Là Giáo sư đầu ngành chuyên điều trị Nhi khoa của Đại Học Trung Y Dược Sơn Tây, sinh năm 1941 tính ra đến nay Giáo sư Giả Lục Kim đã kinh qua hơn 60 năm lâm sàng. Đúc kết ra rất nhiều kinh nghiệm quý giá cho thế hệ hậu bối, bài trước mình đã chia sẻ 12 trị pháp chữa ho ở trẻ em. Hôm nay xin chia sẻ đến mọi người 6 vị thuốc kinh điển trong chữa ho mà Giả lão cho là: Lục Kiệt (6 vị hào kiệt)
Ma hoàng là vị thuốc có chức năng phát hãn, khai bế, bình suyễn, lợi thủy. Giả lão chuyên dùng Ma hoàn trong các bệnh về hô hấp, đặc biệt là chứng suyễn, bất kể mới hay cũ đều lấy Ma Hoàng làm quân, Hạnh Nhân vi sứ. Ma hoàng không hẳn là vị thuốc đặc trị cho biểu chứng, những bệnh ở lí muốn thông qua biểu rồi tán ra bên ngoài thì cũng có thể dùng được. Vì thế nên Giả lão thường dùng Sinh Ma Hoàng cho chứng khí dương bất túc đều thu lại hiệu quả phi thường. Do đó, Giả lão gọi Ma Hoàng là đứng đầu trong Lục Kiệt trị phế.
Hoàng Cầm: Thanh Phế Nhiệt
Hoàng cầm khổ hàn, thanh nhiệt, táo thấp, tả hỏa giải độc toàn thân, là vị thuốc quan trọng trong thanh phế nhiệt. Chính vị thuốc này cũng từng chữa phế nhiệt của danh y Lý Thời Trân. Sách Bút Hoa Y Kính cho rằng Hoàng cầm là Mãnh Tướng Thanh Phế, Giả lão đồng ý với quan điểm này và cho rằng đây là vị thuốc quan trọng nhất để thanh phế.
Thánh Y Trương Trọng Cảnh có 3 pháp dùng Hoàng cầm: phối với Sài Hồ thì thanh nhiệt ở khí phận, phối với Bạch thược thì tiết nhiệt ở huyết phận, phối với Hoàng liên thì thanh nhiệt trừ thấp.
Thế nên trong bệnh Ôn nhiệt và ho do phế nhiệt thì nhất định phải có Hoàng cầm. Hoàng cầm phối Cúc hoa thì thanh nhiệt thông khiếu trong ngạt mũi do phong nhiệt, phối Tạo Giác thì thanh nhiệt giải độc trong trường hợp phế nhiệt sinh ung nhọt
Hoàng Kỳ: Bổ Phế Khí
Hoàng kỳ có tác dụng bổ khí thăng dương, ích vệ cố biểu, bài độc sinh cơ. Giả lão sở trường dùng Hoàng kỳ điều trị những trường hợp trẻ em hay bị viêm đường hô hấp tái phát nhiều lần, ra mồ hôi, di niệu ở trẻ nhỏ. Là vị thuốc quan trọng nhất trong bổ phế khí.
Đình Lịch Tử: Tả Phế Thực
Đình Lịch Tử đại khổ đại hàn, phá tích tụ, trục tà, thông lợi thủy đạo. Trong trường hợp thủy khí tích lại thành khối gây cản trở đến chức năng giáng khí của phế, không có Đình Lịch Tử thì không phá được thủy khí. Trong điều trị Giả lão thiện dụng Đình Lịch Tử trong trường hợp khoang ngực tích dịch, suyễn, phù.
Cam Toại: Trục Phế Ẩm
Vị này có độc, tả thủy trục ẩm rất mạnh, khử thủy ở kinh lạc từ ngực đến bụng, dùng phải vô cùng cẩn thận. Không khuyến khích không có chuyên môn dùng bừa. Giả lão dùng vị này trong các trường hợp khó như phù toàn thân, động kinh. Phát triển tinh hoa từ Thương Hàn Luận, Giả lão dùng để chữa huyền ẩm hiệu quả mãn ý. Xứng đáng là đại tướng “Phá Thủy Ẩm”.
Tạo Giác: Tiêu Ngoan Đàm
Tất cả các loại đàm cũ mới, đều có tính chất đục, dính, khó trừ gât bít tắc cản trở đường thông khí của phổi. Với 60 năm kinh nghiệm, Giả lão vận dụng Tạo Giác đến xuất thần nhập hóa, dùng để chữa những ca đàm đặc đen lại như keo, gây suyễn mãn tính, hiệu như phù cổ. Tuy nhiên, vị này có độc nhẹ, trúng bệnh là dừng, không uống quá để tránh tổn thương khí huyết. Là đệ nhất yếu dược trị ngoan đàm.
_________________________
Trong ảnh là bé con 4 tuổi, tái phát mũi họng liên tục, hồ sơ của cháu xếp ở bệnh viện Tâm Anh cũng đến vài trăm tờ. Mãi vẫn không dứt điểm, mình không dùng kỳ hoa dị thảo, vỏn vẹn 8 thang thuốc, mỗi thang chưa đến 10 vị, dứt điểm bệnh tình.

Miền bắc đang vào mùa khí hậu độc, nửa nóng nửa lạnh, mọi người hết sức lưu ý tránh gió cho các cháu.
_________________________