tập hợp kinh điển Đạo gia với niên đại muộn nhất là thời Vạn Lịch. Tuy nhiên, Minh bản vẫn còn nhiều thiếu sót. Trong 《Lời nói đầu》 của ấn bản 1988, Hồ Đạo Tĩnh viết:

*”Chính Thống và Vạn Lịch 《Đạo Tạng》 còn thiếu nhiều kinh sách, như:

  1. Sách Đạo đời Minh về sau. 《Đạo Tạng Tập Yếu》 đời Thanh thu thập 110 tác phẩm Đạo gia thời Minh-Thanh (288 quyển).
  2. Cổ kinh bị thất lạc, ví dụ 《Thái Thanh Phong Lộ Kinh》.
  3. Khoảng 500 quyển Đạo thư trong động chứa kinh Đôn Hoàng (phát hiện năm 1899), bị Anh-Pháp cướp đoál, như 《Lão Tử Đạo Đức Kinh Tưởng Nhĩ Chú》, 《Lão Tử Hóa Hồ Kinh》.
  4. Bản chép tay trên lụa thời Tây Hán (phát hiện năm 1973 tại Mã Vương Đôi), gồm 《Kinh Pháp》, 《Thập Đại Kinh》, 《Xưng》, 《Đạo Nguyên》 – trước tác quan trọng của Hoàng-Lão học.
  5. 《Vĩnh Lạc Đại Điển》 sót lại sau hỏa hoạn còn giữ được một số Đạo thư bị Chính Thống 《Đạo Tạng》 bỏ sót.

Những tư liệu này cần được bổ sung trong tương lai.”*

Ông Trần Quốc Phù trong cuốn Đạo Tạng Nguyên Lưu Khảo đã chỉ ra những vấn đề tồn tại trong phương diện phân loại của Đạo Tạng:

Các sách đạo giáo xuất thế qua các triều đại, khi truy ngược nguồn gốc, có những cuốn không thuộc Tam Động hay Tứ Phụ. Thế nhưng, khi biên soạn Đạo Tạng vào thời Đường, các đạo thư đã bị cưỡng ép xếp vào Thất Bộ. Do đó, các kinh sách được thu thập không hoàn toàn liên quan đến kinh điển Tam Động hay Tứ Phụ.

Phương pháp phân loại trước tác của các đạo sĩ hậu thế có thể nhận biết được. Ví dụ, các bản chú giải của Thượng Thanh Kinh cũng như những trước tác dựa trên thuyết của Thượng Thanh Kinh đều được xếp vào phần Động Chân. Tuy nhiên, từ thời Đường – Tống trở đi, đối với các trước tác của đạo sĩ, chẳng hạn như các sách của Nam tông và Bắc tông Đạo giáo, việc xếp vào bộ nào lại rất khó xác định.

Từ thời Khai Nguyên nhà Đường, Đạo Tạng đã nhiều lần được trùng tu. Tuy nhiên, do trải qua loạn An Sử, chiến loạn cuối Đường, thời Ngũ Đại, cùng việc đốt kinh vào thời Nguyên, nên dù đến đời Minh, Đạo Tạng vẫn được phân thành các bộ Tam Động, Tứ Phụ, nhưng các kinh điển Đạo giáo từ Lục triều cũng đã bị phân loại lẫn lộn, không thể tìm lại diện mạo nguyên bản của Đạo Tạng thời Đường. Còn các sách đạo giáo khác thì lại càng không cần bàn đến nữa.

Việc phân loại trong Chính Thống Tạng cũng rối loạn, những sai sót nghiêm trọng có thể kể đến như sau: Thượng Thanh Kinh lẽ ra phải thuộc Động Chân Bộ, nhưng nay phần lớn lại bị xếp nhầm vào Chính Nhất Bộ; các bản chú giải của Độ Nhân Kinh vốn phải thuộc Động Huyền Bộ, nhưng nay lại bị đưa vào Động Chân Bộ; các bản chú giải của chư tử đạo gia vốn phải thuộc Thái Huyền Bộ, nhưng cũng bị xếp sai vào Động Chân Bộ. (Xem Đạo Tạng Nguyên Lưu Khảo, trang 102-103)

Hai vấn đề trên chính là những thiếu sót lớn của Đạo Tạng hiện nay. Các học giả đang nghiên cứu vấn đề này, những người kế thừa đạo gia cũng đang nghiên cứu, thậm chí họ còn xem trọng vấn đề này hơn nữa. Họ đang cố gắng “bổ khuyết” những “khiếm khuyết” này bằng ba phương pháp: một là bổ sung, hai là biên soạn lại, ba là lập danh mục tra cứu. Đối với các nhân vật trong đạo gia, đây là một phần trong sự nghiệp của họ, là việc trọng đại của văn hóa đạo gia, đồng thời cũng là một sự kiện quan trọng trong nền văn hóa nhân loại.

Để gánh vác trọng trách này, ông Vương Lực Bình cùng sư gia và sư phụ của ông có một khí phách và dũng khí vĩ đại.

Họ đã bắt đầu làm việc không ngừng nghỉ.

Trên đường du hành, họ đã tìm thấy một bộ bí kíp do Lã Động Tân chôn giấu trong danh sơn động phủ, đây là một cuốn sách đáng ra phải được thu vào Đạo Tạng.

Ông Trần Quốc Phù trong Đạo Tạng Nguyên Lưu Khảo có nói: “Đạo sĩ thường xem sách của mình là trân bảo, không dễ dàng truyền dạy; dù có sưu tầm rộng rãi dị thư thì vẫn phải tuân theo lời dạy của sư môn. Do đó, truyền thừa cũng là điều quan trọng.” (Xem Đạo Tạng Nguyên Lưu Khảo, trang 101) Đây là đặc trưng của văn hóa phong kiến, đồng thời cũng là trở ngại lớn đối với sự phát triển và tiến bộ của văn hóa. Nhưng nhìn từ một góc độ khác, nền chuyên chế phong kiến quá khắc nghiệt, một khi có lệnh đốt sách, thì toàn bộ thư tịch liên quan có thể bị thiêu hủy trong chốc lát. Thêm vào đó là chiến loạn, thiên tai, khiến nhiều thư tịch quý báu không thể thoát khỏi số phận bị hủy diệt. Trong bối cảnh như vậy, việc cất giấu bí kíp trong danh sơn, hoặc chỉ truyền thừa nghiêm ngặt giữa thầy trò, cha con, cũng là một phương pháp bất đắc dĩ để bảo tồn văn hóa.

Ngày nay, phương tiện truyền bá văn hóa đã đầy đủ, cuộc “Cách mạng Văn hóa” tiêu diệt văn hóa đã qua đi, con người đã có nhận thức sâu sắc hơn về văn hóa nhân loại. Trong hoàn cảnh này, việc sưu tầm, khai quật những bảo vật văn hóa bị chôn vùi nơi núi non, lòng đất, dân gian và trong tâm tưởng, bao gồm cả kho tàng văn hóa đạo gia, trở thành một nhiệm vụ vô cùng quan trọng.

Ông Vương Lực Bình cùng sư gia và sư phụ của ông hiện đang thực hiện công việc có ích cho nhân loại này, họ muốn “lấp đầy những khoảng trống trong Đạo Tạng”.

Công việc của họ đã có kết quả.

Vâng mệnh sư tôn, ông Vương Lực Bình đã biên soạn cuốn Nữ Đan Công. Bản thảo đầu tiên có 170.000 chữ, sau nhiều lần chỉnh lý, tinh giản, cuối cùng hoàn chỉnh với 120.000 chữ và sắp được xuất bản.

Từ xưa đến nay, các công pháp đều thuộc về Dương Công, tức là công pháp dành cho nam giới, mà không quan tâm đến nữ giới. Trong lịch sử, cũng có phụ nữ tu đạo và thành tựu, nhưng số lượng rất ít, còn những trước tác chuyên luận về nữ đạo thì trong Đạo Tạng lại hoàn toàn vắng bóng. Những năm gần đây, phụ nữ có chí luyện công ngày càng nhiều trong và ngoài nước, nhưng lại không có một cuốn sách nào chuyên dành cho họ. Đôi khi trên thị trường cũng có thể tìm thấy một số thư tịch cổ về Nữ Đan Công, nhưng nội dung lại mơ hồ, không thể làm theo một cách cụ thể. Đây chính là vấn đề mà ông Vương Lực Bình cùng sư gia, sư phụ của ông đã nhìn thấy và muốn giải quyết.

Toàn Chân Đạo đã tổng kết sự khác biệt sinh lý giữa nam và nữ, đồng thời kế thừa kinh nghiệm của tiền nhân trong việc tu luyện Nữ Đan Công, từ đó sáng tạo ra công pháp Khôn Công. Lã Động Tân đã truyền lại công pháp này cho Vương Trùng Dương, Vương Trùng Dương truyền cho Tôn Bất Nhị, Tôn Bất Nhị tu luyện thành công và trở thành một trong Bắc Thất Chân.

Lần này, ông Vương Lực Bình vâng mệnh biên soạn cuốn Nữ Đan Công, dùng văn bạch thoại dễ hiểu để viết, trình bày lý luận và phương pháp công phu một cách rõ ràng, giúp phụ nữ dễ dàng luyện tập.

Điều kiện viết Nữ Đan Công của ông Vương Lực Bình là điều khó ai có thể tưởng tượng được. Gia đình ông vô cùng giản dị, ngoài vài món đồ nội thất đơn giản, thậm chí còn không có một chiếc bàn. Ông Vương Lực Bình là nhân vật có danh tiếng trong và ngoài nước, kiến thức uyên thâm, có mấy ai có thể sánh bằng? Thế nhưng, thử nhìn một gia đình công nhân hay nông dân bình thường mà xem, ngoài những hộ gia đình nghèo khó, lạc hậu nhất, có ai lại không có một chiếc bàn đơn giản để đọc sách, viết chữ chứ?

Người viết cuốn sách này khi nhắc đến hoàn cảnh đó, khó tránh khỏi cảm xúc dâng trào. Khi độc giả đọc đến đây, những ai có lòng nhân hậu hẳn cũng sẽ có cảm giác tương tự. Nhưng có lẽ cũng sẽ có người nghi hoặc: “Liệu tác giả có đang thêu dệt nên một huyền thoại đương đại không?” Họ không tin rằng đây lại là sự thật.

Nhưng sự thực đúng là như vậy, giản dị và chân thật.

Ông Vương Lực Bình đã nằm trên giường hoặc kê sách trên đầu gối để viết từng trang Nữ Đan Công. Những ai có cơ hội đọc Nữ Đan Công và luyện tập theo đó, nếu nghĩ đến hoàn cảnh mà tác giả đã viết nên cuốn sách này, chắc chắn sẽ có thêm động lực trong việc luyện công.

Ông Vương Lực Bình cùng sư gia và sư phụ của ông (Thanh Tĩnh đạo nhân đã viên tịch, nhục thân của ông vẫn được bảo quản nguyên vẹn) đều kiên trì tiến hành thực nghiệm, ghi chép, thu thập tư liệu, biên soạn và bổ sung Đạo Tạng trong điều kiện hết sức khó khăn.

Trong nhiều trường hợp, chính sư gia và sư phụ của ông là người đề xuất đề tài, sau đó giao cho ông Vương Lực Bình thực nghiệm trong xã hội, rồi ghi lại kinh nghiệm thành công để làm tư liệu. Ví dụ, khi ông Vương Lực Bình vâng mệnh xuống núi, tổ chức các lớp học với số lượng học viên lớn, tiến hành những thực nghiệm về tĩnh công tư duy quy mô lớn—đây là những kinh nghiệm mà ngay cả sư gia và sư phụ của ông cũng chưa từng có, và trong Đạo Tạng cũng không có tài liệu nào ghi chép về điều này. Vì vậy, họ chỉ có thể tích lũy kinh nghiệm thông qua thực nghiệm để kiểm chứng.

Mỗi lần ông Vương Lực Bình mở lớp, hoàn cảnh đều khác nhau, mục đích là để thu thập những dữ liệu khác nhau. Mỗi lần giảng dạy, ông đều thiết kế nội dung huấn luyện khác nhau, đồng thời nói: “Việc này tôi cũng chưa có kinh nghiệm, không biết liệu có thành công không.” Đây không hoàn toàn là lời khiêm tốn, mà ẩn chứa một đạo lý sâu xa.

Có một lần, tại Tây An, ông gặp một trường hợp bệnh lý hiếm gặp. Ông đã xin chỉ giáo cả sư gia và sư phụ, nhưng hai người cũng chưa từng gặp qua nên không thể chỉ dạy cách chữa trị cụ thể. Sau đó, trong giấc mơ, ông Vương Lực Bình được thượng sư chỉ điểm, nhờ đó đã chữa khỏi bệnh. Sau này, ông tra cứu khắp thư tịch nhưng không tìm được danh tính của vị thượng sư đó. Ông đã ghi chép chi tiết trường hợp bệnh này và phương pháp chữa trị, biến nó thành một tư liệu vô cùng quý giá.

Vô Cực đạo nhân và Thanh Hư đạo nhân dù tuổi đã cao nhưng vẫn kiên trì tu luyện, ghi chép lại những kinh nghiệm và cảm nhận về việc luyện công ở tuổi già. Đây cũng là những tư liệu vô cùng quý giá, mà trong Đạo Tạng chưa từng có.

Hiện đã có một số sinh viên đại học và nghiên cứu sinh bày tỏ sự quan tâm đến tư tưởng và công pháp của ông Vương Lực Bình. Họ cùng ông thảo luận những vấn đề mới trong sự phát triển của triết học và khoa học kỹ thuật.

Trong cuộc trò chuyện với tác giả cuốn sách này, ông Vương Lực Bình luôn khắc ghi nhiệm vụ nặng nề mà sư tôn đã giao cho ông: biên soạn lại Đạo Tạng. Ông than thở rằng bản thân bị cuốn vào những công việc vụn vặt hằng ngày mà không thể thoát ra được. Trên vai ông là tầng tầng gông xiềng. Ông bị “giao trọng trách” làm nhân viên bảo vệ của một nhà máy. Hàng ngày, có rất nhiều bệnh nhân, những người gặp khó khăn, những người có vấn đề cần giúp đỡ, từ bốn phương tám hướng tìm đến ông, khiến ông không có được một phút yên tĩnh, muốn trốn cũng không được, muốn giấu cũng không xong. Thời gian quý báu của ông bị chiếm dụng như vậy. Ông cười mỉa mai nói: “Người tu đạo vốn là những kẻ ngoài thế tục, vậy mà tôi chưa từng trải qua cuộc sống bị quản thúc như thế này. Có lẽ sau này, tôi cũng có thể ghi lại những trải nghiệm này vào Đạo Tạng chăng?”

Lần đầu tiên tác giả cuốn sách này đến Thẩm Dương gặp ông Vương Lực Bình là vào giờ ăn trưa. Ông dẫn chúng tôi vào một quán ăn bình dân. Quán nằm bên đường, chỉ có một gian phòng nhỏ, vài chiếc bàn tròn xếp gọn, hai nhân viên phục vụ—đây là kiểu quán ăn tư nhân mới xuất hiện trong những năm gần đây. Ông Vương Lực Bình rất hào sảng: “Hôm nay tôi mời khách, anh cứ gọi món đi.” Nói rồi đưa thực đơn cho một trong số chúng tôi.

Gọi món xong, ông lại gọi thêm một phần đậu phụ và mấy chai bia. Đậu phụ là món chính của ông, còn bia là để mời khách. Ông rất vui khi có khách từ phương xa đến thăm, không nói chuyện thế tục mà chỉ luận đạo. Ông nói: “Đến giờ tôi vẫn chưa học được cách mời món, các vị cứ tự nhiên nhé.” Ông ăn ít hơn người khác, ăn nhanh hơn người khác, dùng bữa xong liền đi thanh toán. Khi quay lại, ông cười nói: “Hôm nay tòa soạn gửi cho tôi 100 tệ tiền nhuận bút, trong túi có tiền rồi, không cần phải đi vay để mời các anh ăn nữa.” Lúc đó chúng tôi mới biết, hóa ra ông thường xuyên rơi vào cảnh không một xu dính túi.

Đây là một góc đời sống thường ngày của ông Vương Lực Bình.

Hằng năm, ông đều đến Lão Sơn để thăm sư gia và sư phụ. Cứ cách vài năm, ông lại đến thăm sư thúc Vân Du đạo nhân và Xích Cước đạo nhân. Ông phải phụng dưỡng cha mẹ, cha mẹ vợ, giúp đỡ em trai em gái, nuôi dạy con cái, làm tròn trách nhiệm của một con người. Nhưng đối với bản thân, ông lại cực kỳ tiết kiệm, không màng vật dục. Điều ông trăn trở là làm sao hoàn thành trọng trách đè nặng trên vai.

Nhiều người đã từng nhờ cậy ông Vương Lực Bình, và sau này chắc chắn cũng sẽ còn nhiều người nữa. Ông Vương Lực Bình đã tận tâm cống hiến. Cũng có rất nhiều người chưa từng nhờ đến ông, và có lẽ cũng sẽ không có cơ hội để nhờ ông, nhưng ông vẫn cống hiến cho tất cả.

Ông Vương Lực Bình không yêu cầu chúng ta làm gì cho ông. Nhưng chẳng lẽ chúng ta không nên làm điều gì đó cho ông hay sao?

Trọng trách trên vai ông Vương Lực Bình, cũng là trọng trách trên vai chúng ta. Chúng ta có thể góp một nắm đất cho ngọn núi lớn này.

Chương 21: Phản Bản Hoàn Nguyên

Tại căn nhà giản dị của ông Vương Lực Bình, người viết cuốn sách này lại một lần nữa ngồi xuống trò chuyện. Cha của ông Vương, một cụ ông nhân hậu và điềm đạm, ngồi bên mép giường, lặng lẽ lắng nghe cuộc trao đổi tự do của chúng tôi trong thế giới tinh thần. Trên khuôn mặt cụ ánh lên nụ cười mãn nguyện.

Kỳ nghỉ hè vẫn chưa kết thúc, trước cửa có mấy đứa trẻ đang ngồi xổm trên nền xi măng chơi trò chơi. Hơi thở hồn nhiên, sống động của trẻ thơ tràn ngập không gian, khiến ông Vương Lực Bình thi thoảng quay đầu lại nhìn, rồi lại tiếp tục hào hứng trò chuyện.

Trước một người lúc nào cũng tươi cười như ông Vương, chúng tôi hoàn toàn không cảm thấy bầu không khí trang nghiêm, căng thẳng hay sự tranh biện sắc bén thường thấy khi bàn luận về những triết lý sâu xa. Ngược lại, cảm giác như đang nằm trên thảm cỏ xanh thẫm, thả lỏng thân tâm, ngước nhìn những đám mây trắng phiêu du trên bầu trời xanh biếc—tự do, thanh thoát, không bị bó buộc bởi bất cứ khuôn khổ nào. Tâm trí trở nên sáng suốt, thanh khiết, linh tuệ dạt dào, tự nhiên hòa vào cảnh sắc, cảm thấy thư thái, khoáng đạt, mát mẻ. Dường như lúc này đã thông suốt vạn vật trong vũ trụ, nhưng lại không khỏi tự hỏi trong thinh lặng: Tại sao trời đất lại như thế này? Bên ngoài trời đất còn có gì nữa không?

Nội tại khí chất của một người đã tu luyện thành tựu sẽ tự nhiên tỏa ra, hình thành một “từ trường” xung quanh họ, tác động và ảnh hưởng đến thế giới xung quanh. Trong quá trình khảo sát văn hóa Đạo gia, chúng tôi mơ hồ nhưng vô cùng rõ ràng cảm nhận được rằng, là một bộ phận quan trọng của văn hóa truyền thống Trung Quốc, giá trị của Đạo gia không chỉ nằm ở tu thân dưỡng tính, gửi gắm nhân sinh, hay truy cầu sự hài hòa, tĩnh lặng, siêu thoát. Khi thân tâm đạt đến cảnh giới “trạm nhiên thường tịch” (tĩnh lặng thường hằng), con người sẽ nhạy bén nhận ra rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa trí tuệ nhân loại, cảm nhận được sức hấp dẫn cổ xưa mà bao la của nó.

Ông Vương Lực Bình nói rằng, trong tương lai không xa, văn hóa phương Đông, bao gồm văn hóa Đạo gia, sẽ thu hút sự quan tâm lớn hơn của thế giới. Văn hóa Trung Hoa sẽ có cơ hội một lần nữa vươn lên. Đây là một trong những cơ hội hiếm hoi mà thời đại ban tặng cho Trung Quốc, chúng ta cần đặc biệt chú trọng và tận dụng triệt để.

Học tập văn hóa Đạo gia liên quan đến vấn đề “thể” và “dụng”. Trong quá trình phỏng vấn ông Vương Lực Bình, chúng tôi cũng luôn cố gắng làm rõ: đâu là phần tinh túy sống động nhất của trí tuệ Đạo gia? Đó có phải là tư tưởng biện chứng mộc mạc chứa đựng trong Đạo Đức Kinh như mọi người thường nghĩ không? Hay là phương pháp dưỡng sinh của Đạo gia, được xem là tinh hoa của nghệ thuật tu luyện? Những điều này chắc chắn đều có sức hấp dẫn lâu dài. Nhưng chúng tôi cho rằng điều quan trọng nhất vẫn là việc Đạo gia nỗ lực tối đa khai mở và tận dụng tiềm năng tư duy ẩn giấu trong não bộ con người.

Biển tư tưởng của con người cũng sâu thẳm, mênh mông như vũ trụ. Ai có thể tự do du ngoạn trong không gian vô tận ấy, người đó sẽ dẫn đầu dòng chảy trí tuệ của nhân loại!

Ngay từ ngày đầu tiên dạy dỗ ông Vương Lực Bình, ba vị đạo trưởng đã đặt việc giải phóng hoàn toàn những ràng buộc tư duy, khôi phục trạng thái tư duy nguyên sơ của con người làm bước nhập môn. Để kéo tư duy của một đứa trẻ mười ba tuổi thoát khỏi trạng thái có quỹ đạo, có hướng đi, trở về trạng thái tiên thiên vô định, ba vị lão nhân đã dốc hết tâm huyết, còn Vương Lực Bình cũng giống như người chèo thuyền ngược dòng, tiến thẳng về thượng nguồn.

Ba vị lão đạo dạy người, thô mộc mà sâu sắc.

Thiếu niên Vương Lực Bình đã khổ luyện “thu tâm dưỡng tính” suốt hai năm. Lúc đó, sư gia chỉ nói rằng đây là cách thuần hóa bản tính hoang dã của cậu bé, về lý luận công phu thì gọi là “hoàn nguyên” và “trúc cơ” (trở về bản nguyên và xây nền tảng). Nhưng sau một thời gian dài tu tập, Vương Lực Bình mới ngộ ra rằng luyện công chỉ là thứ yếu, rèn luyện tư duy mới là căn bản. Muốn hợp với Đạo, phải đạt đến cảnh giới “trạm nhiên thường tịch” thì mới có thể “cảm nhi toại thông” (cảm nhận mà thấu triệt).

Trong Lão Tử, có những luận giải sâu sắc về vấn đề này:

Chương 16:
“Chí hư cực, thủ tĩnh đốc. Vạn vật tịnh tác, ngô dĩ quan kỳ phục. Phu vật vân vân, các quy kỳ căn. Quy căn viết tĩnh, thị vị phục mệnh. Phục mệnh viết thường, tri thường viết minh. Bất tri thường, vọng tác hung.”

Chương 52:
“Thiên hạ hữu thủy, dĩ vi thiên hạ mẫu. Ký đắc kỳ mẫu, dĩ tri kỳ tử. Ký tri kỳ tử, phục thủ kỳ mẫu, một thân bất đãi.”

Hai chương này đã luận giải một cách tinh túy về đạo lý khi tư duy của con người trở về trạng thái nguyên sơ, từ đó có thể thấu triệt huyền cơ của vũ trụ.

“Hư cực” (cực kỳ trống rỗng) là bản thể của Đại Đạo hỗn nguyên vô cực, là cội nguồn của vạn vật. Khi ôm giữ nhất thể, thủ vững sự tĩnh lặng tuyệt đối, có thể quán chiếu sự quy hồi của vạn vật trong trời đất. Vạn vật trong vũ trụ dù biến hóa vô cùng, nhưng rốt cuộc vẫn trở về bản nguyên trong sự tĩnh lặng và hư vô. Khi tư duy nắm bắt được gốc rễ này, thì có thể suy luận ra muôn vàn sự lý phát sinh từ đó.

Đây chính là điều cổ nhân gọi là “cùng lý triệt nguyên, thức tâm đạt bản”—đào sâu lý lẽ, thấu triệt nguồn cội, nhận biết được tâm và đạt đến bản thể.

Nước có nguồn, cây có gốc. Con người suy tư về vạn sự vạn vật trên thế gian, vậy nguồn gốc tư duy của con người là gì? Bản nguyên tư duy đó là một vũng nước tù đọng hay là một cỗ máy vận hành vũ trụ đầy huyền cơ? Chỉ đơn thuần là sự phản ánh thụ động, hay còn sở hữu năng lực quán chiếu vạn vật?

Chính sự truy cầu và giải đáp những vấn đề này là tinh hoa của đại trí đại bi trong nền văn minh phương Đông.

Đạo gia giảng: “Vi học nhật ích, vi đạo nhật tổn. Tổn chi hựu tổn, dĩ chí ư vô vi. Vô vi nhi vô bất vi.” (Làm việc học thì ngày một tăng thêm, tu Đạo thì ngày một bớt đi. Bớt rồi lại bớt, đến mức không làm gì cả. Không làm mà không gì là không làm được.)

Lại nói: “Địch trừ huyền giám.” (Gột rửa tấm gương huyền diệu.)

Phật gia thì nói đến việc đột phá “nghiệp chướng” (chướng ngại do nghiệp lực). Bản chất của những điều này chính là loại bỏ mọi bụi trần che phủ tâm linh và tư duy con người suốt hàng nghìn năm, gột rửa mọi ham muốn tình cảm và những lớp tro bụi phủ lên tâm trí. Khi mọi chướng ngại vô hình ngăn cách giữa tâm chân thật của con người và thế giới bên ngoài bị loại bỏ, thì tâm trí con người sẽ trở nên sáng suốt như gương, trong trẻo như bầu trời mùa thu, có thể trực quan vũ trụ đúng như bản lai diện mục của nó.

Quá trình này chính là “giải niêm khứ phược” (tháo gỡ ràng buộc), thẳng thắn mà đi, không quanh co khúc khuỷu, không vướng bùn lầy.

Khi tiếp xúc với ông Vương Lực Bình, chúng tôi thường kinh ngạc trước phản ứng tư duy sắc bén và nhạy bén của ông. Khi có người hỏi về một vấn đề hoặc một căn bệnh, ông gần như không cần suy nghĩ, không cần cân nhắc, mà có thể trả lời một cách rõ ràng, chính xác ngay lập tức. Ông Vương Lực Bình nói rằng, Đạo gia huấn luyện tư duy, cốt lõi là phải rèn luyện trực giác.

Trực giác là một hình thức vận động cao cấp của tư duy, nhưng nó không thể học được từ kinh nghiệm hay kiến thức, mà chỉ có thể được củng cố dần dần trong quá trình tu luyện, sau đó chủ động vận dụng nó.

Những tri thức của Đạo gia phần lớn đều xuất phát từ thực hành tu luyện, muốn bước vào cánh cửa này, bắt buộc phải tu luyện. Có những điều không thể truyền đạt bằng lời nói hay chữ viết, mà chỉ có thể tự mình trải nghiệm và lĩnh hội.

Trực giác, đốn ngộ và linh cảm gần như là những trải nghiệm chân thực mà mỗi người đều từng có, không ai có thể phủ nhận sự tồn tại của chúng. Những người tu Đạo đặc biệt coi trọng tiềm năng tư duy này của con người.

Tĩnh có thể sinh huệ. Rất nhiều người kiên trì tĩnh tọa trong thời gian dài, tu luyện thuần thục, đều có trải nghiệm này.

Cái gọi là “bão nhất thủ đốc, tịch nhiên bất động” (giữ vững nhất thể, tĩnh lặng không dao động) không phải là ngồi lì bất động như khúc gỗ hay tảng đá.

*”Không” không có nghĩa là không có gì cả.
“Định” không có nghĩa là tất cả đều chết lặng.

Ngược lại, trong trạng thái “hư cực tĩnh đốc” (trống rỗng đến cực hạn, tĩnh lặng vững chắc) lại chứa đựng tất cả nguyên liệu tạo thành vạn vật, là tiền đề của sự sáng tạo. Đây chính là bản trạng nguyên sơ của tâm, là căn nguyên của bản tính con người.

Bởi vì nó trong suốt, thanh tịnh, hòa hợp cao độ, không mê lầm, không vọng tưởng, không chấp trước, không ràng buộc, tự nhiên vô vi—nên đây chính là trạng thái tối ưu của đại não con người. Khi đạt đến trạng thái này, mọi chức năng trí tuệ đều được khởi động.

Đôi khi, một ý nghĩ sẽ thoáng qua trong tâm trí tĩnh lặng, có thể là về một người, một sự kiện, xuất hiện rồi biến mất, không vướng mắc, không lưu lại. Nhưng sau khi thu công, chẳng bao lâu sau, người ta sẽ ngạc nhiên phát hiện ra rằng ý nghĩ chợt lóe lên trong lúc tĩnh tọa lại xuất hiện trong thực tế—có thể thực sự có người đến tìm, có thể có sự việc phát sinh, hoặc một vấn đề đã suy nghĩ bấy lâu không tìm ra cách giải quyết bỗng dưng tìm được đáp án.

Khi những hiện tượng này xảy ra hết lần này đến lần khác, ngay cả người chậm hiểu nhất cũng sẽ dần nhận ra và suy ngẫm về điều đó.

Đối với những người đã tu luyện thuần thục, ngay cả khi họ không tĩnh tọa, mà đang làm việc bận rộn căng thẳng, chỉ cần họ giữ được tâm thái siêu thoát, an hòa, tĩnh lặng, thì trong đầu họ vẫn liên tục nảy sinh nhiều linh cảm.

Người viết cuốn sách này đã nhiều lần trò chuyện với các học viên lâu năm của ông Vương Lực Bình, và tất cả đều ngầm hiểu về điều này.

Họ ít nhất cũng có chung một nhận thức:
“Chí hư cực, thủ tĩnh đốc” chính là một trạng thái cao cấp của tư duy con người; linh cảm được sinh ra từ đó; tư duy trực giác không phải là thứ không thể nắm bắt, mà hoàn toàn có thể tu luyện.

Câu nói “trạm nhiên thường tịch, cảm nhi toại thông” (lặng lẽ thường hằng, cảm nhận mà thấu triệt) trong Đạo gia chính là sự khái quát cao độ về tư duy trực giác.

Nếu kết hợp với lý thuyết về ý thức và vô thức của trường phái phân tâm học phương Tây, thì việc nghiên cứu nguồn gốc của tư duy sẽ càng sâu sắc hơn.

Chúng ta có thể cho rằng, trạng thái hư cực tĩnh đốc, phản bổn quy chân (trống rỗng đến cực hạn, trở về bản nguyên chân thực) rất giống với việc tiến vào trạng thái vô thức của não bộ con người.

Sigmund Freud cho rằng vô thức là một lĩnh vực rộng lớn hơn nhiều so với ý thức. Mọi trải nghiệm, cảm giác, ký ức, thông tin của con người đều được lưu trữ tại đây, chỉ khi có điều kiện nhất định mới biểu hiện ra thành ý thức và được nhận biết.

Carl Jung đã phát triển lý thuyết về vô thức, đề xuất khái niệm “vô thức tập thể”, cho rằng trong vô thức của con người không chỉ chứa đựng thông tin cá nhân, mà còn kế thừa những trải nghiệm và dữ liệu của tổ tiên qua nhiều thế hệ.

Nếu tiếp tục truy cứu đến tận cùng, chúng ta có thể đưa ra một giả thuyết:
Trong vô thức của con người có lẽ đã ghi chép lại toàn bộ lịch sử của sự sống nhân loại, thậm chí cô đọng cả lịch sử khởi nguyên và tiến hóa của vũ trụ.

Bản thân đại não con người chính là một kho báu thiên nhiên chứa đựng thông tin và trí tuệ của vũ trụ.

Trong “Trí Năng Công” của Long Môn phái có một phương pháp gọi là “Hồi Anh Ức Vãng” (quay về tuổi thơ, hồi tưởng quá khứ).

Phương pháp này yêu cầu người tu luyện tĩnh tọa sâu, hồi tưởng ngược lại toàn bộ ký ức của bản thân, tái hiện tất cả trải nghiệm trong đời giống như đang xem một bộ phim quay ngược.

Khi ông Vương Lực Bình truyền dạy phương pháp này tại chùa Hương Giới ở Bát Đại Xứ, Bắc Kinh, rất nhiều người đã nhớ lại những sự kiện mà họ tưởng chừng đã quên từ lâu. Có những người lớn tuổi thậm chí còn phát ra âm thanh khóc oe oe như trẻ sơ sinh.

Vậy hồi tưởng này có thể quay ngược về đến đâu?

Ông Vương Lực Bình nói rằng, theo sự tiến bộ của công phu, với sự gia tăng của mức độ nhập tĩnh, khả năng hồi tưởng này gần như vô hạn.

Con người có thể nhớ lại những cảnh tượng trước khi mình được sinh ra.

Hơn nữa, mỗi khi đạt đến một tầng công phu cao hơn, người tu luyện sẽ phải trải qua một quá trình gọi là “thoát xác” (nguyên văn giữ nguyên vì tác giả chưa hoàn toàn hiểu rõ ý nghĩa).

Sau mỗi lần thoát xác, người tu luyện có thể nhìn xa hơn trên dòng thời gian, rồi lại tiếp tục thoát xác để nhìn xa hơn nữa.

Điều này có thể có nghĩa rằng, vô thức của con người cũng được chia thành nhiều tầng lớp, mỗi tầng lưu trữ một lượng thông tin nhất định, và các tầng này được sắp xếp theo một quy luật nhất định.

Nói cách khác, tiềm thức của con người là có trật tự.

Phật gia cũng rất chú trọng đến việc truy cứu những trải nghiệm tiền kiếp của con người.

Ông Vương Lực Bình nói rằng, trong cuộc sống hằng ngày, ông sử dụng tư duy trong giấc mơ nhiều nhất.

Khi gặp phải những ca bệnh khó, không biết phải dùng phương pháp nào để chữa trị, hoặc khi có người hỏi một vấn đề mà ông chưa từng học qua hay tiếp xúc, hay khi ông cần lên kế hoạch cho bài giảng ngày hôm sau, hoặc cần suy nghĩ để viết một bài báo—ông chưa bao giờ ngồi trước bàn mà vắt óc suy nghĩ, mà chỉ đơn giản là nằm xuống giường, định ra vấn đề trong đầu, rồi từ từ chìm vào giấc ngủ.

Lúc này, trong giấc mơ, dường như bộ não của ông tự động vận hành.

Khi tỉnh dậy, ông xoa mặt, rồi ghi lại tất cả những gì mình đã nghĩ trong mơ—và đó chính là đáp án cho vấn đề cần giải quyết.

Một nhà khoa học từng nói:
“Những gì cản trở con người nhận thức thế giới không phải là những điều chưa biết, mà chính là những điều đã biết.”

Suốt hàng ngàn năm, con người đã tích lũy vô số tri thức, và từ đó hình thành những khuôn mẫu tư duy cố định.

Những thứ có thể giải thích được bằng tư duy hiện có sẽ được tiếp nhận, còn những thứ không thể giải thích được thì bị loại bỏ.

Dần dần, tư duy con người trở thành một pháo đài kiên cố, biến bộ não đầy tiềm năng và sống động của con người thành một cỗ máy vận hành theo lập trình cố định.

Trong Phật giáo, điều này được gọi là “sở tri chướng”—chướng ngại do tri thức tạo ra.

Tư duy biện chứng và tư duy logic có những giá trị riêng trong việc nhận thức thế giới, nhưng não bộ con người còn có một phương thức tư duy cao cấp và hoàn thiện hơn.

Đạo gia chính là nỗ lực phá vỡ mọi ràng buộc của tư duy, giúp tư duy đạt đến đại tự do, đại siêu thoát—như mây trôi nước chảy, như ngựa trời phi nước đại, phóng túng mà phóng khoáng, tỏa sáng rực rỡ.

Chúng tôi trò chuyện với ông Vương Lực Bình, quên cả thời gian, không hề cảm thấy oi bức, tiếng ồn ào ngoài đường cũng dần xa vắng.

Trước mặt chúng tôi, ly trà trong vắt đã bốc hết hơi nóng, lá trà lặng lẽ mở ra dưới đáy cốc.

Ông Vương Lực Bình nhắc chúng tôi uống nước, rồi gọi ra ngoài cửa:
“Bác Dương, rửa ba quả táo mang vào đây!”

Cậu con trai của ông đáp lại một tiếng, rồi bưng một đĩa ba quả táo căng mọng đi vào.

Cậu bé trông rất khôi ngô, vẫn còn nét ngây thơ trẻ con, có chút dè dặt khi gặp người lạ.

Cậu nhìn quanh, thấy có bốn người ngồi trong phòng, bèn nói:
“Bố ơi, có bốn người mà bố bảo con lấy ba quả táo, thiếu mất một quả rồi!”

Ông Vương Lực Bình mỉm cười nói:
“Không thiếu đâu, con thử nghĩ xem phải chia thế nào?”

Bác Dương ngồi xổm xuống, nhìn chằm chằm vào ba quả táo trên bàn trà, suy nghĩ đăm chiêu.

Ông Vương Lực Bình vẫn mỉm cười quan sát con trai:
“Con thấy không, tư duy của con đang bị ràng buộc theo một hướng rồi đấy. Con chỉ nghĩ đến chuyện mỗi người ăn một quả táo, mà không nghĩ rằng bốn người cũng có thể ăn chung ba quả táo.”

Nghe vậy, Bác Dương chợt hiểu ra, cậu bé tinh nghịch nháy mắt với cha mình, rồi cầm lấy dao cắt trái cây, chia mỗi quả táo thành bốn phần.

Sau đó, cậu chỉ vào ba miếng nhỏ nhất trong số mười hai miếng và nói:
“Bố ơi, bố ăn ba miếng này nhé!”

Ông Vương Lực Bình xoa đầu con trai, cười nói:
“Lại giở chiêu trò với bố rồi!”

Bác Dương phân chia táo xong, liền chạy ù ra ngoài chơi tiếp.

Ông Vương Lực Bình vừa ăn táo vừa hỏi chúng tôi:
“Các anh nhìn căn phòng này, có bao nhiêu góc?”

Chúng tôi đáp ngay:
“Bốn góc!”

Ông Vương Lực Bình cười nói:
“Còn những góc bên dưới thì sao?”

Chúng tôi ngẩn người, rồi vội đáp:
“À, tám góc!”

Ông lắc đầu:
“Còn nhiều hơn thế nữa! Hồi nhỏ, tôi đã tốn không ít thời gian để đếm số góc của căn phòng.”

Câu chuyện này khiến chúng tôi thích thú, liền mời ông kể tiếp.

Ông Vương Lực Bình nói:

*”Thông thường, tư duy con người bị cố định trong một khuôn khổ: lấy bản thân làm trung tâm, từ đó quan sát và suy nghĩ về thế giới xung quanh. Nhưng vũ trụ là đa hướng, đa chiều, thậm chí có thể nói rằng nó không có phương hướng cố định.

Sư gia và sư phụ tôi đã nghĩ ra rất nhiều cách để thay đổi cảm giác phương hướng trong tư duy của tôi.”*

Ban đầu, ba vị đạo trưởng yêu cầu cậu bé Vương Lực Bình học cách trồng cây chuối (đứng bằng tay, đầu chúc xuống đất).

Thông thường, chúng ta luôn đứng thẳng để nhìn thế giới. Nhưng nếu đảo ngược lại, nhìn mọi vật từ góc độ đầu chúc xuống đất, thì thế giới sẽ trông như thế nào?

Ban đầu, Vương Lực Bình phải dựa vào tường hoặc thân cây để giữ thăng bằng, nhưng về sau, không cần dựa vào bất cứ thứ gì, cậu có thể tự mình trồng cây chuối hàng giờ, quan sát yên tĩnh cảnh vật xung quanh—núi non, cây cối, nhà cửa, ruộng đồng, cột điện.

Lúc đầu, cậu cảm thấy mọi vật đều bị đảo lộn, nhưng dần dần, cảm giác lộn ngược này biến mất, tất cả cảnh vật lại trở về bình thường.

Qua bài tập tưởng như đơn giản này, Vương Lực Bình hiểu ra rằng thế giới bên ngoài vốn không hề thay đổi, chỉ có tư duy của con người thay đổi mà thôi.

Ông thường nói:
“Vạn vật là bất biến, nhưng tư duy của con người là linh hoạt.”

Sau đó, sư phụ nhốt Vương Lực Bình vào một căn phòng, giao cho cậu một bài toán:
“Đếm xem căn phòng này có bao nhiêu góc?”

Lúc ấy, cậu bé Vương Lực Bình khoảng mười bốn, mười lăm tuổi, liền ngồi bệt xuống sàn nhà, bắt đầu đếm một cách cẩn thận.

Cậu đếm tới đếm lui nhiều lần, vẫn chỉ thấy tám góc.

Sư phụ nghe vậy, bèn cười trêu chọc cậu:
“Lại đếm thử xem nào!”

Cậu bé Vương không cam chịu, lại tiếp tục quan sát, nghiền ngẫm, nhưng vẫn chỉ tìm ra tám góc.

Trong khi cậu còn đang vò đầu bứt tai, thì sư gia đứng ngoài cửa sổ, vuốt râu mỉm cười nói:
“Đồ đệ à, bây giờ là con đang nhìn ta, hay ta đang nhìn con?”

Nói xong, sư gia liền rời đi.

Vương Lực Bình vốn có căn cơ lĩnh ngộ rất tốt, lập tức ngộ ra đạo lý—mỗi góc bên trong đều có một góc bên ngoài đối ứng, các góc của căn phòng vốn là lập thể.

Từ trước đến giờ, cậu chỉ nhìn từ trong ra ngoài, nhưng chưa bao giờ nghĩ đến việc đảo ngược lại góc nhìn, từ ngoài nhìn vào trong.

Vậy là cậu đã phá vỡ tư duy một chiều, bắt đầu hiểu cách suy nghĩ theo nhiều hướng khác nhau.

Ba vị đạo trưởng khi đào tạo Vương Lực Bình không hề dùng những bài giảng lý thuyết khô khan, cũng không nhồi nhét kiến thức, mà để ông tự mình trải nghiệm, tự mình ngộ đạo.

Họ cố gắng rèn luyện tư duy của ông theo cách mà vũ trụ vận hành—vận động không có phương hướng cố định, không có giới hạn, không bị ràng buộc.

Sau này, để tiếp tục rèn luyện tư duy phi tuyến tính, ba vị đạo trưởng nhốt ông vào một chiếc lồng hình cầu, làm bằng các nhánh cây bện lại.

Bên ngoài lồng, họ trét kín bùn đất, khiến bên trong hoàn toàn tối đen, không thể phân biệt trên dưới, trái phải, đông tây nam bắc.

Sau đó, họ treo chiếc lồng lên cao, làm nó đung đưa, xoay tròn.

Khi lồng ngừng xoay, sư phụ chọc một lỗ nhỏ trên vách lồng, để một tia sáng lọt vào, rồi hỏi:
“Đây là phương hướng nào?”

Vương Lực Bình theo thói quen mà trả lời:
“Trên!”

Ngay lập tức, sư phụ xoay lồng ngược lại, chọc thêm một lỗ nữa, lại hỏi:
“Thế còn bây giờ?”

Lúc này, Vương Lực Bình vẫn theo thói quen mà trả lời:
“Dưới!”

Cứ như vậy, mỗi lần chọc một lỗ, sư phụ lại bắt ông xác định phương hướng.

Đến khi chiếc lồng bị quay vòng liên tục, Vương Lực Bình bắt đầu thấy chóng mặt, mất phương hướng, không còn biết đâu là trên, đâu là dưới.

Cuối cùng, cậu ngộ ra một đạo lý:
“Vũ trụ vốn không có phương hướng tuyệt đối. Không có trên dưới, không có trái phải, không có trong ngoài, không có trước sau. Những thứ con người gọi là phương hướng chỉ là tương đối mà thôi.”

Sau khi tư duy đa hướng của Vương Lực Bình đã được khai mở, sư phụ mới bắt đầu truyền dạy Kỳ Môn Độn Giáp cho ông.

Bởi vì, nếu không có ý thức không gian lập thể, thì rất nhiều phép toán và cách cục trong Kỳ Môn Độn Giáp sẽ không thể suy diễn ra được.

Ba vị đạo trưởng không chỉ đào tạo Vương Lực Bình qua những bài tập đặc biệt, mà ngay cả trong đời sống hàng ngày, họ cũng không ngừng dẫn dắt và rèn luyện tư duy cho ông.

Bốn thầy trò thường xuyên đố vui, thử trí lẫn nhau, khiến ông luôn giữ được tư duy linh hoạt, sắc bén, không bao giờ cứng nhắc hay khuôn mẫu.

Một sáng nọ, sư gia nhìn vào chum nước, rồi quay sang nhìn Vương Lực Bình, kéo dài giọng nói:
“Tiểu Nhất, cái chum này sao mà—”

Sư gia chỉ nói nửa câu rồi ngừng lại, không nói tiếp.

Vương Lực Bình không hiểu, bèn cũng nhìn vào chum nước.

Thấy trong chum không còn nước, ông liền nói:
“Chum nước đã cạn rồi!”

Ngay lập tức, sư gia liền tiếp lời:
“Vậy thì con đi gánh nước đi!”

Vương Lực Bình không thể từ chối, đành phải xách thùng đi lấy nước.

Sau này, ông mới nhận ra rằng đây là cách sư gia rèn luyện phản ứng tư duy của mình, xem thử ông có đủ nhanh nhạy hay không.

Về sau, Vương Lực Bình cũng học cách dẫn dắt và thử trí sư gia, sư phụ.

Khi cơm chín, sư gia vẫn đang tọa công trên giường đất.

Vương Lực Bình nhanh nhẹn nói:
“Sư gia, thầy cứ ngồi yên đó đi, để con mang cơm đến cho thầy.”

Nói xong, ông múc một bát cơm, đưa đến trước mặt sư gia.

Nhưng thay vì đưa tận tay, ông đặt bát cơm ở vị trí mà sư gia không với tới, rồi quay lưng bỏ đi.

Sư gia gọi ông, nhưng ông giả vờ không nghe thấy.

Không còn cách nào khác, cụ ông phải thôi ngồi kiết già, tự đứng dậy lấy cơm.

Chúng tôi nghe ông Vương Lực Bình kể về những câu chuyện thú vị giữa ông và ba vị đạo trưởng mà cảm thấy vô cùng thích thú.

Đúng lúc ấy, một bà cụ hàng xóm dắt theo cậu con trai nhỏ của ông Vương bước vào.

Bà cụ cười nói:
“Lực Bình à, Bác Dương đang đào tường nhà bác đây này!”

Bác Dương—cậu bé con trai nhỏ của ông Vương—tay cầm một chiếc búa nhỏ, mồ hôi nhễ nhại, rụt rè bước đến.

Cậu bé Bác Dương cầm chiếc búa nhỏ, mồ hôi lấm tấm trên trán, bước đến trước mặt ông Vương Lực Bình.

Ông Vương lập tức xin lỗi bà cụ hàng xóm:
“Thật ngại quá! Thằng bé nghịch ngợm, làm phiền bác rồi!”

Bà cụ mỉm cười xua tay:
“Không sao, không sao! Tôi chỉ báo cho anh biết thôi, để còn dạy bảo nó.”

Nói xong, bà cụ quay đi. Nhìn thái độ thân thiện ấy, có thể thấy mối quan hệ hàng xóm của họ rất tốt đẹp.

Cậu bé Bác Dương cúi đầu, tỏ vẻ có lỗi, nhưng ông Vương không hề mắng mỏ con trai, mà thay vào đó, ông tỏ ra còn hào hứng hơn cả cậu bé.

Ông không nói gì, chỉ bước ra gian bếp nhỏ phía sau, di chuyển chiếc rổ đựng rau sang một bên, rồi chỉ vào bức tường vôi trắng, nói với con trai:
“Nào, con đào thử ở đây xem!”

Cậu bé chẳng nói chẳng rằng, liền ngồi xổm xuống, hăng hái đào tiếp.

Nhìn cảnh tượng ấy, người viết cuốn sách này ngạc nhiên đến sững sờ, không hiểu ông Vương rốt cuộc có ý gì.

Một lúc sau, Bác Dương đã đào rơi một mảng tường to bằng đáy chậu rửa mặt. Trên mặt cậu lấm lem vôi trắng, nhưng đôi mắt thì lấp lánh hứng khởi.

Cậu bé reo lên:
“Bố ơi, con biết rồi! Bên trong là gạch đỏ, giữa các viên gạch có cát mịn!”

Ông Vương hỏi:
“Vậy con đã hiểu chưa?”

Cậu bé hào hứng gật đầu.

Lúc này, chúng tôi mới hiểu được dụng ý của ông Vương.

Ông không cấm con trai khám phá, mà dùng phương pháp của Đạo gia để dạy dỗ.

Ông Vương Lực Bình giải thích:

“Sư gia ta ngày trước thường nói: ‘Chơi đùa cũng là thầy ta.’”

Câu nói này phản ánh tinh thần tôn trọng tự nhiên của Đạo gia.

Toàn bộ bí quyết tu luyện của Đạo gia chính là giúp con người quay trở lại trạng thái tiên thiên, đây chính là điều mà người ta gọi là “phản lão hoàn đồng”, hay như Lão Tử đã nói: “Khả đắc phu anh nhi hồ?” (Có thể trở lại như trẻ sơ sinh được không?).

Nhưng đây không phải là một sự quay về đơn thuần, mà là một sự trở lại ở tầng cao hơn—không chỉ trên thân thể, mà còn cả trong tâm trí và tinh thần.

Tư duy của trẻ nhỏ chính là “tư duy tự nhiên”.

Nó chân thật nhất, tự do nhất, không bị trộn lẫn tạp niệm của con người, không bị xã hội “ô nhiễm”, mà giữ được sự trong sáng, thuần khiết như vốn có.

Vì thế, khi giáo dục trẻ em, điều quan trọng không phải là áp đặt suy nghĩ của người lớn lên trẻ, mà là bảo vệ sự tự nhiên của chúng, nuôi dưỡng sự phát triển tự do của trí tuệ trẻ em.

Không nên kìm hãm trẻ, không nên bó buộc chúng theo khuôn khổ, càng không nên ép buộc chúng phải suy nghĩ theo mô hình của người lớn.

Ngược lại, chúng ta—những người đã trưởng thành—còn cần phải học lại từ trẻ em những gì chúng ta đã đánh mất trong quá trình trưởng thành.

Ông Vương Lực Bình luôn tôn trọng bản tính tự nhiên của con trai, giữ gìn tâm trí thuần khiết của nó, giúp nó phát triển trí tuệ một cách tự do.

Chính vì vậy, khi đối mặt với các vấn đề, Bác Dương thường có cách suy nghĩ khác hẳn những đứa trẻ khác, đôi khi đưa ra những câu hỏi rất kỳ lạ.

Ví dụ, trong một tiết học “Tri thức phổ thông” trên lớp, giáo viên nói:
“Mỗi sáng, mặt trời mọc từ hướng đông, đánh dấu sự khởi đầu của một ngày mới.”

Cả lớp đều đồng thanh đọc theo giáo viên.

Chỉ riêng Bác Dương đứng dậy hỏi:
“Tại sao mặt trời không mọc từ hướng tây?”

Giáo viên không biết trả lời thế nào, vì ngay cả những nhà khoa học vĩ đại nhất cũng chưa giải thích được một cách hoàn toàn thấu đáo.

Câu hỏi này có thể dẫn đến một chuỗi suy luận sâu sắc hơn, thậm chí mở ra cánh cửa của những khám phá khoa học vĩ đại.

Một lần khác, sau giờ tan học, Bác Dương bước vào nhà với vẻ mặt bực bội.

Ông Vương hỏi:
“Có chuyện gì thế con?”

Cậu bé phụng phịu nói:
“Con cao, nên phải đứng cuối hàng. Nhưng tại sao lúc nào giáo viên cũng bảo ‘hướng bên phải nhìn thẳng’? Sao không bảo ‘hướng bên trái nhìn thẳng’?”

Sự hồn nhiên của trẻ nhỏ làm cả nhà cười nghiêng ngả, nhưng ông Vương hiểu rằng chính những tâm trí như vậy mới ẩn chứa hạt giống của trí tuệ.

Có lần, trường của Bác Dương tổ chức hội thao, phụ huynh được mời đến xem.

Khi đám trẻ nhìn thấy cha mẹ mình, tất cả đều vui vẻ reo lên:
“Bố ơi!” “Mẹ ơi!”

Duy chỉ có một đứa trẻ giữa đám đông hét lớn:
“Vương Lực Bình! Vương Lực Bình!”

Không cần phải nói, ai cũng biết đó là Bác Dương.

Sự việc này khiến cả lớp học sinh, giáo viên và các bậc phụ huynh đều vô cùng kinh ngạc.

Trên đường về nhà, ông Vương hỏi con trai:
“Tại sao con không gọi ‘bố ơi’ như những đứa trẻ khác, mà lại gọi thẳng tên bố?”

Cậu bé hồn nhiên đáp:
“Bố thấy không, ai cũng mặc đồng phục giống nhau, nếu tất cả đều gọi ‘bố ơi’, ‘mẹ ơi’, thì làm sao phân biệt được ai với ai? Nhưng nếu con gọi thẳng tên bố, thì bố nhận ra ngay mà!”

Ông Vương vô cùng vui mừng, vì con trai mình vẫn giữ được tư duy độc lập, không bị khuôn mẫu gò bó.

Tuy nhiên, ông cũng có chút lo lắng:

*”Dạo này, vì công việc bận rộn, ta thường xuyên vắng nhà, không còn sát sao việc dạy dỗ con trai nữa.

Ở trường, cách dạy học đang dần khiến suy nghĩ của thằng bé đi vào khuôn khổ.

Nhưng thế giới này, vốn dĩ không có phương hướng cố định.

Khi đi thẳng về phía trước, phía trước là trước mặt, nhưng khi quay người lại, phía trước lại trở thành phía sau.

Vậy thì, cái gọi là ‘phương hướng’ có thực sự tồn tại không?”*

Từ đó, ông Vương bàn về khuyết điểm của nền giáo dục hiện đại:

Càng học lên cao, phạm vi tư duy của con người càng thu hẹp lại.

Hồi tiểu học và trung học, học sinh học rất nhiều môn: thiên văn, địa lý, lịch sử, toán học, vật lý, hóa học, sinh học, nghệ thuật, âm nhạc… Thế giới tri thức vô cùng rộng lớn.

Nhưng khi lên cấp ba, học sinh bị phân ban, chỉ học văn hoặc tự nhiên, tư duy đã bị thu hẹp lại.

Lên đại học, sinh viên lại bị chuyên môn hóa, chỉ tập trung vào một ngành nghề nhất định.

Đến khi học lên thạc sĩ, tiến sĩ, họ càng đi sâu vào một lĩnh vực cực kỳ nhỏ, không còn nhìn thấy bức tranh tổng thể.

Hệ thống giáo dục giống như một kim tự tháp, càng lên cao, tư duy càng bị bó hẹp.

Ngược lại, Đạo gia có một cách giáo dục hoàn toàn khác:

Càng tu luyện lên cao, tư duy con người càng rộng mở, không chỉ bao trùm thiên địa nhân, mà còn vươn xa hơn, chạm đến thời gian, không gian, vũ trụ.

Đây chính là tư duy ba giới, là triết học của Đạo gia.

Người viết sách hỏi:
“Trong kinh Phật có câu: ‘Ư nhất hào đoan, kiến thập phương sát.’ (Trong một hạt bụi, thấy mười phương thế giới). Ý nghĩa có phải cũng giống vậy không?”

Ông Vương Lực Bình mỉm cười gật đầu.

Kết thúc

Đón Chào Bình Minh Mới Của Văn Hóa Phương Đông

Trong vài thế kỷ phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ phương Tây, văn hóa phương Đông đã bị lu mờ.

Lòng ham muốn vật chất của con người, được thúc đẩy bởi sự phát triển của năng suất do khoa học hỗ trợ, đã đạt đến một tầm cao chưa từng có trong lịch sử. Lòng ham muốn ấy vẫn đang tiếp tục phát triển với tốc độ ngày càng nhanh.

Con người vừa tận hưởng hạnh phúc của cuộc sống, vừa trải qua những nỗi đau chưa từng có.

Đây là một thời đại vừa có văn hóa, lại vừa không có văn hóa.

“Phương Đông không sáng, phương Tây sáng.”

Tuy nhiên, đã có một số bậc trí giả nhận thấy rằng, ánh sáng bình minh của phương Đông đang dần ló dạng.

Không lâu nữa, thế giới sẽ chứng kiến một vùng trời phương Đông cổ xưa nhưng đầy sức sống mới, nơi ánh sáng rực rỡ của nền văn hóa truyền thống đang bừng sáng một lần nữa.

Con Người Đang Rơi Vào Ngõ Cụt

Trong thời đại khoa học phát triển vượt bậc, nhân loại lại rơi vào khủng hoảng.

Khoa học không thể tiến lên theo chính logic của nó một cách vô hạn.

Chúng ta đã chứng kiến những thành tựu vĩ đại mà khoa học hiện đại đạt được, nhưng tất cả những thành tựu đó vẫn bị giới hạn trong chính khuôn khổ logic của nó.

Khoa học tự vẽ ra cho mình một vòng tròn, đặt ra một ranh giới, và nó không thể tự mình vượt qua giới hạn đó.

Hình thức tồn tại của vật chất là gì? Hình thức vận động của vật chất là gì?

Những câu hỏi này khiến nhiều nhà khoa học đau đầu.

Vận tốc ánh sáng dường như là một giới hạn đối với giới khoa học.

Nhưng liệu tất cả ánh sáng có thực sự tuân theo một giá trị cố định không?

Ngay cả khi ta chấp nhận rằng vận tốc ánh sáng là một hằng số, thì liệu tốc độ chuyển động của vật chất có thể vượt qua nó không?

Có thứ gì tồn tại với vận tốc còn nhanh hơn ánh sáng không?

Khoa Học Và Giới Hạn Của Nó

Khoa học đã có những bước tiến lớn trong lĩnh vực nghiên cứu cơ thể con người, nhưng những thành tựu này cũng chỉ giới hạn trong khuôn khổ mà khoa học đặt ra.

Khoa học dường như đã chạm đến một khía cạnh khác của con người, nhưng lại không đủ dũng khí để thừa nhận sự tồn tại của nó.

Chỉ một số ít các nhà khoa học vẫn đang miệt mài nghiên cứu vấn đề này, và thậm chí họ còn phải đấu tranh để bảo vệ quyền tồn tại của mình trong giới khoa học.

Những gì chúng ta nói đến ở đây chính là nhận thức về tinh thần con người.

Tôn Giáo Và Khoa Học – Hai Thế Lực Tách Biệt?

Về vấn đề này, tôn giáo và khoa học đã đứng trên hai chiến tuyến đối lập nhau trong một thời gian dài.

Tại một số thời điểm trong lịch sử, hai thế lực này thậm chí còn xung đột gay gắt.

Nhưng khoảng thời gian ấy rất ngắn ngủi và đã qua đi.

Ngày nay, ngày càng nhiều người nhận ra rằng tôn giáo và khoa học cần bổ sung cho nhau.

Như Einstein từng nói:

“Khoa học không có tôn giáo thì què quặt; tôn giáo không có khoa học thì mù lòa.”

Đạo gia cho rằng, câu nói này của Einstein có một ý nghĩa rất sâu sắc.

Khoa Học Đang Mất Phương Hướng

Hiện tại, khoa học đang rơi vào tình trạng thiếu một định hướng rõ ràng từ triết học hiện đại.

Nó không có một lối thoát đúng đắn.

Bên cạnh đó, việc ứng dụng thành tựu khoa học cũng là một vấn đề nghiêm trọng.

Chúng ta không cần phải liệt kê những sai lầm to lớn mà nhân loại đã gây ra khi ứng dụng khoa học, cũng như những hậu quả khủng khiếp mà nó để lại.

Nhiều nhà khoa học tự nhiên và xã hội đã liên tục đưa ra những cảnh báo, và ngày càng có nhiều tiếng nói mạnh mẽ vang lên mỗi ngày.

Nhưng như nhà sử học Arnold Toynbee đã nói:

“Những hậu quả xấu do khoa học gây ra không thể được giải quyết chỉ bằng khoa học.”

Nhân Loại Cần Một Thế Giới Quan Mới, Một Nền Văn Hóa Mới

Trong thời đại khoa học phát triển này, sự tồn tại của con người đang bị đe dọa.

Mối đe dọa ấy không chỉ đến từ thiên tai, mà còn đến từ chính con người.

Nhà tâm lý học Carl Jung đã nói một cách sắc bén hơn:

*”Cho đến ngày nay, chúng ta có thể nhìn thấy rõ hơn bao giờ hết rằng thảm họa đe dọa toàn thể nhân loại không đến từ thiên nhiên, mà đến từ chính con người—từ tâm trí cá nhân và tâm trí tập thể của nhân loại.

Chính sự rối loạn của tinh thần con người là mối nguy hiểm lớn nhất.”*

(Trích từ “Hồi Ức, Giấc Mơ, Suy Tư” – Tự truyện của Jung, trang 227, Nhà xuất bản Nhân dân Liêu Ninh, 1988.)

Phương Đông Đang Tỏa Sáng Một Lần Nữa

Chúng ta đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng do máy móc gây ra, do khoa học gây ra.

Nhân loại cần một thế giới quan mới. Nhân loại cần một nền văn hóa mới.

“Phương Tây không sáng, phương Đông sáng.”

Carl Jung từng nói:

“Bóng tối nguyên thủy của tinh thần vẫn bao phủ mặt đất, giống như hàng triệu năm trước đây. Nhưng ánh bình minh của phương Đông đang dần ló dạng.”

Đây chính là bình minh mới của văn hóa phương Đông.

Hãy cùng nhau đứng dậy, đón chào ánh sáng bình minh ấy!

Lời Chú Thích

Những tư tưởng và quan điểm được trình bày trong cuốn sách này, cũng như các nguyên lý, phương pháp thực hành công phu và những hiện tượng đặc biệt xảy ra trong quá trình tu luyện cơ thể, đều dựa trên lời kể của ông Vương Lực Bình.

Tuy nhiên, một số tình tiết trong sách đã được xử lý theo hướng văn học, chứ không nghiêm ngặt như một bản báo cáo khoa học.

Người viết cuốn sách này chỉ nhấn mạnh vào việc liệu bản chất của tư tưởng và sự kiện có được truyền đạt chính xác đến độc giả hay không.

Nếu đạt được điều đó, thì nhiệm vụ của chúng tôi coi như đã hoàn thành.

Sau khi đọc xong cuốn sách này, độc giả đã có được một cái nhìn tổng thể về quá trình trưởng thành của một bậc cao nhân Đạo gia.

Có thể nhiều độc giả sẽ đặt ra những yêu cầu cao hơn, chẳng hạn như:

  • Muốn có hướng dẫn chi tiết về những công pháp được đề cập trong sách.
  • Muốn nhân vật chính của sách phân tích sâu hơn về những vấn đề đã nêu ra.

Những yêu cầu này sẽ dần được đáp ứng trong các sách tiếp theo.

Người viết xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người đã góp phần vào việc biên soạn và xuất bản cuốn sách này.

Đặc biệt là:

  • Bà Thạch Phượng Lan, cán bộ Bộ Ngoại giao.
  • Bà Giang Anh, Phó Tổng Giám đốc khách sạn Kim Thành, tỉnh Liêu Ninh, cùng toàn thể đồng nghiệp.

Tác giả
Ngày 19 tháng 9 năm 1900

0
FacebookTwitterPinterestEmail
troinguyen

Bài trước
KINH NGHIỆM DANH Y ĐIỀU TRỊ HEN PHẾ QUẢN MÃN TÍNH
Bài sau
HUYỆT VỊ SIÊU ĐẶC HIỆU ĐIỀU TRỊ LÁCH TO

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ...

02/11/2025

TƯ TƯỞNG TU LUYỆN ĐẠO GIÁO TỪ NGOẠI...

31/10/2025

ĐẠO ĐỨC KINH

20/10/2025

TẨU HỎA NHẬP MA LÀ GÌ?

19/02/2025

CÁC PHƯƠNG PHÁP HÍT THỞ TRONG KHÍ CÔNG

19/02/2025

KHÍ CÔNG LÀ GÌ

19/02/2025

GIÁ TRỊ CỦA DƯỠNG SINH ĐÔNG Y GIỮA...

12/01/2022

TÌM KIẾM NỘI DUNG

NỘI DUNG MỚI NHẤT

  • NÉT ĐẶC SẮC HOẢ CHÂM CỦA QUỐC Y ĐẠI SƯ HẠ PHỔ NHÂN

    03/02/2026
  • TỔNG QUAN VỀ LIỆU PHÁP HOẢ CHÂM TRONG ĐÔNG Y

    03/02/2026
  • ĐẶC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP CHÍCH MÁU – ĐẶC SẮC CỦA ĐỔNG THỊ

    02/02/2026
  • LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TRIẾT HỌC ĐẠO GIA

    02/11/2025
  • TƯ TƯỞNG TU LUYỆN ĐẠO GIÁO TỪ NGOẠI ĐAN ĐẾN NỘI ĐAN

    31/10/2025

TỔNG SỐ TRUY CẬP: 699337

  • Facebook
  • Twitter
  • Instagram
  • Youtube
  • Telegram
Footer Logo

@2021 - All Right Reserved.


Back To Top
Dr Troi
  • Trang chủ
  • ĐỔNG THỊ KỲ HUYỆT
    • KHÁI QUÁT
    • HUYỆT VỊ
    • Bộ 11 (Ngón Tay)
    • Bộ 22 (Bàn Tay)
    • Bộ 33 (Cẳng Tay)
    • Bộ 44 (Cánh Tay)
    • Bộ 55 (Ngón Chân)
    • Bộ 66 (Mu Bàn Chân)
    • Bộ 77 (Cẳng Chân)
    • Bộ 88 (Đùi)
    • Bộ 99 (Tai)
    • Bộ 1010 (Đầu Mặt)
    • Bộ VT (Ngực)
    • Bộ DT (Lưng)
  • BÀI THUỐC ĐẶC HIỆU
  • PHƯƠNG HUYỆT KỲ DIỆU
  • ĐIỀU TRỊ
    • 1. Thần Kinh
    • 2. Ngũ Quan
    • 3. Hô Hấp
    • 4. Tim Mạch
    • 5. Tiêu Hóa
    • 6. Gan Mật
    • 7. Thận – Tiết Niệu
    • 8. Nội Tiết
    • 9. Cơ Xương khớp
    • 10. Da Liễu
    • 11. Ung Bướu
    • 12. Nhi Khoa
    • 13. Phụ Khoa
    • 14. Nam Khoa
    • 15. Lão Khoa
  • NỘI ĐAN HỌC
  • TẢN VĂN
  • ĐĂNG KÝ KHOÁ HỌC